TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG XÃ HỘI (CSII) KHOA CÔNG TÁC XÃ HỘI BÀI TIỂU LUẬN MÔN TÂM LÝ HỌC LAO ĐỘNG Chủ đề CÁC TRẠNG THÁI TÂM LÝ CỦA CÔNG NHÂN Ở CÁC XÍ NGHIỆP TRONG ĐẠI DỊCH COVID 19 Họ tên sinh viên Trầ[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI (CSII)
KHOA CÔNG TÁC XÃ HỘI
BÀI TIỂU LUẬN MÔN TÂM LÝ HỌC LAO ĐỘNG
Chủ đề
CÁC TRẠNG THÁI TÂM LÝ CỦA CÔNG NHÂN Ở CÁC XÍ
NGHIỆP TRONG ĐẠI DỊCH COVID-19
Họ tên sinh viên: Trần Thị Bích Ngọc
Lớp: Đ19NL2
Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Thị Thoa
Trang 2Điểm số Điểm chữ Chữ ký CBCT 1 Chữ ký CBCT 2
Thang điểm:
- Hình thức trình bày (tối đa 1.5 điểm) ………
- Mở đầu; kết luận (tối đa 1.5 điểm): ………
- Nội dung (tối đa 7.0 điểm): ….………
Tổng điểm: ………
Trang 3MỤC LỤC
I MỞ ĐẦU 1
II NỘI DUNG 3
2.1 Cơ sở lý luận về các trạng thái tâm lý lao động 3
2.1.1 Khái niệm về tâm lý, hiện tượng tâm lý 3
2.1.2 Các trạng thái tâm lý lao động 3
2.2 Thực trạng về các trạng thái tâm lý của công nhân ở các xí nghiệp trong đại dịch Covid-19 7
2.2.1 Khái quát về công nhân làm việc trong các xí nghiệp 7
2.2.2 Thực trạng một số khó khăn chung của công nhân ở các xí nghiệp trong đại dịch Covid – 19 8
2.2.3 Thực trạng về các trạng thái tâm lý của công nhân ở các xí nghiệp trong đại dịch Covid-19 9
2.3 Một số giải pháp cải thiện về các trạng thái tâm lý của công nhân ở các xí nghiệp trong đại dịch Covid-19 11
III KẾT LUẬN 14 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4I MỞ ĐẦU
Trong xu thế phát triển kinh tế - xã hội hiện đại ngày nay, các doanh nghiệp cạnh tranh ngày càng cao và vấn đề cạnh tranh ngày càng lớn Muốn duy trì và phát triển bền vững, buộc phải tìm cho mình một chiến lược hợp lí có đủ sức cạnh tranh trên thị trường để phát triển Để nâng cao hiệu quả các vấn đề đó một trong những yếu tố không thể thiếu trong doanh nghiệp hiện nay là nguồn lực Tuy nhiên, doanh nghiệp
dù có nguồn tài chính dồi dào, công nghệ hiện đại, cơ sở hạ tầng tốt mà thiếu đi nguồn nhân lực chất lượng cao thì doanh nghiệp đó khó có thể tồn tại lâu dài và tạo dựng được lợi thế cạnh tranh” Bởi vậy, nguồn lực con người đóng vai trò quan trọng và có
ý nghĩa quyết định đến sự phát triển của một quốc gia nói chung và doanh nghiệp nói riêng Nghiên cứu đã chỉ ra rằng một chính sách quản lí có cấu trúc 50% tâm lý và 50% kinh tế thì hiệu quả quản lý và hoạt động đạt được sẽ cao nhiều hơn so với chính sách thiếu quan tâm đến tâm lý con người Chính vì vậy, người ta càng thấy được mức độ cần thiết của việc nghiên cứu tâm lý của con người để có cơ sở khoa học cho việc ứng dụng tâm lý vào quản lý và điều khiển hành vi, hoạt động của con người Trong xã hội hiện đại ngày nay Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển sang kinh tế thị trường, đang tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, khoa học về tâm lý ngày càng thâm nhập vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Nói tới các hoạt động sản xuất của xí nghiệp là nói tới hoạt động có tổ chức, có mục đích của con người, quản lý con người
và tâm lý có mối quan hệ tác động qua lại với nhau Ngoài ra, yếu tố tâm lý luôn là sức mạnh, tác động đến tích cực hoạt động sáng tạo của con người Việt Nam đứng trước
sự biến đổi mạnh mẽ của môi trường, tính chất khốc liệt của cạnh tranh và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người lao động trong nền kinh tế thị trường, các nhà quản
lý nhận thức được rằng nếu không hiểu biết về con người nói chung và tâm lý con người nói riêng thì không thể đạt được hiệu quả công việc bền lâu
Hai năm nay, đứng trước tình hình dịch Covid- 19 làm ảnh hưởng đến nghiêm trọng đến nền kinh tế nước ta Đại dịch Covid - 19 đã tàn phá nghiêm trọng tổng thể nền kinh tế và thị trường lao động toàn cầu, là cú sốc kinh tế lớn nhất trong vòng 35 năm qua Sự tàn phá của đại dịch không chỉ với các nền kinh tế dễ bị tổn thương mà còn khiến cho nhiều nền kinh tế lớn rơi vào tình trạng bế tắc: kinh tế suy giảm, thất nghiệp tràn lan, nghèo đói và thất nghiệp gia tăng, … Tác động nghiêm trọng của đại
Trang 5dịch đối với lao động việc làm nói chung và những nhóm lao động dễ bị tổn thương nói riêng là một trong những khó khăn lớn mà mỗi quốc gia đặc biệt quan tâm Nhận thấy được tầm quan trọng của đại dịch đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tâm lý công nhân rơi vào trạng thái căng thẳng, hoang mang, lo âu bởi tình trạng thất nghiệp, không được đi lại trong lúc giãn cách, cuộc sống càng gặp nhiều khó khăn Từ những
lí do trên, em chọn đề tài “ Các trạng thái tâm lý của công nhân ở các xí nghiệp trong đại dịch Covid -19 ” làm đề tài tiểu luận kết thúc môn học
Đối tượng nghiên cứu tâm lý là công nhân làm việc ở các xí nghiệp trong đại dịch Covid-19
Phương pháp nghiên cứu: Đề tài này nghiên cứu được dựa trên các phương pháp
là phương tiện thông tin đại chúng, mạng Internet và các phương tiện truyền thông, từ
đó lồng ghép và diễn giải
Trang 6II NỘI DUNG
2.1 Cơ sở lý luận về các trạng thái tâm lý lao động
2.1.1 Khái niệm về tâm lý, hiện tượng tâm lý
Chữ “ tâm lý” theo nghĩa “ đời thường” trong tiếng việt, được hiểu là sự hiểu biết về lòng người, về tâm tư, tình cảm, nguyện vọng, thái độ,… của con người
Cách hiểu như vậy là đúng, song chưa đủ Chữ “ tâm lý” trong khoa học còn bao hàm cả những hiện tượng như cảm giác, tri giác, trí nhớ, tư duy, tình cảm, thói quen, tài năng, lý tưởng,… Nói một cách tổng quát, tâm lý bao gồm tất cả những hiện tượng tinh thần xảy ra trong đầu óc con người, gắn liền và điều hành mọi hành động, hoạt động của con người
Hiện tượng tâm lý là hiện tượng tinh thần nảy sinh trong đầu óc con người, tuy nhiên nó không phải tự nhiên mà có được, chính hiện thực khách quan muôn màu, muôn vẻ tác động vào con người theo những cách khác nhau làm nảy sinh các hiện tượng tâm lý Hiện tượng tâm lý khác với các hiện tượng vật lý, cơ học, hóa học,… Khác ở chỗ, khi con người phản ánh hiện thực khách quan thường gắn vào đó những cảm xúc nhất định Đồng thời hiện tượng tâm lý có khả năng điều hành các hành động, các hoạt động và từ đó giúp con người thích ứng và cải tạo hiện thực khách quan nhằm tồn tại và phát triển
2.1.2 Các trạng thái tâm lý lao động
Trạng thái tâm lý là hiện tượng tâm lý đa dạng, phức tạp, tương đối ổn định, bền vững tại một thời điểm nhất định, nó thường làm phông ( nền) cho các hiện tượng tâm
lý khác diễn ra theo chiều hướng nhất định Các trạng thái tâm lý có thể nâng cao hay
hạ thấp tính tích cực của hoạt động và từ đó ảnh hưởng tới hiệu quả của hoạt động lao động Tùy thuộc vào mức độ ảnh hưởng, người ta có thể phân chia trạng thái tâm lý ra thành trạng thái tâm lý tích cực và trạng thái tâm lý tiêu cực
Trạng thái tâm lý tích cực: là những trạng thái tâm lý của người lao động xuất hiện dưới ảnh hưởng của hoạt động lao động, có khả năng nâng cao tích cực hoạt động, tăng hiệu quả lao động Ví dụ như nếu được chuẩn bị tốt về tâm lý ( có tâm thế lao
Trang 7động) thì người lao động sẽ chủ động trong phần việc được giao, có tri thức, hiểu biết
và có kế hoạch thực hiện rõ ràng, lường trước được những khó khăn có thể gặp phải
Do đó, lao động sẽ đạt hiệu quả tốt hơn
Trạng thái tâm lý tiêu cực: là những trạng thái tâm lý xuất hiện dưới ảnh hưởng của các yếu tố bất lợi của môi trường, điều kiện lao động, làm giảm tính tích cực của hoạt động và giảm hiệu quả lao động Ví dụ trạng thái quá lo lắng, sợ hãi khi nhận nhiệm vụ khó khăn, sẽ làm người lao động lúng túng, quên thông tin, có những sai xót trong hành động
Có thể nói, trạng thái tâm lý trong lao động cũng như như các hiện tượng tâm lý khác, có nguồn gốc từ môi trường bên ngoài và bên trong Trạng thái tâm lý nảy sinh trong lao động rất đa dạng và muôn màu, muôn vẻ Tuy nhiên, có thể đề cập tới một số trạng thái tâm lý phổ biến sau đây: trạng thái chú ý tâm thế lao động, trạng thái căng thẳng tâm lý, trạng thái mệt mỏi, đơn điệu
- Trạng thái chú ý trong lao động
Chú ý là trạng thái tâm lý cá nhân biểu hiện ở sự tập trung của ý thức vào một hay một nhóm sự vật hiện tượng để định hướng lao động, bảo đảm điều kiện thần kinh – tâm lý cần thiết cho hoạt động tiến hành có hiệu quả
Có ba loại trạng thái chú ý:
+ Chú ý không chủ định là loại chú ý không có mục đích tự giác, không cần sự
nổ lưc của bản thân
+ Chú ý có chủ định là loại chú ý có mục đích định trước, cần sự nổ lực của bản thân, có tính bền vững cao Tuy nhiên loại chú ý này làm cho con người căng thẳng, mệt óc nếu phải tập trung chú ý trong một thời gian dài
+ Chú ý sau chủ định nảy sinh từ chú ý có chủ định Lúc đầu phải nổ lực ý chí để buộc mình phải tập trung nhưng sau đó do sức lôi cuốn của đối tượng mà con người dễ chú ý tới nó mà không cần sự nổ lực ý chí Loại chú ý này không làm cho người lao
Trang 8động mệt mỏi, căng thẳng mà hiệu quả hoạt động lại cao Loại chú ý này có ý nghĩa quan trọng trong lao động, xuất hiện khi người lao động có hứng thú với hoạt động Các thuộc tính chú ý: sức tập trung của chú ý, sự bền vững của chú ý, tính bền vững của chú ý và sự di chuyển của chú ý
- Tâm thế lao động
Tâm thế lao động là trạng thái tâm lý sẵn sàng chờ đón, sẵn sàng đi vào hoạt động lao động, để có thể phát huy đềy đù sức mạnh, ngay tức khắc vào việc giải quyết các nhiệm vụ, yêu cầu đặt ra trong những điều kiện cụ thể
Xét về thời gian, người ta đề cập tới hai loại tâm thế lao động:
+Tâm thế lao động ở sự chuẩn bị chung : là sự chuẩn bị trước thời gian, trước quá trình hoạt động lao động diễn ra Nó được thể hiện ở sự chuẩn bị về kiến thức, kỹ năng cho các hoạt động lao động
+Tâm thái lao động thể hiện ở trạng thái tức thời: nó được diễn ra trong quá trình lao động khi người lao động gặp những khó khăn vướng mắc mà người lao động cần phải huy động những kiến thức để xử lí những tình huống khó khăn mà họ gặp phải trong quá trình lao động
Cấu trúc tâm thế lao động:
+Về động cơ: Xác định rõ nhu cầu phải thực hiện tốt những nhiệm vụ đề ra, có hứng thú tới hoạt động, có ý muốn đạt kết quả cao và muốn chứng minh thế mạnh +Về nhận thức: Hiểu rõ quyền hạn, nhiệm vụ, có kiến thức về những phương tiện
để đạt được mục đích, lường trước được các tình huống khó khăn và có phương án giải quyết
+ Về xúc cảm: Có tình cảm, có trách nhiệm với công việc, tin tưởng vào sự thành công, phấn khởi, lạc quan trong công việc
+ Ý chí: Chuẩn bị sẵn sàng nghị lực, nỗ lực tập trung ý chí, kiên cường, dũng cảm tìm cách khắc phục khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ được giao
Trang 9- Trạng thái căng thẳng trong lao động
Căng thẳng tâm lý là trạng thái tâm lý của người lao động xuất hiện dưới ảnh hưởng củ các yếu tố môi trường lao động, tùy thuộc vào mức độ căng thẳng mà nó có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực tới hiệu quả của người lao động Căn cứ vào mức
độ căng thẳng, người ta phân chia trạng thái căng thẳng tâm lý ra ba loại:
+ Căng thẳng ở mức độ ôn hòa ( mức độ cho phép) : đây là trạng thái tâm lý bình thường nảy sinh khi người lao động bắt tay vào việc thực hiện một nhiệm vụ nào đó của hoạt động lao động Đây là trạng thái tâm lý tích cực, là điều kiện cần thiết để thực hiện hoạt động lao động
+ Căng thẳng ở mức cực trị ( trạng thái căng thẳng quá ngưỡng-stress); đây là trạng thái tiêu cực nảy sinh người lao động phải làm việc trong điều kiện yếu tố bất lợi Trong trạng thái này, người lao động có khả năng làm việc thấp, không ổn định, hay mắc sai phạm, hiệu quả lao động thấp
+ Căng thẳng ở mức trầm uất, đình truệ: là trạng thái tâm lí tiêu cực nảy sinh do
sự tích tụ căng thẳng quá ngưỡng, hoặc người lao động gặp những bất hạnh quá lớn trong cuộc sống, thất bại trong việc đạt mục tiêu đã định, mất lòng tin vào cuộc sống
Ở trạng thái này, người lao động dường như trở nên thờ ơ, không quan tâm tới công việc, mất hứng thú với mọi thứ,…
Nguyên nhân gây căng thẳng quá ngưỡng:
+ Nhóm nguyên nhân sinh lí: do lao động thể lực qúa sức, điều kiện môi trường không đảm bảo ( nồng độ bụi cao, làm việc trong hầm lò, công việc của người thợ lặn phải chịu áp lực của nước, )
+ Nhóm nguyên nhân tâm lý: chủ yếu là các yếu tố ảnh hưởng, gây áp lực cho các quá trình tâm lí như căng thẳng trí óc, căng thẳng trong lĩnh vực cảm giác, tri giác, căng thẳng chú ý, căng thẳng cảm xúc, công việc đơn điệu, do họat động trong điều kiện hạn chế giao tiếp
- Trạng thái mệt mỏi trong lao động
Trang 10Mệt mỏi là trạng thái tâm lý của người lao động xuất hiện khi có thể bị cạn chất dinh dưỡng, hay thần kinh bị kích thích gây nên cảm giác mệt nhọc, khó chịu, khi cá nhân phải thực hiện một công việc nào đó kéo dài với cường độ lớn mà không có sự nghỉ ngơi hợp lí dẫn đến kém năng suất, chất lượng lao động
Trong tâm lý học, người ta còn phân chia ba loại mệt mỏi khác nhau:
+ Mệt mỏi tay chân ( cơ bắp): là sự mệt mỏi do các loại lao động chân tay gây ra + Mệt mỏi trí óc ( mệt óc): là sự mệ mỏi do các loại lao động trí óc tạo nên
+ Mệ mỏi cảm xúc: là sự mệt mỏi do các loại lao động có chứa đựng các mâu thuẫn, tình huống căng thẳng quá ngưỡng hay do sự chờ đợi thụ động gây ra
Biểu hiện trạng thái mệt mỏi: yếu sức, thiếu tập trung, rối loạn giấc ngủ,…
Nguyên nhân gây mệt mỏi:
+ Nhân tố cơ bản: là nhân tố trực tiếp gây ra sự mệt mỏi
+ Nhân tố bổ sung: là nhân tố mà bản thân nó trong điều kiện nhất định cũng có thể trực tiếp gây ra mệt mỏi
+ Nhân tố thúc đẩy: là nhân tố tạo điều kiện thuận lợi cho sự mệt mỏi dễ dàng xảy ra
2.2 Thực trạng về các trạng thái tâm lý của công nhân ở các xí nghiệp trong đại dịch Covid-19
2.2.1 Khái quát về công nhân làm việc trong các xí nghiệp
Ngày nay, với sự ra đời của công nghệ tiên tiến nên công nhân thường là thành phần lao động làm việc trong những xí nghiệp, nhà máy, công ty và làm công ăn lương Người công nhân cũng thường kết hợp thành các công đoàn hoặc nghiệp đoàn độc lập
để bảo vệ quyền lợi của mình
Nhìn chung, công nhân là nghề lao động phổ thông , hiểu theo nghĩa rộng hơn thì công nhân là những người thực hiện công việc bằng thể xác, tức là lao động tay chân,
Trang 11dùng sức lao động của mình để nhận tiền công và tạo ra giá trị cho xã hội nên chỉ cần hoàn thành tốt nhiệm vụ theo quy định trong xí nghiệp giao bàn công việc cụ thể, điều khoản ghi rõ trong hợp đồng mà đơn vị thêu yêu cầu là được Có một thực tế hiện nay
là nhu cầu công nhân tìm việc không cần bằng cấp và kinh nghiệm rất cao Khi ứng tuyển vào vị trí việc làm công nhân, điều này đồng nghĩa là phải làm việc ở các khu công nghiệp, trong các nhà máy, xí nghiệp sản xuất và đảm bảo được kí hợp đồng ngắn hạn, dài hạn rõ ràng Ngày nay, không nhất thiết công nhân chỉ làm trong ngành xây dựng hay các ngành nghề truyền thống như quan niệm xưa mà họ có thể làm việc
ở trong nhiều lĩnh vực và các ngành nghề khác nhau Công nhân chính thường là làm việc tại các nhà máy dệt, nhà máy may mặc, chế tạo ô tô, thủy điện, đóng gói thực phẩm
2.2.2 Thực trạng một số khó khăn chung của công nhân ở các xí nghiệp trong đại dịch Covid – 19
Những ngày qua, làn sóng dịch Covid-19 lần thứ tư đang tấn công trực tiếp vào các xí nghiệp gây ra những ảnh hưởng rất lớn cho xã hội Không ít doanh nghiệp phải dừng hoạt động, hàng chục vạn công nhân ảnh hưởng đến việc làm, khiến cuộc sống gặp không ít khó khăn Hiện 1/3 số ca mắc của làn sóng dịch thứ tư là công nhân lao động Dịch bệnh Covid-19 cũng khiến hơn 79.000 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, tăng hơn 25% so với cùng kỳ năm 2020 Có thể thấy tại các địa phương thuộc vùng trọng điểm kinh tế phía Nam đang bị tác động rất lớn của dịch bệnh tới số công nhân lao động đang làm việc trong các xí nghiệp, khu công nghiệp, khu chế xuất
Nhiều khu công nghiệp, nhà máy, các xí nghiệp phải tạm dừng hoạt động cùng với việc thiết lập các biện pháp cách ly xã hội đã khiến cho đời sống gặp nhiều khó khăn Số công nhân làm việc phổ thông ngoại tỉnh có mức lương 5-7 triệu đồng chiếm
đa số nếu không tăng ca Số công nhân có mức thu nhập hơn 10 triệu đồng không nhiều Và đời sống của họ cũng gặp rất nhiều khó khăn
Lương thấp, không có việc làm do dịch Covid-19 vì xí nghiệp, nhà máy đóng cửa
đã khiến đời sống của công nhân giảm sút Phụ nữ biết tiết kiệm, chi tiêu dè xẻn còn
đỡ nhưng các nam công nhân thì khó tiết kiệm được tiền lương hơn vì nhiều mối quan
hệ và đôi khi tụ tập nhậu nhẹt ngày nghỉ hoặc lúc nhàn rỗi Những công nhân phải tạm