NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH Môn học TÀI CHÍNH CÔNG TY ĐA QUỐC GIA ĐỀ TÀI ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NỀN KINH TẾ VIỆT NAM Giảng viên hướng dẫn ThS NGUYỄN THỊ NHƯ QUỲNH Sinh viên thực hiện Lớp TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2022 LỜI MỞ ĐẦU Tăng trưởng nhanh và bền vững luôn được quan tâm hàng đầu trong cuộc đua phát triển kinh tế hiện nay Đối với những nước đi sau như Việt Nam, nền kinh tế đi từ điểm xuất phát thấp, yêu cầu này đặt.
Trang 1NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH
Môn học: TÀI CHÍNH CÔNG TY ĐA QUỐC GIA
ĐỀ TÀI: ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn: ThS NGUYỄN THỊ NHƯ QUỲNH
Sinh viên thực hiện:
Lớp:
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2022
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Tăng trưởng nhanh và bền vững luôn được quan tâm hàng đầu trong cuộc đua phát triển kinh tế hiện nay Đối với những nước đi sau như Việt Nam, nền kinh tế đi từ điểm xuất phát thấp, yêu cầu này đặt ra như một đòi hỏi sống còn Đối mặt với những diễn biến phức tạp của thế giới, Việt Nam cũng có những cải cách kinh tế quan trọng Một trong số đó là chính sách mở cửa thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Việt Nam đã không ngừng cải thiện môi thiện môi trường đầu tư trong nước và những nỗ lực đó đã mang lại những kết quả đáng khích lệ Nhiều dự án đầu tư đã đi vào hoạt động và mang lại những hiệu quả thiết thực như hình thành một số ngành công nghiệp mới như lắp ráp và sửa chữa ô tô, hình thành các khu công nghiệp,… Song song đó các nhà đầu tư nước ngoài ngày càng tin tưởng hơn vào hiệu quả các dự án đầu tư của họ tại Việt Nam
Hiện nay, có nhiều bài viết nghiên cứu, tìm hiểu về sự ảnh hưởng của FDI đến sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích mà đầu tư trực tiếp nước ngoài mang lại thì nó cũng gây nhiều vấn đề trong quá trình quản lý nền kinh tế Để hiểu rõ hơn về vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài trong sự phát triển của nền kinh tế nhóm quyết định chọn đề
tài: “Ảnh hưởng của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam”.
Trang 3TÓM TẮT
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có tác động tích cực tới sự phát triển kinh tế Việt Nam Bài nghiên cứu đánh giá những ảnh hưởng của FDI tới sự tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2009 – 2018 Mô hình OLS được dùng để đánh giá ảnh hưởng giữa FDI và GDP Kết quả cho thấy FDI có tác động tích cực tới tăng trưởng GDP, kết quả cũng đưa ra một số gợi ý
về chính sách để thu hút nguồn FDI chất lượng hơn để từ đó thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển
Trang 41 Vai trò của FDI đối với sự phát
triển kinh tế của Việt Nam
Không thể phủ nhận vai trò của
FDI trong thời gian vừa qua đối với
nền kinh tế Việt Nam Từ một đất
nước bị bao vây cấm vận, kinh tế
khó khăn, Việt Nam đã mở cửa hội
nhập với kinh tế thế giới và dần
khẳng định được vị thế của mình trên
thị trường quốc tế, trong đó FDI như
một chìa khóa dẫn đến sự phát triển
của nền kinh tế Theo số liệu Tổng
cục thống kê, trong giai đoạn từ 2009
– 2018, chúng ta đã thu hút được
132,946 triệu USD vốn thực hiện
nhưng dòng vốn này không tăng
đồng đều mà có sự biến động trong
từng giai đoạn Giai đoạn 1988 –
1996, thời kỳ mới mở cửa Việt Nam
là một thị trường mới đầy tiềm năng
hấp dẫn các nhà đầu tư nên dòng vốn
FDI chảy vào Việt Nam khá mạnh
mẽ Đặc biệt giai đoạn 2009 – 2018
là thời kỳ gia tăng mạnh mẽ của FDI
và đỉnh cao là năm 2018, đạt 19,100
triệu USD
Khu vực FDI đã tạo ra một
nguồn vốn vô cùng quan trọng cho
đầu tư đóng góp một phần không nhỏ
trong thành tựu phát triển nền kinh tế đất nước như: tạo công ăn việc làm cho người lao động, kích thích khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp cùng ngành, cải thiện trình độ công nghệ trong nước,… Ngoài những mặt tích cực thì FDI cũng nảy sinh nhiều vấn đề như: hạn chế về chính sách, trình độ lao động, môi trường… Vậy đây có phải là thời kỳ chúng ta cần phải thu hút FDI bằng mọi giá để đẩy số lượng FDI lên hay đây sẽ thời kỳ chúng ta cần chọn lọc
để nâng chất lượng dòng vốn FDI? Đây chính là thời kỳ chúng ta cần tập trung vào chất lượng dòng vốn FDI bởi vì thu hút FDI quá nhiều mà không hiệu quả có thể dẫn đến các bất ổn về kinh tế xã hội, quá tải về cơ
sở hạ tầng kinh tế - xã hội và đồng thời quỹ đất cho các dự án phi nông nghiệp của chúng ta đang hẹp dần
Do đó chúng ta phải sử dụng vốn đầu
tư hiệu quả để hạn chế các tiêu cực thay vì huy động thật nhiều vốn đầu tư
Vậy làm cách nào để chúng ta
có thể thu hút được dòng FDI chất lượng? Nếu như trước đây chúng ta
Trang 5quan tâm nhiều đến các nhà đầu tư
nhỏ và vừa thì nay chúng ta nên tập
trung thu hút được các tập đoàn đa
quốc gia Tất nhiên, đó không phải là
cách duy nhất để Việt Nam có được
dòng vốn FDI chất lượng mà chúng
ta có thể thu hút song song với các
nguồn vốn khác nhưng có chọn lọc
như: thu hút FDI của các doanh
nghiệp vừa và nhỏ vào công nghiệp
phụ trợ, ưu tiên FDI từ các quốc gia
có nền công nghệ phát triển, các tập
đoàn đa quốc gia hàng đầu thế giới
của các nước OECD, có phương thức
thích hợp để thu hút vốn đầu tư từ
các nền kinh tế mới nổi như: Trung
Quốc, Ấn Độ, Nga, Brazil… Việc
thu hút được các tập đoàn đa quốc
gia vào Việt Nam sẽ là một lợi thế
vô cùng lớn cho chúng ta Bởi vì họ
sẽ mang tới cho chúng ta một công
nghệ nguồn, công nghệ cao, thân
thiện với môi trường, môi trường
quản lý tốt, các sản phẩm có năng
lực cạnh tranh, cơ hội tham gia chuỗi
giá trị toàn cầu, lao động quốc tế,…
Và tất nhiên họ cũng kéo theo nhiều
nhà đầu tư vệ tinh có thể giúp công
nghiệp phụ trợ của Việt Nam phát
triển Thực tế cho thấy các tập đoàn
đa quốc gia đã đầu vào Việt Nam mang đến nhiều lợi ích kinh tế mà chúng ta không thể phủ nhận như tập đoàn: Sam Sung, Intel, Unilever… Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để lôi kéo được họ tới Việt Nam và đầu
tư tại đất nước chúng ta? Ngoài các
cơ chế về ưu đãi đầu tư, hệ thống chính sách đầu tư, ưu đãi tài chính với quy định công khai, minh bạch
và ổn định thì chúng ta mới đủ sức hấp dẫn các tập đoàn đa quốc gia Bên cạnh đó chúng ta phải có lộ trình, chiến lược xúc tiến quốc gia một cách bài bản và cho họ thấy được rằng đầu tư vào đây là an toàn, hiệu quả và chúng ta thật sự có thiện chí trải thảm đỏ mời họ vào Hy vọng với nỗ lực thu hút của mình thời gian tới chúng ta sẽ đón thêm được nhiều tập đoàn đa quốc gia, các nhà đầu tư lớn có tầm cỡ để nâng cao chất lượng dòng FDI
2 Đánh giá tình hình thu hút FDI của Việt Nam giai đoạn 2009 – 2018 2.1 Đánh giá chung
Nghiên cứu trong thời gian trước đây cho thấy, việc thu hút vốn FDI Việt Nam thời gian qua đã mang
Trang 6lại nhiều kết quả quan trọng Tổng số
dự án FDI đăng ký mới, bổ sung
thêm vốn và các lượt góp vốn tăng
nhanh qua các năm, cả về số lượng
lẫn giá trị Kết quả này có được là do
Việt Nam đã quyết liệt thực hiện các
cơ chế, chính sách mở cửa thu hút
FDI trong hơn 30 năm vừa qua Môi
trường kinh tế tăng trưởng nổi bật,
với tốc độ tăng bình quân hàng năm
đạt 6% - 7%, môi trường chính trị ổn
định cũng là điều kiện thuận lợi để
thu hút các doanh nghiệp FDI đầu tư
vào Việt Nam
FDI vào Việt Nam tăng lên
nhanh chóng sau khi có Luật đầu tư
nước ngoài tại Việt Nam Việt Nam
có nhiều tiềm năng để thu hút FDI về
điều kiện tự nhiên, nguồn lực, thị
trường, chính sách kể cả tài sản chiến
lược Năm 2009, số vốn FDI thực
hiện của Việt Nam đạt mức kỷ lục
10,000 triệu USD Đây là thời điểm
Việt Nam trở thành thành viên đầy
đủ của WTO
Lĩnh vực tham gia đầu tư của
các doanh nghiệp FDI hiện nay khá
đa dạng, có đến 19/21 lĩnh vực kinh
tế của Việt Nam có sự tham gia của
nhà đầu tư nước ngoài, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tỷ trọng cao nhất 175,57 tỷ USD, chiếm 59,3% tổng vốn đầu tư, tiếp theo là kinh doanh bất động sản 52,58 tỷ USD (chiếm 17,48% tổng vốn đầu tư), sản xuất, phân phối điện, khí nước với 12,9 tỷ USD (chiếm 4,29% tổng vốn đầu tư) Có 125 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam, đứng đầu là Hàn Quốc với tổng vốn đăng ký 54,000 triệu USD (chiếm 17,9% tổng vốn đầu tư) Nhật Bản đứng thứ hai với 42,490 triệu USD (chiếm 14,1% tổng vốn đầu tư), tiếp theo lần lượt là Singapore và Đài Loan, British Virgin Island, Hồng Kông FDI được đầu tư vào tất cả 63 tỉnh, thành phố, trong đó thành phố
Hồ Chí Minh dẫn đầu với 45,66 tỷ USD (chiếm 15,1% tổng vốn đầu tư), tiếp theo là Bình Dương với 28,200 triệu USD (chiếm 9,4% tổng vốn đầu tư), Bà Rịa – Vũng Tàu với 27,200 triệu USD (chiếm 9% tổng vốn đầu tư), Hà Nội với 26,000 triệu USD (chiếm 8,6% tổng vốn đầu tư) Điều này cũng cho thấy sự quan tâm đẩy mạnh, thu hút vốn để phát triển nền kinh tế đa ngành của Nhà nước
Trang 7Năm FDI
Theo số liệu của Tổng cụ thống
kê, từ năm 2009 đến 2018, Việt Nam
thu hút được tổng 132,946 triệu USD vốn thực hiện, nguồn vốn FDI qua các năm có xu hướng tăng, cụ thể: Năm 2018 FDI đã tăng 9,100 triệu USD, tỷ lệ tăng khoảng 91% so với năm 2009, tăng gần như gấp đôi Và đặc biệt, năm 2018, FDI có xu hướng tăng mạnh vào năm 2018, năm 2018
đạ 19,100 triệu USD, chiếm 14,36% trong tổng số nguồn vốn FDI từ năm
2009 đến 2018
-
5,000
10,000
15,000
20,000
25,000
BIỂU ĐỒ 1: TÌNH HÌNH FDI ĐẦU TƯ VÀO VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2009 – 2018
FDI
Căn cứ vào tình hình thực hiện của
FDI trong khoảng 30 năm có thể thấy trong
các năm 2017 và 2018 FDI có xu hướng
tăng lên và theo dự đoán của tác giả, FDI
thực hiện năm 2017 vào khoảng 17,500
USD và năm 2018 là 19,100 triệu USD Tốc
độ tăng GDP của Việt Nam năm 2017 có
thể đạt con số 6.7% mặc dù theo dự báo của
Ngân hàng thế giới WB, tốc độ này có thể
chỉ đạt 6.3% và Việt Nam đang có giải pháp
xuất khẩu 2 triệu tấn dầu thô và 1 triệu tấn than để đạt được con số 6,7% có thể gặp khó khăn do giá nguyên liệu thô trên thị trường thế giới giảm và đi ngược với mô hình tăng trưởng theo chiều sâu Vẫn có ý kiến cho rằng khả năng Việt Nam đạt 6.7%
là khả thi nếu có quyết tâm cao, khai thác được tác động khởi nghiệp, kinh tế tư nhân, giải ngân FDI cam kết và tác giả cũng đồng
ý theo cách tiếp cận này Năm 2018, với
Trang 8việc mở cửa thị trường theo cam kết WTO
cũng như các cam kết quốc tế khác, động
lực tăng trưởng của Việt Nam do mở rộng
thị trường tăng lên nên Việt Nam có thể đạt
mục tiêu tăng trưởng 7%
2.2 Tác động của FDI đến phát triển
kinh tế - xã hội:
Bổ sung nguồn vốn giúp đầu tư phát triển:
Cơ cấu nguồn vốn đầu tư 10 năm gần đây
tiếp tục dịch chuyển theo hướng tăng tỷ
trọng của khu vực tư nhân - dân cư trong nước và giảm tỷ trọng đầu tư từ khu vực nhà nước (biểu đồ 2) Theo đó, khu vực nhà nước giảm mạnh tỷ trọng đầu tư tới 7,2%,
từ 40,5% năm 2009 xuống còn 33,3% năm
2018 Tuy nhiên, tỷ trọng của khu vực FDI trong tổng đầu tư cơ bản giữ ổn định ở mức trung bình 23,5% trong cả giai đoạn 2009
-2018 và khẳng định vai trò quan trọng đối với đầu tư phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam
0.0%
20.0%
40.0%
60.0%
80.0%
100.0%
120.0%
BIỂU ĐÔ 2: TỶ TRỌNG VỐN ĐẦU TƯ THEO KHU VỰC KINH TẾ (%)
Khu vự c có vốn đầu tư nước ngoài
Góp phần tăng trưởng GDP và nguồn thu
ngân sách nhà nước (NSNN):
Nguồn vốn FDI đóng vai trò như là động
lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
của Việt Nam Mức đóng góp của khu vực
FDI trong GDP của cả nước tăng từ 9,3%
năm 1995 lên 16,9% năm 2008 và 19,6%
năm 2017 Tỷ trọng thu NSNN từ khu vực FDI cũng gia tăng đáng kể, từ 1,8 tỷ USD trong giai đoạn 1994 - 2000 lên 23,7 tỷ USD trong giai đoạn 2011 - 2015, chiếm gần 14% tổng thu NSNN Riêng năm 2017, khu vực FDI đã đóng góp vào NSNN hơn 8
tỷ USD, chiếm 17,1% tổng thu NSNN
Trang 9Ảnh hưởng tới cơ cấu kinh tế:
Trong điều kiện nền kinh tế mở, các quan
hệ kinh tế quốc tế tạo ra động lực và điều
kiện cho sự dịch chuyển nhanh cơ cấu kinh
tế của các quốc gia Trong đó đầu tư nước
ngoài là một động lực mạnh mẽ, có ý nghĩa
lớn đến sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế
Đóng góp mở rộng quy mô, gia tăng tỷ
trọng xuất khẩu và mở rộng thị trường xuất
khẩu:
Việt Nam đang đi theo con đường hiện đại
hóa hướng ngoại, coi trọng xuất nhập khẩu
hàng hóa, dịch vụ, mở cửa thị trường với lộ
trình thích hợp để hội nhập có hiệu quả với
nền kinh tế khu vực và thế giới Từ đó tăng
cường đầu tư nước ngoài hướng đến xuất
khẩu tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp
cận và mở rộng thị trường trong nước, thúc
đẩy các hoạt động dịch vụ phát triển mạnh,
tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong
nước tham gia xuất khẩu tại chỗ hoặc tiếp
cận thị trường quốc tế Hiện nay tiềm năng
thu hút FDI trong lĩnh vực sản xuất hàng
công nghiệp chế tạo cho xuất khẩu còn rất
lớn như lĩnh vực công nghệ điện tử, thông
tin
Hiện nay Việt Nam đang chú trọng thu hút
FDI, nhưng nhìn chung, việc thu hút chỉ
dừng ở đầu tư lĩnh vực công nghiệp lắp ráp
có quy mô nhỏ, nguyên nhân chủ yếu là do thể chế và phương thức thực hiện chưa đáp ứng yêu cầu hiện nay
Tạo tác động lan tỏa công nghệ:
Nguồn vốn FDI đã tạo ra tác động lan tỏa công nghệ, góp phần nâng cao trình độ công nghệ thông qua chuyển giao công nghệ (CGCN) và chuyển giao kỹ năng quản lý cho người Việt Nam, tạo sức ép cạnh tranh, đổi mới công nghệ đối với các doanh nghiệp trong nước Một số nghiên cứu thực nghiệm (Carol và cộng sự, 2015; Nguyễn Thị Tuệ Anh và cộng sự, 2015; Trịnh Minh Tâm, 2016; Phạm Thế Anh, 2018) cho thấy,
sự hiện diện của các doanh nghiệp FDI có tác động lan tỏa tích cực đến thúc đẩy đổi mới, CGCN đã giúp cải thiện năng suất của doanh nghiệp trong nước Nhìn chung, Việt Nam đã nhận được tác động tích cực từ FDI, song mức độ tác động tích cực còn thấp, chủ yếu do khả năng cạnh tranh, học hỏi, nhất là liên kết sản xuất, tham gia vào chuỗi cung ứng của doanh nghiệp trong nước còn yếu Đây cũng là nguyên nhân cơ bản hạn chế tác động lan tỏa từ FDI Thực
tế cho thấy, các dự án FDI chủ yếu tập trung vào lắp ráp, gia công, tỷ lệ nội địa hoá thấp, giá trị tạo ra tại Việt Nam không cao FDI
Trang 10chưa tạo được mối liên kết chặt chẽ với
doanh nghiệp Việt Nam để cùng tham gia
chuỗi giá trị, chưa thúc đẩy được công
nghiệp hỗ trợ Việt Nam phát triển, hoạt
động CGCN và kinh nghiệm quản lý chưa
đạt như kỳ vọng
3 Các nhân tố ảnh hưởng đến FDI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt
nam sẽ chịu sự chi phối của ba yếu tố cơ
bản Đó là: xu hướng đầu tư của các công ty
xuyên quốc gia trên thế giới, mức độ cải
thiện mối quan hệ chính trị - ngoại giao với
các nước, đặc biệt là mối quan hệ Việt –
Mỹ, khả năng cải thiện môi trường đầu tư
trong nước bao gồm môi trường kinh tế,
pháp lý và xã hội
3.1 Xu hướng đầu tư trực tiếp trên
thế giới
Qua các nghiên cứu về đầu tư trực tiếp
trên thế giới cho thấy vốn FDI đã tăng mạnh
qua các thập kỷ Nếu trong những năm 70,
lượng vốn đầu tư trực tiếp trên toàn thế giới
bình quân hằng năm là 25,000 triệu USD,
thì con số này đã tăng lên với lượng vốn là
50,000 triệu USD trong thời kỳ 1980
-1985, trong thời kỳ 1986 - 1989 thì con số
này đã tăng lên trung bình là 141,000 triệu
USD Trong thập kỷ 90 thì số lượng vốn
đầu tư nước ngoài trung bình là 14,780 triệu USD Qua đó cho thấy đầu tư trực tiếp nước ngoài nó là kết quả trực tiếp của sự bành trướng trong đời sống kinh tế quốc tế Tuy nhiên phần lớn lượng vốn đầu tư trực tiếp được thực hiện ở các nước phát triển , các nước đang phát triển không những chỉ chiếm một tỉ trọng nhỏ trong tổng vốn FDI trên toàn thế giới mà tỷ trọng này còn liên tục giảm xuống
Xu hướng gia tăng đầu tư trực tiếp nước ngoài trên thế giới là yêu cầu tất yếu của quá trình quốc tế hóa đời sống kinh tế đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ Xu hướng này mang tính chất lâu dài, cho dù một số năm cụ thể , lượng vốn FDI có thể giảm xuống do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế, nhất là cuộc khủng hoảng tiền tệ 1997, tốc
độ tăng trưởng thương mại quốc tế thế giưới giảm xuống 4.2% so với 6.9% trong thời kỳ
1990 1996, đã dẫn đến sự sụt giảm của các luồng FDI trong thời gian này) Mặc dù tổng lượng vốn FDI trên toàn thế giới là rất lớn nhưng đa phần là đầu tư lẫn nhau giữa các nước phát triển Trong số các nước đang phát triển, đầu tư trực tiếp nước ngoài chỉ tập trung vào một số nước như: Khu vực Châu Á Thái BÌnh Dương, ASEAN, Trung Quốc, các nước NICS,…