TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG XÃ HỘI (CSII) KHOA CÔNG TÁC XÃ HỘI BÀI TIỂU LUẬN MÔN TÂM LÝ HỌC LAO ĐỘNG Chủ đề THỰC TRẠNG VỀ TRẠNG THÁI TÂM LÍ CỦA CÔNG NHÂN LÀM VIỆC TRONG DOANH NGHIỆP BỊ ẢNH HƯỞNG DO ĐẠI DỊ[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI (CSII)
KHOA CÔNG TÁC XÃ HỘI
BÀI TIỂU LUẬN MÔN TÂM LÝ HỌC LAO ĐỘNG
Chủ đề THỰC TRẠNG VỀ TRẠNG THÁI TÂM LÍ CỦA CÔNG NHÂN LÀM VIỆC TRONG DOANH NGHIỆP BỊ ẢNH HƯỞNG DO ĐẠI
DỊCH COVID 19 VÀ GIẢI PHÁP
Họ tên sinh viên: ĐỖ THỊ HỒNG PHẤN Lớp: Đ19NL4
Giảng viên hướng dẫn: Th.S NGUYỄN THỊ THOA
Trang 2
Điểm số Điểm chữ Chữ ký CBCT 1 Chữ ký CBCT 2
Thang điểm:
- Hình thức trình bày (tối đa 1.5 điểm):………
- Mở đầu; kết luận (tối đa 1.5 điểm): ………
- Nội dung (tối đa 7.0 điểm)………
Tổng điểm:………
Trang 3MỤC LỤC
I.Đặt vấn đề 1
II Nội dung 2
1 Khái quát một số trạng thái tâm lí nảy sinh trong lao động 2
1.1 Trạng thái chú ý trong lao động 2
1.2 Tâm thế lao động 2
1.3 Sự căng thẳng trong lao động 3
1.4 Sự đơn điệu trong lao động 4
1.5 Sự mệt mỏi trong lao động 5
2 Thực trạng một số trạng thái tâm lí của công nhân trong đại dịch 6
2.1 Trạng thái tâm lí kì thị 6
2.2 Các triệu chứng trong đại dịch 7
2.3 Trạng thái tâm lí lo ngại dịch bệnh của người lao động 8
2.4 Trạng thái tâm lí lo âu 9
3 Đề xuất những giải pháp về trạng thái tâm lí của công nhân trong đại dịch covid 19 9
3.1 Tăng tốc tiêm vacxn cho người lao động 10
3.2 Chính sách ưu đãi cho người lao động bị mất việc do ảnh hưởng của dịch covid 19 10
3.3 Giải pháp ngắn hạn 10
III Kết luận 12 Tài liệu tham khảo
Trang 4I.ĐẶT VẤN ĐỀ
Tâm lý học lao động ra đời và phát triển như là một nhu cầu khách quan của thực tiễn cuộc sống Tâm lý học lao động cung cấp những tri thức về tâm lý con người trong hoạt động lao động, những mối quan hệ giữa con người với nghề nghiệp, với môi trường lao động và giữa con người với con người Để nhằm tìm được con đường thích ứng tốt nhất giữa con người và hoạt động lao động, cũng như giúp người lãnh đạo có phương pháp quản
lý tốt tập thể lao động do mình phụ trách Trên cơ sở những kiến thức Tâm lý học đã lĩnh hội được, người quản lý có kỹ năng và phương pháp tác động tới các thành viên trong tập thể để tạo ra không khi làm việc vui tươi, đoàn kết, hiệu quả, qua đó người quản lý từng bước hoàn thiện nhân cách của mình, nâng cao uy tín, tạo lập niềm tin ở quần chúng và mục đích cuối cùng là hướng vào tăng năng suất lao động, tạo cơ hội để mọi người cùng phát triển
Một trong những thực trạng nan giải trong xã hội hiện nay là vấn đề tâm lí của công nhân làm việc trong doanh nghiệp do bị ảnh hưởng của đại dịch covid 19 Đã làm cho công nhân có nhiều suy nghĩ tâm lí lo sợ lo âu về dịch bệnh cứ kéo dài ảnh hưởng đến sức khỏe, mưu sinh tâm lí lúc nào cũng buồn rầu lo Vấn đề này trong thế giới cũng đang rất căng thẳng vì đại dịch covid 19 Vậy chúng ta cần nhìn nhận vấn đề này như thế nào? Việc dịch covid ảnh hưởng đến cuộc sống của mỗi người dẫn đến các vấn đề về tâm lí của những người lao động như thế nào? Câu trả lời không còn là vấn đề riêng của các nhà chức trách
mà đang trở thành một vấn đề rất nóng hổi của toàn xã hội
Từ tình hình thực tế và thực trạng tâm lí của công nhân làm việc trong doanh nghiệp
bị ảnh hưởng do đại dịch covid 19 Trên cơ sở những suy nghĩ của bản thân kết hợp với quá trình học tập, em xin đóng góp một số ý kiến của mình cũng như đưa ra cách nhìn đúng
đắn và toàn diện hơn về vấn đề này thông qua bài tiểu luận kết thúc học phần môn Tâm lí
học lao động
Trang 5II NỘI DUNG
1 KHÁI QUÁT MỘT SỐ TRẠNG THÁI TÂM LÍ NẢY SINH TRONG LAO ĐỘNG 1.1 Trạng thái chú ý trong lao động
Chú ý là trạng thái tâm lý cá nhân biểu hiện ở sự tập trung của ý thức vào một hay một nhóm sự vật hiện tượng để định hướng hoạt động, bảo đảm điều kiện thần kinh - tâm lý cần thiết cho hoạt động tiến hành có hiệu quả
Chú ý không có đối tượng riêng, nó là trạng thái tâm lý đi kèm các hiện tượng tâm lý khác
Ta thường nói chăm chú lắng nghe, tập trung suy nghĩ, chú ý quan sát Chú ý được coi như cái phông (nền) là điều kiện của hoạt động có ý thức Chú ý có quan hệ chặt chẽ với ý chí Các Mác đã từng chỉ rõ Ngoài căng thẳng của các giác quan đang làm việc thì trong suốt thời gian lao động cần phải có một ý chí hướng vào mục đích thể hiện trong sự chú ý tới nội dung và phương thức thực hiện nó lao động càng ít lôi cuốn người lao động bao nhiêu, tính phức tạp của công việc càng cao bao nhiêu thì sự tập trung chú ý càng trở nên cần thiết bấy nhiêu
1.2 Tâm thế lao động
Tâm thế lao động là trạng thái tâm lý sẵn sàng chờ đón sẵn sàng đi vào hoạt động lao động,
để có thể phát huy đầy đủ sức mạnh, ngay tức khắc vào việc giải quyết các nhiệm vụ, yêu cầu đặt ra trong những điều kiện cụ thể
Xét về thời gian, người ta đề cập tới hai giai đoạn tâm thế lao động:
Tâm thế lao động thể hiện ở sự chuẩn bị chung hay chuẩn bị trước về tinh thần tâm lý cho người lao động sẵn sàng tham gia lao động Cung cấp cho người lao động những kiến thức chung, cần thiết, những kỹ năng, kỹ xảo lao động cơ bản, tinh thần hợp tác, lao động đoàn kết, khả năng giao tiếp và làm việc nhóm, chuẩn bị những phẩm chất ý chí c quan trọng để
có khả năng vượt qua được những khó khăn, trở ngại có thể gặp phải trong quá trình lao động
Trang 6Tâm thế lao động thể hiện ở trạng thái chuẩn bị tức thời, chuẩn bị trực tiếp, chuẩn bị ngay lập tức Trạng thái này xuất hiện rất nhanh, có tính chất tình huống khi cá nhân gặp sự cố, bất trắc, những khó khăn, trở ngại trong lao động, đòi hỏi họ phải ngay lập tức huy động những tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo đã có để khắc phục sự cố, thể hiện ở sự năng động, sáng tạo và tính tích cực, tính quyết đoán của người lao động
Tạo tâm thế lao động là tiền đề để có thể điều khiển các trạng thái tâm lý của người lao động Việc điều khiển trạng thái tâm lý của người lao động và của tập thể lao động là một trong những vấn đề trung tâm của công tác lãnh đạo, quản lý con người trong lao động, sản xuất Đó là việc giữ vững trạng thái tâm lý tích cực có liên quan và khắc phục hàng loạt các trạng thái tâm lý tiêu cực xuất hiện ở các giai đoạn hoạt động lao động khác nhau Trước khi nhận nhiệm vụ mới nếu được chuẩn bị tốt tâmthế, làm tốt công tác tư tưởng sẽ tạo được lòng tin, sự chủ động Trước khi nhận nhiệm vụ mới, nếu được chuẩn bị tốt tâm chuẩn bị, đón nhận công việc vui vẻ
1.3 Sự căng thẳng trong lao động
Căng thẳng tâm lý là trạng thái tâm lý của người lao động xuất hiện dưới ảnh hưởng của các yếu tố môi trường lao động, tuỳ thuộc vào mức độ căng thẳng mà nó có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực tới hiệu quả của người lao động
Căn cứ vào mức độ căng thẳng, người ta phân chia trạng thái căng thẳng tâm lý ra làm ba loại:
- Căng thẳng ở mức độ ôn hoà (mức độ cho phép): Đây là trạng thái tâm lý bình thường nảy sinh khi người lao động bắt tay vào việc thực hiện một nhiệm vụ nào đó của hoạt động lao động, thể hiện ở sự huy động "sức" để làm việc như: Sự căng cơ bắp khi chạy nhảy, sự tập trung quan sát khi điều khiển xe, căng mắt để đọc sách, lắng tai để nghe cho rõ Đây
là trạng thái tâm lý tích cực, là điều kiện cần thiết để thực hiện hoạt động lao động
Trạng thái căng thẳng ôn hoà xuất hiện khi người lao động làm việc trong điều kiện bình thường như: lao động có giờ nghỉ phù hợp, môi trường làm việc vệ sinh sạch sẽ, tốc độ làm việc trung bình, công việc phù hợp với khả năng, không có yếu tố nguy hiểm, máy móc
Trang 7thiết bị vận hành tốt ở trạng thái này người lao động có khả năng làm việc cao và ổn định,
ít mắc lỗi, hiệu quả lao động tốt
Căn thẳng ở mức cực trị (trạng thái căng thẳng quá ngưỡng - stress): đây là trạng thái tâm
lý tiêu cực nảy sinh khi người lao động phải làm việc trong điều kiện có nhiều yếu tì bất lợi như: Lao động liên tục không có giờ nghỉ giải lao, công việc quá phức tạp, hệ trọng, lao động có nhiều yếu tố rủi v nguy hiểm Trong trạng thái này, người lao động có khả năng
ứng tâm sinh lý của cơ thể trước những tình huống căng thẳng quá ngưỡng
- Trạng thái trầm uất, đình trệ: Là trạng thái tâm lí tiêu cực nảy sinh do sự tích tụ những căng thẳng quá ngưỡng, hoặc người lao động gặp những bất hạnh quá lớn trong cuộc sống thất bại trong việc đạt mục tiêu đã định, mất lòng tin vào cuộc sống trạng thái này, người lao động dường như trở nên thờ ơ, không quan tâm tới công việc, mất hứng thú với mọi thứ, kể cả những công việc mà trước kia họ rất đam mê, yêu thích, có thái độ bất mãn, hay
bỏ dở chừng công việc không rõ lí do, mặc cho “công việc muốn đến đâu cũng được”; có những biểu hiện bệnh lí: suy sụp tinh thần, rối loạn cảm xúc, sức khỏe giảm sút nhanh chóng, đôi khi nảy sinh những ý định tiêu cực như tự sát
1.4 Sự đơn điệu trong lao động
Đơn điệu là trạng thái tâm lý chủ quan làm giảm tính tích cực tâm lý của người lao động Trạng thái này xuất hiện khi người lao động phải thực hiện một loại thao tác ngắn hạn, đơn giản, thường xuyên lặp đi lặp lại một cách đều đều mà không đòi hỏi sự cố gắng nào của người lao động
Hiện nay vẫn chưa có ý kiến thống nhất về tiêu chuẩn đánh giá mức độ đơn điệu, nhưng theo quan điểm của các nhà nghiên cứu tâm lý học lao động Liên Xô thì có thể đánh giá mức độ đơn điệu dựa vào hai yếu tố:
Một là, thời gian thực hiện thao tác lao động, với thời gian thực hiện thao tác lao động mà ngắn hơn 30 giây thì những chuyển biến của các chức năng tâm sinh lý vượt hơn mức bình
Trang 8thường, có gây sự đơn điệu, còn thao tác có thời gian thực hiện từ 30 giây trở lên sẽ gây nên sự thỏa mãn
Hai là, số lượng thành phần của thao tác, những thao tác lao động dưới năm thành phần thì
sẽ gây nên sự đơn điệu thao tác lao động từ năm thành phần trở lên sẽ gây sự thỏa mãn Do vậy, cần phải tính đến sự kết hợp cả hai yếu tố này khi tiến hành hoạt động lao động
Cơ chế tác động của tính đơn điệu trong lao động là tác động gây ức chế của các kích thích được lặp lại đều đều, tác động này càng mạnh thì khu vực vỏ não được kích thích càng bị miới hạn hẹp lại Đây là một quy luật thần kinh cấp cao (chuyển tử hưng phấn sang ức chế)
có tác động giống nhau ở mọi người công nhân khi cùng làm việc bằng các thao tác ngắn, lặp đi lặp lại đều đều
Đơn điệu thể hiện ở chỗ, làm mất hứng thú đối với công việc, gây nên sự đánh giá quá mức
về độ dài của thời gian làm việc, người lao động cảm thấy thời gian làm việc dường như dài hơn hạ thấy thông đại đến hất ra sản xuất được vì buồn ngủ
Có thể quan sát thấy, khi trạng thái đơn điệu xuất hiện, người lao động rất dễ phân tán chú
ý, vì thực chất việc thực hiện loại thao tác đơn giản lặp lại có tính quy luật, không cần để mắt tới họ vẫn có thể làm được Họ cũng không phải mệt óc để tính toán, suy nghĩ nên làm như thế nào, do vậy có thể sẽ làm cho khả năng tư duy sáng tạo bị giảm sút trong chừng mực nào đó
Cảm giác không thỏa mãn công việc lấn chiếm và khả năng làm việc luôn dao động lúc cao, lúc thấp, tuy nhiên về tổng thể thì khả năng làm việc thấp, tỉ lệ người lao động muốn chuyển công việc cao, đặc biệt là nam giới và người trẻ tuổi
1.5 Sự mệt mỏi trong lao động
Mệt mỏi là trạng thái tâm lý của người lao động xuất hiện khi có thể bị cạn chất dinh dưỡng, hay thần kinh bị kích thích gây nên những cảm giác mệt nhọc, khó chịu, khi cá nhân phải thực hiện một công việc nào đó kéo dài với cường độ lớn mà không có sự nghỉ ngơi hợp
lý dẫn đến kém năng suất, chất lượng lao động
Trang 9Mệt mỏi là hiện tượng rối loạn trong tổ chức hoạt động, kết quả của sự cố gắng làm việc quá sức dẫn tới sự thay đổi chức năng trên mọi bình diện của cơ thể: sinh lý, sinh hóa, tâm lý,…
Mệt mỏi được biểu hiện ở suy giảm khả năng làm việc, dẫn đến giảm năng suất lao động:
ở những biến đổi về sinh lý (trong hoạt động của cơ bắp, của các giác quan, cũng như hoạt động của thần kinh trung ương) và sự biến đổi về sinh hóa (sự trao đổi chất, tuần hoàn máu, nhu cầu về muối, nước, oxy ) cũng như những biến đổi về tâm lý (không tập trung chú ý, hay mắc lỗi, tư duy không sáng tạo, ý chí giảm sút ) Trong một vài trường hợp, người lao động do quá say mê, yêu thích công việc mà họ có thể “lãng quên” sự xuất hiện mệt mỏi, tuy nhiên thực chất thì họ đã thấm mệt
2 THỰC TRẠNG MỘT SỐ TRẠNG THÁI TÂM LÍ CỦA CÔNG NHÂN TRONG ĐẠI DỊCH
2.1 Trạng thái tâm lí kì thị
Tổ chức Y tế Thế giới WHO (World Health Organization) đã đưa ra lời khuyến cáo và cảnh báo về những vấn đề sức khỏe tâm thần – tâm lý từ tháng 3/2020 Điều đầu tiên được nhắc đến là sự kỳ thị Kế đến là sự sợ hãi và ám ảnh, dẫn đến những niềm tin không phù hợp với khoa học và những đồn đoán sai sự thật
Tác động của văn hóa đến sức khỏe đã được chấp nhận Những niềm tin có thể làm cải thiện những cảm nhận bất lợi về bệnh Những giả dược có thể cải thiện triệu chứng Những quan điểm và ám ảnh của mỗi gia đình về vấn đề sức khỏe truyền đến mỗi thành viên và
có thể nhanh chóng lan tràn dựa vào ma trận của mối quan hệ xã hội, cũng như truyền thông không chính thống (facebook, zalo, …) Đây là điều mà các nhà quản lý về chăm sóc sức khỏe cần quan tâm trong các đợt bùng phát dịch bệnh Các niềm tin xã hội và gia đình liên quan đến những cách giải thích về bệnh và dịch bệnh có thể làm tác động không nhỏ đến chiến lược giải quyết dịch bệnh Đã từng xảy ra nhiều vấn đề liên quan đến điều này như: các vấn đề e ngại tiêm ngừa (kể cả ở những nước phát triển), các phương cách điều trị dân gian nguy hiểm (uống rượu nặng, uống chanh mật ong, xông lá cây, …), tắm
Trang 10ở sông Hằng … Một vấn đề liên quan nặng nề xuất hiện trong đại dịch đó là sự kỳ thị do
đổ lỗi của cộng đồng đối với người nhiễm bệnh Điều này làm cản trở chiến dịch tầm soát
và truy tung nguồn lây Cũng như làm trầm trọng vấn đề tâm lý – tâm thần đối với những người nhiễm bệnh và nhất là người vừa thoát khỏi các biến chứng nặng
Việc ưu tiên cho sự an toàn công cộng và sự thay đổi ưu tiên phân bổ nguồn lực và cung cấp dịch vụ có thể dẫn đến sự gia tăng nhận thức tiêu cực đối với các nhóm người bị nhiễm trong đại dịch Sự thông tin có tính chất kì thị đã xuất hiện nhiều với nhiều nhóm bệnh nhân như: tâm thần phân liệt, chậm phát triển tâm thần, HIV …, liên quan đến việc phân
bố phúc lợi xã hội, được đề cập nhiều trong các nghiên cứu Những thông tin sai lệch còn làm xuất hiện nổi sợ hãi của dân chúng đối với cộng đồng mắc bệnh Điều này lại càng làm trầm trọng hơn sự sợ hãi ở người nhiễm bệnh trong đại dịch Covid Lịch sử về vấn đề kỳ thị đã trải dài trong y văn Sự kỳ thị làm nhóm người nhiễm bệnh tin tưởng hoặc cho rằng
bị kỳ thị sẽ né tránh tìm kiếm sự giúp đỡ về y tế hoặc xã hội; những người khác thì né tránh Điều này dẫn đến bạo lực nhóm và dẫn đến những hậu quả xa hơn về mặt tâm lý xã hội mà tất yếu sẽ ảnh hưởng đến tâm lý – tâm thần cá nhân Do đó giải quyết vấn đề kỳ thị
là một trong những ưu tiên hàng đầu đối với các nhà quản ý chăm sóc sức khỏe trong các đợt dịch bệnh
2.2 Các triệu chứng trong đại dịch
Triệu chứng ám ảnh: ký ức tái diễn về dịch bệnh, được lặp lại trên truyền thông, phản ứng phân ly lặp lại do cảm giác bị đe dọa, thay đổi nhịp sống, ám ảnh về vệ sinh
Triệu chứng khí sắc: cảm xúc buồn rầu liên quan với bệnh thực thể, nổi sợ bị nhiễm bệnh Dẫn đến nguy cơ tự sát Kèm theo cảm giác trống rỗng, mất hy vọng
Triệu chứng phân ly: cảm giác không thật, mơ hồ về bản thân, nhận thức méo mó (ảo tưởng – illussion, giả ảo giác – pseudo-hallucination) do quá mức cảnh giác với môi trường Triệu chứng tránh né: đây là nỗ lực cố gắng thoát khỏi đau thương, một lối thoát cho suy nghĩ, cảm xúc và ký ức đau khổ từ đại dịch