Kinh doanh quốc tế, môn học Quản trị kinh doanh quốc tế có vai trò quan trọng trong việc cung cấp cho người học những kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết về các hoạt động kinh doanh quốc tế của các công ty đa quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa
Trang 1P a g e 1 | 5
BÀI GIẢNG DẠNG VĂN BẢN (SCRIPT)
Môn học: KINH DOANH QUỐC TẾ
Chương mở đầu: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ MÔN HỌC
Chúng ta đang cùng nhau đến với môn học Kinh doanh quốc tế
2
Đây là một môn học bắt buộc trong chương trình đào tạo Cử nhân Kinh doanh quốc tế (và các ngành Thương mại quốc tế, Ngoại thương, QTKD) của nhiều trường trên thế giới
Môn học cung cấp những kiến thức cần thiết để học viên có thể am hiểu về môi trường kinh tế quốc tế Môi trường kinh doanh quốc tế ấy bao gồm những khác biệt giữa các quốc gia về hệ thống kinh tế, chính trị, pháp luật, văn hóá – xã hội, về một thị trường thế giới trong đó các vấn đề mang tính chất toàn cầu, các cấp độ hội nhập khu vực và thế giới giữa các quốc gia Song song đó, nội dung môn học còn cung cấp các lý thuyết nền tảng đến chính sách của các quốc gia từ thương mại quốc tế đến đầu tư nước ngoài,
và cả về lịch sử hệ thống tiền tệ toàn cầu
Hay sản phẩm đồng hồ Thụy Sĩ cả một chặng đường dài nhất là thập niên 70s luôn chiếm hơn 50% thị phần đồng hồ thế giới, nhưng sau khi có sự ra đời của đồng hồ điện tử, thị phần của đồng hồ Thụy Sĩ ngày nay chỉ còn 2%
Trang 2P a g e 2 | 5
Lý do cho sự đổi ngôi này, đó là vì các doanh nghiệp đã “cứng ngắt” trong chiến lược, và một số doanh nghiệp khác lại chưa sẵn sàng vì họ không hiểu, không nắm bắt được những chuyển động quá nhanh của thị trường
mà thích nghi
Ngoài ra, còn có những biến động, những thay đổi rất lớn đặc biệt là những vấn đề mang tính chất toàn cầu đã và vẫn còn gây tác động rất lớn đến từng doanh nghiệp, từng ngành công nghiệp, và cả nền kinh tế chung không chỉ của từng quốc gia, khu vực mà cả nền kinh tế thế giới
Câu chuyện được đặt ra: liệu chúng ta – những doanh nghiệp, những nhà quản trị – có bắt kịp được sự phát triển của nền kinh tế thế giới, bắt kịp được sự đổi thay và biến động quá lớn từ các vấn đề toàn cầu như Covid-
19, trí tuệ nhân tạo (AI) – dữ liệu lớn (big data), dữ liệu đám mây (cloud), Bitcoin (một loại tiền tệ kỹ thuật số), hay nguồn năng lượng và lương thực khan hiếm do chiến tranh của các quốc gia hay không ?
4
Sự “bắt nhịp” của doanh nghiệp nói riêng, và quốc gia nói chung được đề cập ở đây là có chăng doanh nghiệp chúng ta có đủ dữ liệu để phân tích được những khác biệt giữa các quốc gia, đánh giá được tiềm lực và thách thức từ bên trong đến bên ngoài của doanh nghiệp, đồng thời khai thác được những nguồn lực phục vụ cho chiến lược thâm nhập quốc tế của mình?
Rõ ràng, thế giới đang trở nên thông minh hơn, năng động hơn, một sự cộng hưởng và giao thoa giữa các nền kinh tế trên thế giới sâu sắc hơn Điều này cũng đặt ra những thách thức cho các doanh nghiệp trong nước
là cần thiết phải trau dồi và nâng cao nhận thức, chuyên môn trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật công nghệ, cần phải có một tầm nhìn chiến lược, một sự
am hiểu về môi trường kinh doanh quốc tế vững vàng, nắm rõ những xu hướng phát triển của các nền kinh tế khác nhau và các phương thức trao đổi sản phẩm xuyên biên giới mới có thể đứng vững trong môi trường kinh
Trang 3và thành lập công ty sản xuất tại Mỹ Nhưng vẫn còn rất rất khiêm tốn, và khá nhiều dự án dù bước đầu có “đánh tiếng” vang như là một trong những
dự án có vốn đầu từ lớn nhất của VN vào thị trường Myanmar vẫn bế tắc,
vẫn gặp rất nhiều khó khăn trong việc thanh toán, khi 6 công ty xuất khẩu Việt Nam bán 100 container hạt điều cho nhóm 5 công ty nhập khẩu của
Ý, và đã bị mất quyền kiểm soát 35 bộ chứng từ gốc của 35 container, với giá trị hàng hóa ước tính khoảng 162 tỷ đồng
Từ hiện trạng chung của các doanh nghiệp, việc tìm hiểu môi trường kinh doanh quốc tế, trang bị kiến thức cho học viên chuyên ngành kinh doanh quốc tế là hết sức cần thiết
6
Để có thể tiếp thu tốt môn học này, người học cần phải hoàn tất các môn học thuộc khối kiến thức giáo dục đại cương và kiến thức cơ sở của khối ngành Môn học Kinh doanh quốc tế cũng là tiền đề cho các môn học khác như: Quản trị kinh doanh quốc tế, Quản trị xuất nhập khẩu, Marketing quốc
tế, Quản trị nhân lực quốc tế, Quản trị tài chính quốc tế, Thanh toán quốc
tế, Luật thương mại quốc tế
Về kiến thức, sau khi học xong môn học này, người học có thể:
- Giải thích được những tác động của toàn cầu hóa, và mức độ sự hội nhập kinh tế quốc tế
- Phân tích được sự khác biệt giữa các quốc gia về kinh tế - chính trị
- pháp luật, cả các yếu tố về văn hóa - xã hội
Trang 4P a g e 4 | 5
- Đánh giá được nội dung các học thuyết và những thay đổi trong chính sách thương mại quốc tế, đầu tư nước ngoài, và hệ thống tiền tệ thế giới
7
Giáo trình chính của môn học là quyển sách Kinh doanh quốc tế của
Trường đại học Mở TpHCM, do nhóm tác giả Trịnh Thùy Anh – Trương
Mỹ Diễm – Ngô Kim Trâm Anh biên soạn, và tái xuất bản lần thứ nhất năm
2020
Ngoài ra, các anh chị được khuyến khích tham khảo thêm quyển Kinh
doanh quốc tế hiện đại, dịch từ quyển International business competing in
the global marketplace” hoặc tham khảo nguyên bản tiếng anh của tác giả Charles Hill
8
Môn học Kinh doanh quốc tế là môn học 3 tín chỉ, trong đó 2 tín chỉ lý thuyết, 1 tín chỉ thực hành Nội dung môn học được thiết kế thành 10 chương, bao gồm:
Chương 1 Toàn cầu hóa
Chương 2 Hội nhập nền kinh tế quốc tế
Chương 3 Sự khác biệt quốc gia về hệ thống kinh tế – chính trị
Chương 4 Sự khác biệt quốc gia về hệ thống pháp luật và xã hội
Chương 5 Sự khác biệt về văn hóa giữa các quốc gia
Chương 6 Thương mại quốc tế
Chương 7 Đầu tư nước ngoài
Chương 8: Hệ thống tài chính- tiền tệ toàn cầu
9
Kết thúc mỗi chương sẽ có một vài hoạt động kèm theo nhằm giúp các anh chị có thể ôn tập kiến thức trong các chủ đề một cách chủ động và độc lập Các hoạt động bao gồm: đó có thể là các tình huống thực tiễn có kèm các câu hỏi để học viên có thể sử dụng kiến thức trong bài giảng hồi đáp và củng cố kiến thức cho bản thân Bên cạnh đó còn có các câu hỏi trắc nghiệm nhằm giúp sinh viên tự đánh giá kiến thức cho mình ở mỗi chương Ngoài ra, có 2 bài kiểm tra nhỏ để các anh chị tích lũy điểm đánh giá quá trình: (1) một bài kiểm tra lý thuyết với 10 câu hỏi trắc nghiệm ở mỗi cuối
Trang 5P a g e 5 | 5
chương, và (2) 4 chủ đề thảo luận trên diễn đàn nhắm giúp người tham gia
có thêm kỹ năng thu thập, phân tích, xử lý thông tin và vận dụng các lý thuyết liên quan kinh doanh quốc tế vào thực tế doanh nghiệp
Điểm đánh giá cuối kỳ chiếm 50% còn lại dựa trên kết quả bài thi trắc nghiệm trong kỳ thi kết thúc môn học Cấu trúc đề thi trắc nghiệm bao gồm
40 câu, với thời gian làm bài 60 phút, được sử dụng tài liệu
và các bạn tìm hiểu thêm môi trường kinh doanh quốc tế đầy biến động, sống động và rất nhiều bai học hay qua đó
Một lần nữa rất cảm ơn tất cả đã dành thời gian lắng nghe và hẹn gặp lại các anh các chị và các bạn ở những chương chính của môn học
Trang 6P a g e 1 | 8
BÀI GIẢNG DẠNG VĂN BẢN (SCRIPT)
Chủ đề 1: Tổng quan về toàn cầu hoá và các thể loại toàn cầu
1
Trong nền kinh tế toàn cầu hôm nay, các doanh nghiệp được khuyên là
tiếp tục đẩy mạnh mạng lưới phân phối và các hoạt động sản xuất kinh
doanh xuyên biên giới; cứ như thế toàn thế giới là một thị trường chung
nhất, một thị trường phẳng tuyệt đối trên nền tảng của sự phát triển
khoa công nghệ quá vượt trội Tuy nhiên, thế giới có "phẳng” để chiến
lược kinh doanh của một doanh nghiệp tại một thị trường ở quốc gia
đơn lẻ có thể phù hợp và thích ứng ở khắp tất cả các vùng, miền khác
nhau trên thế giới hay không? Và phải chăng, nếu các doanh nghiệp
không chú ý tới những khác biệt riêng của từng quốc gia về kinh tế,
chính trị, văn hóa; thì sự thất bại là điều khó có thể tránh khỏi?
Về sự khác biệt giữa các quốc gia, các bạn sẽ được tìm hiểu sâu hơn ở
phần II gồm chương 3, 4, 5 của môn học này Ba chương còn lại lần
lượt sẽ đi vào ba khía cạnh lớn của kinh doanh quốc tế Đấy là: thương
mại quốc tế, đầu tư nước ngoài và tài chính – tiền tệ toàn cầu
Trước tiên, chúng ta cùng nhau tìm hiểu về "Toàn cầu hóa”
Tổng quan
2
Các bạn thân mến,
Sau khi kết thúc chương 1, chuẩn đầu ra cần thiết các bạn phải đạt:
kinh tế thế giới theo các cấp độ hội nhập
Trang 7P a g e 2 | 8
về tác động của toàn cầu hóa lên các quốc gia
3
Với chuẩn đầu ra như đề cập trên, chương 1 có 2 chủ đề chính:
Chủ đề 1: Tổng quan về toàn cầu hoá và các thể loại toàn cầu
Chủ đề 2: Tác động của toàn cầu hoá
Nội dung
5
Những vấn đề mang tính chất toàn cầu
Toàn cầu hóa là một cụm ngữ từ đã được sử dụng rất phổ biến từ thập
niên 1950s ở trên nhiều lĩnh vực khác nhau
tài chính toàn cầu – mà gần đây nhất là sự ra đời của đồng tiền ảo
Bitcoin, về sự thâm nhập của giá trị thị trường vào những lĩnh vực phi
Nhắc đến toàn cầu hóa, chúng ta cũng dễ dàng nhận ra sự bùng nổ của
Internet, của thông tin-khoa học kỹ thuật, của trí tuệ nhân tạo, của các
phương tiện truyền thông đại chúng
Những vấn đề mang tính chất toàn cầu
6
Bên cạnh đó, nhắc đến toàn cầu hóa, người ta cũng lại nhớ về những
vấn đề mang tính toàn cầu như sự kiện ngày 11 tháng 9 năm 2001 tòa
tháp đôi của Mỹ đã bị khủng bố tấn công, về sự bùng nổ và gia tăng
dân số thế giới đạt ngưỡng 8 tỷ người (Tháng 11/2022) cùng với các
luồng di cư không thể kiểm soát được, môi trường tự nhiên bị hủy hoại
nghiêm trọng và biến đổi khí hậu diễn biến ngày càng xấu
Những vấn đề mang tính chất toàn cầu
1 TCH: Toàn cầu hóa
2 MNCs: Multinational Corporations: những tập đoàn đa quốc gia
Trang 8P a g e 3 | 8
quên một trận Covid-19 Một trận đại dịch đã lan đến tận 215 quốc gia,
vùng lãnh thổ (trong đó có 2 tàu du lịch) ghi nhận ca mắc Covid-19 và
hơn 440 ngàn người trên thế giới tử vong, nền kinh tế thế giới bị gián
đoạn, hàng loạt các doanh nghiệp bị phá sản, tỷ lệ thất nghiệp tăng
7
Chính vì cụm từ toàn cầu hóa quá phổ quát và được thảo luận, cũng
như mức độ tác động lan tỏa và được chấp nhận rộng rãi ở khắp các
lĩnh vực Do đó, để hiểu được một khái niệm chung nhất về toàn cầu
hóa, tất yếu sẽ phụ thuộc vào cách nhìn và khía cạnh đặt trọng tâm vào
mục tiêu của chủ thể nghiên cứu Với mục tiêu bài học của chúng ta,
khi định nghĩa về TCH, cần thiết phải giới hạn trong phạm vi kinh tế
học, nên được gọi là kinh tế toàn cầu
Kinh tế toàn cầu hay toàn cầu hóa kinh tế được định nghĩa là sự hợp
tác quốc tế trong việc giao thương hàng hóa, trao đổi khoa học kỹ thuật
và công nghệ tiên tiến, lưu thông tiền tệ quốc tế và đẩy mạnh dòng vốn
đầu tư từ những cá nhân, doanh nghiệp hay tổ chức của quốc gia nọ
đến quốc gia kia và ngược lại
Khái niệm TCH
8
Các thể loại toàn cầu
Toàn cầu hóa đề cập đến “sự di chuyển” của những quốc gia đơn lẻ đi
vào nền kinh tế thế giới nhiều tương tác và phụ thuộc lẫn nhau Trước
đây, nhiều kinh tế gia đã chỉ rõ hai khía cạnh quanh trục toàn cầu hóa
mà chúng ta dễ dàng nhận thấy, đó chính là toàn cầu hóa thị trường và
toàn cầu hóa sản xuất
CÁC THỂ LOẠI TOÀN CẦU
9
Trong bối cảnh mà các tập đoàn đa quốc gia trong các ngành công nghệ
đang hoạt động trong nền kinh tế toàn cầu với sự tương đồng gần như
tuyệt đối Họ bán cùng một chủng loại hàng hóa và dịch vụ từ quy cách
1
3 Nguồn: worldometers.info
Trang 9P a g e 4 | 8
cho đến giá cả, biểu mẫu chính sách hậu mãi gần như giống nhau ở
khắp mọi nơi trên thế giới Điển hình, chúng ta có thể dễ dàng nhìn
thấy những dịch vụ giao nhận, vận tải của các thương hiệu DHL, TNT,
Express, Ups
Hay, chúng ta có thể nhìn về Coca-Cola, gà rán KFC, MCDonald, cà
phê Starbucks, Gloria Jean, hay thẻ tín dụng Visa - Master card, máy
ảnh Canon, Samsung, điện thoại của Apple, Blue Berry cũng là những
ví dụ tiêu biểu của khuynh hướng toàn cầu hóa thị trường Chính vì lẽ
này, thị trường toàn cầu đã hình thành
Toàn cầu hóa thị trường phản ánh sự kết hợp thị trường của những
quốc gia riêng biệt vào một thị trường toàn cầu rộng lớn Yếu tố giảm
rào cản thương mại giữa các quốc gia được dỡ bỏ Sở thích và nhu cầu
của người tiêu dùng khắp nơi bắt đầu được hội tụ Sản phẩm được bày
bán ở cấp độ quốc tế hóa một cách nhanh rộng hơn
Toàn cầu hóa thị trường
10
Hãy xem xét ví dụ khá cổ xưa, từ thời của thập niên 70s-80s nhưng vẫn
nguyên giá trị của nó, về sự di chuyển nguồn lực sản xuất và chọn lựa
quốc gia để đầu tư của công ty sản xuất kính đeo mắt Swan (trụ sở
chính tại Hoa Kỳ) Được thành lập vào khoảng 1960s, đến năm 1970
SWAN bắt đầu tham gia thị trường thế giới bằng việc thực hiện đầu tư
trực tiếp nước ngoài SWAN liên doanh với đối tác tại Hồng Kông để
sản xuất kính đeo mắt, và doanh số đã đạt hơn 20 triệu USD vào cuối
1980 Trả lời cho việc lựa chọn Hồng Kông là điểm đến để đầu tư sản
xuất, nhà quản lý SWAN cho biết vào thời điểm ấy Hong Kong có
nguồn lực lao động có tay nghề cao nhưng chi phí nhân công thấp,
cùng với những ưu đãi về thuế của chính phủ Đến năm 1986, ngành
công nghiệp tại Hong Kong bắt đầu phát triển mạnh và những ưu đãi
trước kia không còn nữa; SWAN tiếp tục chọn lựa đối tác Trung Quốc
2 Toàn cầu hoá sản xuất
Trang 10P a g e 5 | 8
Và theo nhu cầu của thị trường, cũng như muốn đa dạng hóa chủng
loại hàng hóa từ dòng sản phẩm dành cho đối tượng có thu nhập trung
bình lên sản phẩm cao cấp, SWAN đã lựa chọn những đối tác như Ý,
Pháp, Nhật để thực hiện phân khúc thiết kế sản phẩm Tiếp theo đó, sẽ
được vận chuyển về HongKong để lắp ráp hoàn chỉnh thành phẩm và
cung ứng cho thị trường chủ lực tại Bắc Mỹ và Nam Mỹ
11
Đi vào môi trường toàn cầu, các doanh nghiệp không nhất thiết phải
sản xuất tại quốc gia chủ nhà của họ, mà hoàn toàn có thể tìm kiếm
một phương án sản xuất như việc đặt phân xưởng ở các quốc gia khác
với tổng chi phí giá thành sản phẩm thấp hơn và tạo thêm nhiều giá trị
gia tăng hơn so với xưởng sản xuất đặt tại quốc gia chủ nhà Tuy nhiên,
trong bối cảnh kinh tế toàn cầu hôm nay, mức độ cạnh tranh cao và khả
năng tạo giá trị gia tăng ngày càng bị thu hẹp, nhà quản trị nên tính
toán một cách chính xác xem ở đâu doanh nghiệp có thể tạo thêm phần
giá trị gia tăng cho sản phẩm
Tóm lại, TCH sản xuất phản ánh sự mở rộng vị trí sản xuất từ quốc gia
chủ nhà đến bất cứ nơi đâu mà nhà quản lý khai thác được tính ưu việt
của sự khác biệt quốc gia trong các yếu tố về chi phí sản xuất và chất
lượng sản phẩm
Khái niệm TCH sản xuất
12
Các nhân tố đẩy mạnh dòng chảy toàn cầu hoá
Quá trình toàn cầu hóa về mặt kinh tế khi chuyển tải ứng dụng các tiện
ích của cuộc cách mạng số hóa từ những năm cuối thế kỷ XX, cho đến
cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 của những năm đầu thế kỷ XXI tiếp
tục cho thấy đấy là một khuynh hướng phát triển rất mạnh mẽ, và chịu
tác động bởi rất nhiều nhân tố Trong đó, có hai nhân tố chính tác động
mạnh mẽ nhất Đó là gồm vai trò về những tiến bộ của khoa học công
Các nhân
tố đẩy mạnh dòng chảy toàn cầu hoá
Trang 11P a g e 6 | 8
nghệ kỹ thuật và sự cắt giảm của một loạt các chính sách thương mại-
đầu tư của các quốc gia
13
Vai trò của khoa học kỹ thuật công nghệ được xem là một trong
những động lực đẩy nhanh tốc độ toàn cầu hóa nhất Trong những năm
đầu hội nhập, điểm đáng chú ý nhất chính là những tiến bộ trong lĩnh
vực giao thông vận tải với sự ra đời của container, trực thăng phản lực
chở khách và loại máy bay vận tải hàng hoá và đặc biệt là công nghệ
bán dẫn, viễn thông và truyền thông
Với sự phát triển trong lĩnh vực công nghệ vận tải, đã giúp cho quy
trình vận chuyển đã trở nên nhanh chóng, hiệu quả hơn và chi phí vận
chuyển giảm
Bên cạnh đó, hệ thống thông tin liên lạc toàn cầu do sự phát triển của
máy tính, kỹ thuật truyền thông, hệ thống thông tin giúp cho chi phí
liên lạc giảm xuống và tạo điều kiện cho những điểm sản xuất đơn lẻ
hợp tác trên phạm vi toàn cầu, cụ thể là nhiều chi nhánh của một hãng
sản xuất ở rải rác khắp các châu lục có thể cùng hỗ trợ để tạo ra một
dòng sản phẩm chung
Nhân tố 1: Vai trò của khoa học kỹ thuật công nghệ
14
Mở cửa chính sách
Nếu những năm thập niên 1920s và 1930s, nhiều quốc gia đã dựng nên
các hàng rào thương mại - đầu tư nhằm để bảo hộ ngành sản xuất trong
nước trước sự cạnh tranh của những dòng sản phẩm ngoài nước, thì
sau Thế chiến thứ II, các quốc gia có nền công nghiệp phát triển ở
phương Tây đã cùng nhau cam kết dỡ bỏ các rào cản để hàng hóa, dịch
vụ và vốn tư bản được lưu thông tự do
Ngoài các quốc gia phương Tây, sự thay đổi các chính sách như là cắt
giảm các hàng rào thương mại và đầu tư, cũng đã đưa các nước thờ ơ
Nhân tố 2: Mở cửa chính sách và cắt giảm hàng rào thương mại – đầu tư
Trang 12P a g e 7 | 8
với môi trường hội nhập như Trung Quốc, Ấn Độ, Liên Xô cũ cũng
chuyển sang tích cực tham gia vào các hoạt động kinh doanh quốc tế
Việt Nam chúng ta cũng thế Cụ thể với chính sách đổi mới vào năm
1986 đã chính thức đưa đất nước mở cửa giao bang với thị trường khu
vực và thế giới
Đấy chính là động lực chính được đề cập và xem như là nhân tố thứ
hai giúp đẩy mạnh dòng chảy toàn cầu hay thúc đẩy sự hội nhập quốc
tế
15
Chúng ta có thể nhìn vào bảng biểu thống kê biểu thuế quan trung bình
của các quốc gia phương Tây từ những năm đầu cuộc chiến tranh thế
giới thứ nhất đến 2017 Nhìn vào bảng biểu dưới đây dễ dàng nhận
thấy từ ngưỡng mức thuế khoảng 20 đến hơn 40% của những năm đầu
thế chiến thứ nhất, đã giảm dần, giảm dần đến năm 2017 chỉ còn mức
1,6% Và tiếp tục cập nhật theo trang thông tin của WTO, mức thuế
của đa phần những quốc gia được đề cập đã ở mức 0%
Tiền thân của WTO chính là Hiệp định chung về thuế quan và mậu
dịch (GATT) Dưới mái che của hiệp định này, các quốc gia thành viên
4 Nguồn: Hill (2019)
Trang 13P a g e 8 | 8
đã tổ chức được 8 vòng đàm phán về việc cắt giảm hàng rào cho dòng
chuyển tự do của sản lượng hàng hóa và dịch vụ Vòng đàm phán sau
cùng tạm gọi là vòng đàm phán Uruguay đã tập trung giải quyết các
vấn đề về giảm hàng rào thương mại, mở rộng mức thuế quan và mậu
dịch cho cả dịch vụ và hàng hóa sản xuất, tích cực bảo vệ bản quyền
sáng chế, nhãn hiệu và quyền tác giả, và thành lập WTO
Và cho đến cuối năm 2022, ngoài mái che của GATT thì có rất nhiều
ước khác, các quốc gia thành viên đã hiệp thông, thống nhất tạo đà cho
tăng trưởng kinh tế nên thuế suất của rất nhiều mặt hàng bằng 0
16
Chúng ta vừa đề cập xong hai nhân tố đề cập trên đã tác động tác động
mạnh mẽ đến dòng chảy toàn cầu hóa Một công ty có thể thiết kế mẫu
sản phẩm ở một nước, sản xuất vật liệu ở 2 nước khác, lắp ráp ở nhiều
nước khác và sau đó xuất khẩu khắp thế giới Dòng sản phẩm hoàn
chỉnh được bày bán ở khắp mọi nơi Chính vì những điều này đã giúp
nhân loại xích lại gần với nhau hơn
17
Chủ đề 1 của chương 1 khép lại tại đây
Rất mong các bạn luôn thấy vui thích để khám phá thêm, tìm hiểu thêm
các kiến thức vĩ mô về toàn cầu hóa, về kinh doanh quốc tế
Chúng ta sẽ gặp nhau vào chủ đề 2 “Những tác động toàn cầu”
Mến chào tất cả!
Kết thúc
5 FTA: Free trade agrement/area
Trang 14P a g e 1 | 5
BÀI GIẢNG DẠNG VĂN BẢN (SCRIPT)
Chủ đề 1: Tổng quan về kinh doanh quốc tế
1
Mến chào tất cả các bạn, chúng ta vừa tìm hiểu xong các nội dung xoay quanh chủ đề toàn cầu hóa như là xác định được các vấn đề mang tính chất toàn cầu, phân biệt được toàn cầu hóa thị trường và toàn cầu hóa sản xuất, đánh giá được
xu hướng toàn cầu và sự chuyển động của nền kinh tế thế giới theo hướng các cấp độ hội nhập như thế nào Và cuối cùng cũng có thể lý giải được những luận điểm chính trong các cuộc tranh luận về tác động của toàn cầu hóa lên các yếu
tố việc làm, thu nhập, bảo vệ môi trường và chủ quyền quốc gia
2
Ở chương 2, các bạn sẽ thấy rõ hơn về sự khác biệt trong việc xây dựng chiến lược và quản lý một doanh nghiệp có hoạt động vượt ra phạm vi của một quốc gia với hoạt động của những đơn vị kinh doanh trong thị trường nội địa thuần túy
Chủ đề 1 chương 2 Tổng quan về kinh doanh quốc tế
3
Chuẩn đầu ra của chương 2 là:
• Trình bày được lịch sử ra đời và khái niệm của các hoạt động kinh doanh quốc tế
• Giải thích lý do tại sao nghiên cứu kinh doanh quốc tế
• Phân tích được lý do tại sao doanh nghiệp tham gia thị trường toàn cầu
• Đánh giá được các cấp độ hội nhập quốc tế
chính:
Trang 15P a g e 2 | 5
1 Chủ đề 1: Tổng quan về kinh doanh quốc tế
2 Chủ đề 2: Các cấp độ hội nhập kinh tế quốc tế
5
Đầu tiên, chúng ta tìm hiểu Chủ đề 1: Bối cảnh xuất hiện, khái niệm và tính đặc thù của hoạt động kinh doanh quốc tế
Bối cảnh xuất hiện hoạt động kinh doanh quốc tế
Kinh doanh quốc tế có lịch sử từ lâu đời Ngay trước công nguyên, các thương nhân đã bắt đầu gửi các đại diện của họ đi nước ngoài để thực hiện những thương
vụ bán buôn Tiếp theo sau đó là những mối giao thương trong lĩnh vực trao đổi hàng hóa qua lại giữa các quốc gia với nhau
Cùng với sự ra đời của chủ nghĩa tư bản, sự phát triển của những ngành công nghiệp Phương Tây từ cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX; kinh doanh quốc tế
và các hình thức hoạt động của nó bắt đầu được mở rộng và phát triển
Kinh tế toàn cầu ngày nay, dưới sự tác động mạnh mẽ của các xu hướng khu vực hóa và toàn cầu hóa, các phương thức kinh doanh và các hoạt động liên quan đến lĩnh vực kinh doanh quốc tế ngày càng đa dạng và trở thành một trong những nội dung hết sức quan trọng trong mối tương quan kinh tế giữa các quốc gia trên toàn thế giới
7
2 Tại sao lại học kinh doanh quốc tế?
Môi trường thương mại quốc tế hiện có những đổi thay đáng kể và thị phần của thị trường toàn cầu này đang lớn dần và phủ lấy hệ thống kinh doanh rộng khắp thế giới Thị trường toàn cầu đang ngày càng hợp nhất, đưa con người gần nhau
Trang 16P a g e 3 | 5
hơn, đưa sản phẩm hay dịch vụ đi xa hơn vượt ra ngoài biên giới của quốc gia
Sự phát triển của công ty quốc tế hay tập đoàn đa quốc gia đã cho thấy sự thành công trong đấu trường quốc tế dù ít hay nhiều phụ thuộc rất lớn vào sự nhận thức
và hiểu biết của doanh nghiệp về môi trường kinh doanh toàn cầu Do vậy, để có thể hội nhập, có thể gặt hái thành công trong môi trường kinh doanh toàn cầu ngày nay, chúng ta cần phải trang bị những kiến thức cơ bản về môi trường kinh doanh quốc tế
8
3 Tại sao doanh nghiệp tham gia môi trường kinh doanh toàn cầu
Ba động cơ chính mà các công ty khi theo đuổi hoạt động giao dịch và đầu tư quốc tế thường đặt ra, đó là: mở rộng thị trường, tìm kiếm nguồn lực và giảm thiểu rủi ro
Mở rộng thị trường
Số lượng hàng hóa được bán ra hay doanh số mà công ty bị giới hạn bởi số người biết và quan tâm đến sản phẩm và dịch vụ của công ty, cũng như khả năng mua hàng của người tiêu dùng Thị trường nội địa chỉ cung cấp cho số lượng người mua hàng ít hơn so với phạm vi thị trường được mở rộng trên toàn cầu Vì vậy, khi doanh nghiệp mở rộng phạm vi cung ứng và hoạt động kinh doanh ở nhiều khu vực trên toàn thế giới, thì sẽ có cơ hội nâng cao doanh số bán hàng
Nhìn vào những tập đoàn đa quốc gia có tầm cỡ quốc tế như: Samsung của Hàn Quốc, Toyota của Nhật, Apple từ Mỹ, Michelin từ Pháp, để có thể thấy rằng hơn nửa doanh số bán hàng của họ là được thu về từ thị trường bên ngoài quốc gia chủ nhà Từ đó, có thể thấy rõ rằng việc mở rộng thị trường của công ty ở phạm vi toàn cầu là động lực chính cho sự phát triển lớn mạnh của doanh nghiệp khi tham gia vào hoạt động kinh doanh quốc tế
Ngoài ra, đối với các dòng sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp đang đứng trước một thị trường nội địa bão hòa thì việc mở rộng thị trường vượt ra ngoài phạm vi một quốc gia là hết sức cần thiết
Trang 17ưu cho doanh nghiệp
10
Giảm thiểu rủi ro
Sự biến động về các khoản phí, thị trường bất ổn, biểu tình đình công, đã kèm theo doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp cũng biến động Ngoài ra, với việc mở rộng thị trường ra bên ngoài sẽ giúp cho doanh nghiệp tránh được những đột biến xấu trong kinh doanh, và tránh phải đối diện với những tình trạng không
ổn định kéo dài tại thị trường nội địa Đây có thể gọi là một dạng của phân tán rủi ro hay giảm thiểu rủi ro
Từ đó cho thấy, việc đa dạng hóa các hoạt động thương mại và đầu tư ở thị trường nước ngoài hỗ trợ doanh nghiệp khắc phục những rủi ro trong kinh doanh (hay còn gọi là phân tán rủi ro) và giúp doanh nghiệp đạt được tính hiệu quả của lợi thế cạnh tranh vốn có ở từng quốc gia khác nhau để có thể tối đa hóa lợi nhuận
11
Tính đặc thù trong kinh doanh quốc tế
Khi thực hiện hoạt động kinh doanh quốc tế, các doanh nghiệp có phạm vi hoạt động vượt ra ngoài biên giới mà quốc gia cần phải đối diện với nhiều thách thức hơn với các doanh nghiệp hoạt động nội địa Đây là tính đặc thù trong kinh doanh quốc tế bao gồm cả các yếu tố môi trường bên ngoài và môi trường cạnh tranh
Trang 18P a g e 5 | 5
Môi trường bên ngoài
Môi trường bên ngoài là tổng các điều kiện bên ngoài doanh nghiệp có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến sự thành công của doanh nghiệp Vì môi trường kinh doanh quốc tế diễn ra trong một bối cảnh rộng lớn của nền kinh tế toàn cầu, nên những nhà quản lý cần thiết phải có những kiến thức thực tế về khoa học xã hội bao gồm: lịch sử, địa lý, chính trị, kinh tế học, luật học, nhân chủng học, tâm
lý học
Sự khác biệt giữa các quốc gia bởi các yếu tố môi trường bên ngoài sẽ ảnh hưởng đến cách thức quản trị trong hoạt động của công ty và sự điều chỉnh trong từng chiến lược quản trị (nhân sự, tài chính, marketing, sản xuất, chất lượng ) của công ty mẹ đến các chi nhánh phụ thuộc vào mức độ khác biệt giữa trong nước
và nước ngoài mà công ty đang hoạt động
12
Môi trường cạnh tranh
Những nhân tố quan trọng trong môi trường cạnh tranh chính gồm khả năng của các đối thủ cạnh tranh chính có nguồn lực dồi dào, sự đe doạ của các đối thủ cạnh tranh tiềm năng, sự đe doạ bởi những dòng sản phẩm và dịch vụ mới thay thế nhanh chóng sản phẩm và dịch vụ đang tồn tại trên thị trường và khả năng của các nhà cung cấp
13
Xin cảm ơn và hẹn gặp lại tất cả các bạn ở những chương sau
Hết chủ đề 1 Mong các bạn dành thêm thời gian đọc thêm tài liệu học tập, và làm bài trắc nghiệm của mỗi chủ đề để củng cố kiến thức
Chúc tất cả luôn tìm thấy nhiều niềm vui trong học tập!
Trang 19P a g e 1 | 6
BÀI GIẢNG DẠNG VĂN BẢN (SCRIPT)
Chủ đề 2: Hội nhập kinh tế quốc tế
1
Mến chào tất cả các bạn,
Nếu ở chủ đề 1 đã cung cấp sự hiểu biết tổng quan về kinh doanh quốc tế và các động cơ chính yếu mà lúc thoạt đầu dường như đa số các công ty khi theo đuổi hoạt động giao dịch và đầu tư quốc tế thường đặt ra, đó là: mở rộng thị trường, tìm kiếm nguồn lực và giảm thiểu rủi ro
2
Ở chủ đề 2 chương 2 Chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu về quản lý trong nền kinh
tế toàn cầu, và các mức độ hội nhập kinh tế quốc tế bao gồm cấp độ FTA được gọi là khu vực hay hiệp định thương mại tự do, liên minh thuế quan, thị trường chung, liên minh kinh tế và cuối cùng là liên minh chính trị Sau đó các bạn tiếp tục được cung cấp
tế
4
Các mức độ hội nhập kinh tế quốc tế
Các công ty đang ở trong giai đoạn đầu thâm nhập vào thị trường ngoài nước cần phải quan tâm đến mức độ hội nhập mà ở đó có các quốc gia mục tiêu của công ty là thành viên Vì những nhà quản trị của các công ty đa quốc gia sẽ nhận
ra được cơ cấu tổ chức và các chiến lược quản trị của công ty cần phải tuân theo, cũng như tuân thủ những điều kiện thuận lợi của mỗi cấp độ hội nhập
Trang 20P a g e 2 | 6
Hội nhập kinh tế là quá trình chủ động thực hiện đồng thời hai việc: một mặt,
gắn nền kinh tế và thị trường từng nước với thị trường khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực thực hiện mở cửa và thúc đẩy tự do hóa nền kinh tế quốc dân; và mặt khác, gia nhập và góp phần xây dựng các thể chế kinh tế khu vực và toàn cầu
Hội nhập kinh tế có thể là song phương (giữa hai nền kinh tế), hoặc khu vực (giữa một nhóm nền kinh tế trong vùng), hoặc đa phương
5
Khu vực mậu dịch tự do
Khu vực mậu dịch tự do là hình thức liên kết kinh tế quốc tế trong đó các nước thành viên thỏa thuận với nhau về việc giảm hoặc xóa bỏ hàng rào thuế quan, cùng với việc gỡ bỏ các biện pháp hạn chế về số lượng Tuy nhiên các nước thành viên vẫn giữ được quyền độc lập tự chủ trong quan hệ buôn bán với các nước ngoài khu vực Cụ thể là những thành viên của FTA vẫn sẽ được duy trì hay xây dựng nhữg hình thức thuế quan riêng và hàng rào thương mại khác đối với các quốc gia không phải là thành viên Đây là mức độ hội nhập lỏng lẻo và
ít ràng buộc nhất
Một số khu vực mậu dịch tự do trên thế giới: EFTA - Euro Free Trade Area - Khu vực mậu dịch tự do châu Âu; NAFTA - North American Free Trade Area - Khu vực mậu dịch tự do các nước Bắc Mỹ; AFTA - ASEAN Free Trade Area - Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN; EVFTA – European-Vietnam Free Trade Agreement – Hiệp định Thương mại Tự do châu Âu (EU) - Việt Nam…
Khu vực
mậu dịch
tự do
Liên minh thuế quan
Thị trường chung
Liên minh kinh tế Liên minh chính trị
EU 1992 AFTA
Trang 21P a g e 3 | 6
6
Liên minh thuế quan
Liên minh thuế quan ra đời sau khu vực mậu dịch tự do (FTA), nên nó mang toàn bộ đặc điểm và quy ước giống như FTA; nhưng có thêm những điều khoản
bổ sung Các thỏa thuận thêm vào trong mức độ liên minh thuế quan là:
• Các nước trong liên minh thỏa thuận xây dựng chung về cơ chế hải quan
Cơ chế này được thống nhất và áp dụng chung cho tất cả các thành viên
• Cùng nhau xây dựng biểu thuế quan thống nhất áp dụng trong hoạt động thương mại với các nước ngoài liên kết
• Tiến tới xây dựng chính sách ngoại thương chung mà mỗi quốc gia thành viên phải tuân thủ
Cộng đồng kinh tế châu Âu EEC là một ví dụ điển hình cho liên minh thuế quan EEC được thành lập vào năm 1957, gồm 6 thành viên: Pháp, Đức, Ý, Bỉ, Hà Lan, Luxembourg
7
Thị trường chung
Thị trường chung là một hình thức phát triển cao hơn trong mức độ hội nhập kinh tế thế giới Thị trường chung cũng giống như liên minh thuế quan, tức là không có hàng rào thương mại giữa các quốc gia, và có một chính sách đối ngoại chung Tuy nhiên, điểm phát triển của thị trường chung là: cho phép di chuyển các nhân tố sản xuất (lao động, vốn, công nghệ, ) giữa các thành viên với nhau Nhờ vậy, các yếu tố sản xuất được lưu chuyển để nhằm vào một mục đích cao nhất là tăng năng suất Tuy nhiên, ở một vài khu vực như Trung Mỹ hay châu Á
lại không luôn hưởng lợi từ thị trường này
Vào năm 1992, liên minh thuế quan EEC đã phát triển thành thị trường chung châu Âu (ECM)
8
Liên minh kinh tế
Liên minh kinh tế được thiết lập nhằm tiếp tục phát triển lên một mức mới trong tiến trình hội nhập bao gồm những đặc trưng của khu vực mậu dịch tự do, liên
Trang 22P a g e 4 | 6
minh thuế quan, thị trường chung; và điểm phát triển cao hơn của liên minh kinh
tế - tiền tệ là yêu cầu một chính sách tài chính và hệ thống tiền tệ chung, thiết lập bộ máy điều hành cho sự phối hợp kinh tế giữa các nước thành viên (thay thế một phần chức năng của chính phủ các nước)
Ngày 1/1/2002, EU đã đưa vào sử dụng đồng tiền chung châu Âu
Quản lý trong nền kinh tế toàn cầu
Khi nền kinh tế thế giới thực sự chuyển dịch theo hướng hội nhập toàn cầu thì rất nhiều công ty (bao gồm các tập đoàn hay các doanh nghiệp vừa và nhỏ) cũng
sẽ tham gia vào hoạt động kinh doanh quốc tế
Các đặc điểm, hoặc các yếu tố, điều kiện đòi hỏi trong kinh doanh quốc tế là khác biệt giữa các quốc gia
11
Thêm vào đó, một sự khác biệt trong việc quản lý doanh nghiệp ở thị trường trong nước với quốc tế chính là quản lý kinh doanh quốc tế thì phức tạp hơn Rõ ràng, những công ty giao thương với các đối tác bên ngoài quốc gia thường xuyên phải đối diện với sự phức tạp và nhiều biến động hơn là quản lý giao dịch thương mại trong nước Bởi vì, công ty kinh doanh quốc tế phải hoạt động trong khuôn khổ hệ thống mậu dịch và đầu tư quốc tế Do vậy, những nhà quản lý cần phải nắm rõ những giới hạn về mậu dịch và đầu tư quốc tế của chính phủ các nước thuộc địa bàn hoạt động của mình, nhằm tìm ra những đối sách thích ứng cho hoạt động của công ty trong từng quốc gia riêng biệt Những nhà quản lý tham gia hoạt động kinh doanh quốc tế phải có những quyết định nhạy cảm và sáng suốt trong việc chọn lựa quốc gia nào để xây dựng xưởng sản xuất; nhằm để có
Trang 23P a g e 5 | 6
thể giảm thiểu một cách tối đa các chi phí vận hành và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh
12
Tình hình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
Việt Nam tham gia vào hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) ngày 28/7/1995 và bắt đầu thực hiện từng bước các cam kết nhằm xây dựng khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) từ năm 1996
Tháng 3/1996, Việt Nam đã tham gia và trở thành sáng lập viên của Diễn đàn hợp tác Á – Âu (ASEM)
Tháng 11/1989, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của diễn đàn kinh
tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) Trong khuôn khổ hợp tác tại diễn đàn này nhiều nội dung cụ thể thực hiện thuận lợi hóa thương mại giữa các thành viên theo chương trình hành động tập thể (CAP), chương trình hành động quốc gia (IAP) và tự do hóa tự nguyện sớm (EVSL) đã được chúng ta nghiên cứu tham gia
Từ sau năm 1992, Việt Nam đã khôi phục quan hệ bình thường với các tổ chức tài chính quốc tế như Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng phát triển châu Á (ADB)
Trong quan hệ song phương, đàm phán ký kết Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ là một nội dung lớn thời gian qua Việt Nam đã tiến hành 9 phiên đàm phán với phía Hoa Kỳ và đã ký Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ ngày 13/7/2000
Ngày 11/1/2007, Việt Nam chính thức là thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới (WTO) và hưởng các ưu đãi thương mại, hay các chế độ đãi ngộ không phân biệt trong thương mại quốc tế
Ngày 1/8/2020, Hiệp định EVFTA hay còn được gọi là Hiệp định thương mại tự
do Việt Nam - EU, một thỏa thuận được kí kết giữa 28 nước thành viên liên minh châu Âu và Việt Nam chính thức có hiệu lực
Trang 24Mến chào tất cả và hẹn gặp lại nhau ở những chương sau nhé!
Trang 25P a g e 1 | 5
BÀI GIẢNG DẠNG VĂN BẢN (SCRIPT)
Môn học: KINH DOANH QUỐC TẾ
Chương 3: SỰ KHÁC BIỆT QUỐC GIA VỀ HỆ THỐNG KINH TẾ – CHÍNH TRỊ Chủ đề 1: SỰ KHÁC BIỆT VỀ HỆ THỐNG KINH TẾ
1
Xin chào quý Anh/ Chị học viên thân mến,
Chào mừng Anh/ Chị đến với nội dung bài học của chương 3: Sự khác biệt quốc gia về hệ thống kinh tế - chính trị Sau khi kết thúc chương này, Anh/ Chị sẽ phân tích được những khác biệt giữa các quốc gia về kinh tế - chính trị cũng như
sự tác động của những khác biệt này đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khi thâm nhập thị trường nước ngoài
Với nội dung chương 3, chúng ta sẽ có 2 chủ đề chính:
- Chủ đề 1: Sự khác biệt giữa các quốc gia về hệ thống kinh tế
- Chủ đề 2: Sự khác biệt giữa các quốc gia về hệ thống chính trị
2
Trước tiên, chúng ta tìm hiểu về chủ đề đầu tiên - Sự khác biệt giữa các quốc gia
về hệ thống kinh tế Với nội dung bài học chủ đề 1, Anh/Chị sẽ trình bày các hệ thống kinh tế cũng như giải thích được sự khác biệt trong hệ thống kinh tế của các quốc gia đến hoạt động kinh doanh quốc tế của doanh nghiệp
3
Hệ thống kinh tế tiêu biểu
Đối với những quốc gia xem trọng chủ nghĩa cá nhân hơn chủ nghĩa tập thể thì
hệ thống kinh tế thị trường là hệ thống kinh tế chủ yếu Trong khi đó, ở những quốc gia theo chủ nghĩa tập thể, nhà nước kiểm soát nhiều mục tiêu và thị trường
ở những quốc gia này thường bị hạn chế
Trên thế giới hiện nay có ba hệ thống kinh tế lớn là kinh tế thị trường, kinh tế chỉ huy và kinh tế hỗn hợp
Trang 26P a g e 2 | 5
a Kinh tế thị trường
Đầu tiên, chúng ta cùng nhau tìm hiểu về hệ thống kinh tế thị trường
Với hệ thống kinh tế thị trường, mọi hoạt động sản xuất đều thuộc sở hữu tư nhân Hàng hóa và dịch vụ mà một quốc gia sản xuất ra không được hoạch định bởi sự tương tác giữa cung và cầu và được báo hiệu đến cho người sản xuất thông qua hệ thống giá cả Nếu nhu cầu đối với một sản phẩm vượt quá mức cung cấp, giá sẽ tăng lên, báo hiệu các nhà sản xuất phải sản xuất nhiều hơn Nếu cung vượt cầu, giá sẽ giảm, báo hiệu người sản xuất sẽ sản xuất ít hơn
4
a Kinh tế thị trường
Khi thị trường được hoạt động theo hệ thống kinh tế này, nguồn cung không bị hạn chế Hạn chế cung ứng xảy ra khi chỉ có một công ty độc quyền trên thị trường
Trong những trường hợp này, thay vì tăng sản lượng để đáp ứng nhu cầu tăng lên, một nhà độc quyền có thể hạn chế sản lượng và để giá tăng Điều này cho phép nhà độc quyền thu được tỷ suất lợi nhuận lớn hơn trên mỗi đơn vị sản phẩm
mà công ty bán ra
Khi đó, người tiêu dùng phải trả giá cao hơn Bởi vì công ty độc quyền không có đối thủ cạnh tranh trên thị trường, khi đó doanh nghiệp không cần phải giảm chi phí sản xuất Thay vào đó, người tiêu dùng là người chịu chi phí sản xuất này bằng cách sản phẩm sẽ được bán với giá cao hơn
Khi đó, công ty độc quyền có khả năng sản xuất ngày càng trở nên kém hiệu quả, hàng hóa giá cao, chất lượng thấp, và có ảnh hưởng tiêu cực đến toàn thị trường
5
a Kinh tế thị trường
Để kiểm soát những rủi ro của công ty độc quyền đối với thị trường, chính phủ sẽ khuyến khích cạnh tranh mạnh mẽ và tự do công bằng giữa các nhà sản xuất bằng cách cấm các hoạt động kinh doanh độc quyền thị trường chẳng hạn như Luật chống độc quyền ở Mỹ và Liên minh Châu Âu Bên cạnh đó, sở hữu tư nhân được khuyến khích cạnh tranh và nâng cao hiệu quả kinh tế Các công ty sở
Trang 27P a g e 3 | 5
hữu tư nhân cần phải đảm bảo rằng các doanh nhân có quyền đối với lợi nhuận vì đây là do những nỗ lực do công ty tạo ra Điều này tạo động lực cho các doanh nhân tìm kiếm những cách thức tốt hơn để phục vụ tốt nhu cầu của người tiêu dùng Chẳng hạn như, doanh nghiệp có thể giới thiệu sản phẩm mới ra thị trường thông qua các hoạt động như cải thiện các quy trình sản xuất hiệu quả, theo đuổi tiếp thị và dịch vụ sau bán hàng, hoặc quản lý doanh nghiệp hiệu quả hơn so với các đối thủ cạnh tranh Do đó, sự cải tiến không ngừng trong sản phẩm và quá trình sản xuất sẽ có tác động tích cực lớn đến tăng trưởng và phát triển kinh tế của doanh nghiệp
6
b Kinh tế chỉ huy
Tiếp theo, chúng ta cùng nhau tìm hiểu với hệ thống kinh tế chỉ huy
Đối với hệ thống kinh tế chỉ huy thuần tuý, chính phủ lập kế hoạch hàng hóa và dịch vụ mà số lượng sản phẩm được sản xuất và giá cả được bán ra tại một quốc gia Hệ thống kinh tế chỉ huy phù hợp với chủ nghĩa tập thể, khi đó mục tiêu của nền kinh tế chỉ huy là để chính phủ phân bổ nguồn lực vì “lợi ích của xã hội” Ngoài ra, trong một nền kinh tế chỉ huy, tất cả các doanh nghiệp đều thuộc sở hữu nhà nước, do đó chính phủ có thể chỉ đạo doanh nghiệp thực hiện các khoản đầu tư vì lợi ích của cả quốc gia
7
b Kinh tế chỉ huy
Trong lịch sử, các nền kinh tế chỉ huy được tìm thấy ở các nước cộng sản, nơi các mục tiêu của chủ nghĩa tập thể được ưu tiên hơn các mục tiêu cá nhân Kể từ khi chủ nghĩa cộng sản sụp đổ vào cuối những năm 1980, số lượng các nền kinh
tế chỉ huy đã giảm đáng kể Một số yếu tố của nền kinh tế chỉ huy cũng xuất hiện
ở một số quốc gia dân chủ do các chính phủ theo khuynh hướng xã hội chủ nghĩa lãnh đạo Cả Pháp và Ấn Độ đều đã thử nghiệm quy hoạch rộng rãi của chính phủ và quyền sở hữu nhà nước, mặc dù quy hoạch của chính phủ đã không được đồng ý ở cả hai quốc gia
Trang 28P a g e 4 | 5
Trong nền kinh tế chỉ huy, các doanh nghiệp nhà nước có ít động lực để kiểm soát chi phí và hiệu quả Ngoài ra, việc bãi bỏ quyền sở hữu tư nhân có nghĩa là các cá nhân không có trọng tâm để tìm kiếm và cải thiện cách thức phục vụ nhu cầu của người tiêu dùng; do đó, tính năng động và đổi mới không có trong các
nền kinh tế chỉ huy Vì vậy, các nền kinh tế như vậy có xu hướng trì trệ
10
c Kinh tế hỗn hợp
Cho đến những năm 1980, Anh, Pháp và Thụy Điển là những nền kinh tế hỗn hợp, nhưng quá trình tư nhân hóa sâu rộng đã làm giảm quyền sở hữu nhà nước đối với các doanh nghiệp ở cả ba quốc gia này Một xu hướng tương tự cũng xảy
ra ở nhiều quốc gia khác nơi đã từng có một khu vực quốc doanh lớn, chẳng hạn như Brazil, Ý và Ấn Độ (mặc dù vẫn có các doanh nghiệp nhà nước ở tất cả các quốc gia này) Ngược lại, sự tham gia của nhà nước vào hoạt động kinh tế đang gia tăng trở lại ở các nước như Nga và Venezuela, nơi các chế độ độc tài đã nắm quyền kiểm soát cấu trúc chính trị, điển hình là giành được quyền lực thông qua các phương tiện dân chủ và sau đó lật đổ những cấu trúc tương tự để duy trì quyền lực của họ
Trang 29P a g e 5 | 5
Trong các nền kinh tế hỗn hợp, các chính phủ cũng có xu hướng nắm quyền sở hữu nhà nước đối với các công ty gặp khó khăn mà việc tiếp tục hoạt động được cho là quan trọng đối với lợi ích quốc gia
Khi đó, cổ phần của chính phủ được xem như là biện pháp ngắn hạn nhằm ngăn chặn sự suy sụp kinh tế bằng cách bơm vốn vào các doanh nghiệp gặp khó khăn trong những trường hợp hết sức bất thường Ngay khi có thể, chính phủ đã bán những cổ phần này
12
Ví dụ, vào năm 2008, chính phủ Hoa Kỳ đã nắm giữ 80% cổ phần của AIG để ngăn tổ chức tài chính đó sụp đổ, vì chính phủ lo rằng khi AIG bị sựp đổ, nó sẽ gây ra hậu quả rất nghiêm trọng cho toàn bộ hệ thống tài chính Và chính phủ đã bán toàn bộ cổ phần tại AIG vào năm 2012
Tài liệu tham khảo:
Charles W L Hill, 12th edition (2019), International Business: competing in the global
marketplace, McGraw-Hill, New York
Trang 30P a g e 1 | 6
BÀI GIẢNG DẠNG VĂN BẢN (SCRIPT)
Môn học: KINH DOANH QUỐC TẾ
Chương 3: SỰ KHÁC BIỆT QUỐC GIA VỀ HỆ THỐNG KINH TẾ – CHÍNH TRỊ Chủ đề 2: SỰ KHÁC BIỆT VỀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ
1
Xin chào Anh/Chị,
Chào mừng Anh/Chị đến với nội dung bài học của chủ đề 2: Sự khác biệt về hệ thống chính trị
Sau khi kết thúc chủ đề 2, Anh/Chị sẽ trình bày được các hệ thống chính trị chủ yếu trong nền kinh tế toàn cầu và giải thích được sự khác biệt trong hệ thống chính trị của các quốc gia đến hoạt động kinh doanh quốc tế
2
Các loại hệ thống chính trị:
Hệ thống chính trị của mỗi quốc gia sẽ hình thành nên hệ thống kinh tế và pháp luật của quốc gia, do đó chung ta cần phải tìm hiểu về bản chất của những khác biệt của giữa hệ thống chính trị các nước Đây cũng chính là một trong những nội dung quan trọng mà doanh nghiệp kinh doanh quốc tế cần thực hiện trước khi tiến hành mở rộng thị trường nước ngoài
Hệ thống chính trị được hiểu là hệ thống chính quyền của một quốc gia và có thể được xem xét thông qua hai khía cạnh sau:
- Khía cạnh đầu tiên của hệ thống chính trị là mức độ nhấn mạnh đến sự đối lập giữa chủ nghĩa tập thể và chủ nghĩa cá nhân
- Khía cạnh thứ hai của hệ thống chính trị là mức độ đối lập giữa chế độ dân chủ và chế độ độc tài
3 a Chủ nghĩa tập thể
Trang 31P a g e 2 | 6
Trước tiên, chúng ta sẽ tìm hiểu về chủ nghĩa tập thể Khi xét về khía cạnh chính trị, mục tiêu chung của tập thể đóng vai trò quan trọng và lên trên mục tiêu cá nhân Điều đó có nghĩa là những nhu cầu chung của xã hội sẽ nhận được nhiều
sự quan tâm hơn so với sự tự do của cá nhân Khi đó, quyền của công dân sẽ bị giới hạn vì một xã hội tiến bộ
Những quốc gia trên thế giới theo chủ nghĩa tập thể bao gồm Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, Mexico, Thổ Nhĩ Kỳ, Bồ Đào Nha
Tuy nhiên, hiện nay, các nước theo chủ nghĩa xã hội đang hoạt động theo khuynh hướng chủ nghĩa tập thể
4
b Chủ nghĩa xã hội
Bên cạnh chủ nghĩa tập thể, chúng ta sẽ tiếp tục tìm hiểu đến chủ nghĩa xã hội Chủ nghĩa xã hội hiện đại hoạt động dựa trên các ý tưởng xuất phát từ Các – Mác Ông chống lại việc của cải mà xã hội có được là do bóc lột công sức lao động của công nhân và mức lương mà họ nhận được không tương xứng mà chỉ đạt ở mức đủ sống Nhằm thay đổi nhận thức này, Mác ủng hộ quyền sở hữu nhà nước về các phương tiện sản xuất, phân phối và trao đổi Theo đó, nếu nhà nước
sở hữu các phương tiện sản xuất, phân phối và trao đổi thì có thể bảo đảm tiền công của công nhân được trả một cách xứng đáng và công bằng Từ đó, tư tưởng nhà nước quản lý là nhằm mang lại lợi ích cho toàn xã hội hơn là làm giàu cho
tư bản cá nhân
Đầu thế kỷ XX, hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa chia thành hai trường phái Cụ thể
là, những người cộng sản tin rằng chủ nghĩa xã hội chỉ có thể đạt được thông qua cách mạng bạo lực và chế độ độc tài chuyên chế Trong khi đó, các nhà dân chủ
xã hội cam kết đạt được chủ nghĩa xã hội bằng các phương thức dân chủ và chống lại cách mạng bạo lực và chế độ độc tài
Hiện nay, trên thế giới chỉ còn 4 quốc gia đang theo chủ nghĩa xã hội là Việt Nam, Trung Quốc, Lào, Cuba
Trang 32P a g e 3 | 6
Chủ nghĩa cộng sản của chủ nghĩa xã hội đã đạt đỉnh cao vào cuối những năm
1970 Vào thời điểm đó, các quốc gia có Đảng cộng sản gồm Liên Xô cũ, Trung Quốc, Lào, Việt Nam, Angola …
Tuy nhiên, đến giữa năm 1990, chủ nghĩa cộng sản đã thoái trào trên toàn thế giới Chẳng hạn như, Trung Quốc trên danh nghĩa vẫn là một quốc gia cộng sản nhưng với những giới hạn đáng kể trong tự do chính trị và kinh tế Ngoài ra, chủ nghĩa cộng sản kiểu cũ, với sự kiểm soát của nhà nước với tất cả hoạt động kinh
tế và quốc gia tiêu biểu nhất đối với chủ nghĩa cộng sản cũ này là Bắc Triều Tiên
6
c Chủ nghĩa cá nhân
Đối lập với chủ nghĩa tập thể, đó là chủ nghĩa cá nhân Với chủ nghĩa này, mỗi
cá nhân cần được tự quyết trong các hoạt động kinh tế của mình, đối lập với các quyết định do nhà nước hoặc cộng đồng Ngoài ra, chủ nghĩa cá nhân theo khuynh hướng sở hữu tư nhân tài sản, đối lập với các cơ cấu tổ chức tập thể hay nhà nước
Khi nhắc đến chủ nghĩa cá nhân thì chúng ta sẽ nhớ đến chủ nghĩa tư bản vì đây
là một hệ thống kinh tế dựa trên những quan điểm này Cá nhân phê bình chủ nhĩa tư bản hiện đại lập luận rằng chủ nghĩa tư bản không chỉ dựa trên các cá nhân mà chủ yếu dựa trên các hãng và các thể chế, và vai trò của các cá nhân là phụ thuộc vào các thể chế này Mặc khác, chủ nghĩa tư bản cũng có thể hoạt động theo chủ nghĩa tập tuỳ vào nhận thức của cá nhân Điểm khác biệt ở đây là
sự lựa chọn dựa trên nhu cầu cá nhân hay nhu cầu tập thể
Trang 33sẽ chọn ra một số cá nhân để đại diện cho các nhóm trong xã hội Những người đại diện này sẽ thành lập ra một chính phủ, nếu họ thất bại trong việc thực hiện các nhiệm vụ của mình thì sẽ không được chọn vào ban đại diện ở nhiệm kỳ sau
Để đảm bảo rằng các đại diện được bầu có thể chịu trách nhiệm về hành động của họ trước cử tri, một nền dân chủ đại diện lý tưởng có một số biện pháp bảo
vệ điển hình được quy định trong luật hiến pháp Những quyền này bao gồm quyền tự do ngôn luận, ý kiến và tổ chức của một cá nhân; truyền thông tự do; bầu cử công khai, trong đó tất cả các công dân đủ điều kiện được phép bỏ phiếu; quyền phổ thông đầu phiếu của người lớn; các nhiệm kỳ hạn chế đối với các đại diện được bầu; hệ thống tòa án công bằng độc lập với hệ thống chính trị; hệ thống hành chính phi chính trị; lực lượng cảnh sát và vũ trang phi chính trị; và
tự do truy cập thông tin
Theo báo cáo Chỉ số Dân chủ của The Economist Intelligence Unit, những quốc gia có chỉ số dân chủ cao nhất trong năm 2019 bao gồm Na Uy, Iceland, Thuỵ Điển, Phần Lan
9
e Chủ nghĩa chuyên chế
Đây là hệ thống chính trị chỉ có một đảng duy nhất cầm quyền, dù là một cá nhân, nhóm hay đảng, sẽ nắm giữ tất cả các quyền lực chính trị Trái lại với dân chủ tự do, một hệ thống toàn quyền nhằm mục đích quy định tất cả hành vi cá nhân và cộng đồng trong mọi khía cạnh của đời sống hàng ngày của người dân
Trang 3410
Hệ thống chính trị chuyên chế thể hiện qua các hành vi:
- Chủ nghĩa độc đoán: là một hệ thống độc tài như là Nam Phi trước khi kết thúc phân biệt chủng tộc
- Chủ nghĩa phát xít: mục tiêu là kiểm soát tâm trí và linh hồn của người dân Nước Đức dưới thời thống trị của Hitler là minh chứng rõ ràng nhất cho chủ nghĩa này
- Chủ nghĩa chuyên chế mới: các nhà lãnh đạo sử dụng sức mạnh nhà nước thông qua quân đội nhằm họp nhất và kiểm soát tất cả khía cạnh trong lĩnh vực kinh doanh Chủ nghĩa cộng sản là một ví dụ điển hành
- Cuối cùng, chủ nghĩa chuyên chế thần quyền: là chế độ mà những người
sẽ đứng đầu trong hệ thống chính trị, lý thuyết hay quy định tôn giáo dẫn đến những quan điểm chính trị, pháp lý, kinh tế và xã hội cực đoan Hình thức phổ biến nhất của chủ nghĩa toàn trị thần quyền dựa trên Hồi giáo và được các quốc gia như Iran và Ả Rập Xê Út làm gương Những quốc gia này hạn chế quyền tự do biểu đạt chính trị và tôn giáo bằng luật lệ dựa trên các nguyên tắc Hồi giáo
Tài liệu tham khảo
Charles W L Hill, 12th edition (2019), International Business: competing in the global
marketplace, McGraw-Hill, New York
Trang 35P a g e 6 | 6
Trịnh Thùy Anh, Trương Mỹ Diễm, Ngô Kim Trâm Anh (2017), Kinh doanh quốc tế,
NXB Kinh tế TpHCM
Trang 36P a g e 1 | 7
BÀI GIẢNG DẠNG VĂN BẢN (SCRIPT)
Môn học: KINH DOANH QUỐC TẾ
Chương 4: SỰ KHÁC BIỆT QUỐC GIA VỀ HỆ THỐNG PHÁP LUẬT – XÃ HỘI Chủ đề 1: HỆ THỐNG PHÁP LUẬT
1
Xin chào Anh/ Chị học viên thân mến,
Tiếp theo đây, chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu về nội dung chương 4: Sự khác biệt quốc gia về hệ thống pháp luật – xã hội
Sau khi hoàn thành nội dung bài học của chương 4, Anh/ Chị sẽ trình bày được tầm quan trọng của các chính sách và hệ thống pháp luật quan trong hoạt động kinh doanh quốc tế Ngoài ra, Anh/Chị sẽ phân tích được sự khác biệt của chủ nghĩa
cá nhân, chủ nghĩa tập thể và sự phân chia giai tầng trong xã hội
Với những mục tiêu đề ra nêu trên, chương 4 của chúng ta sẽ bao gồm 2 chủ đề chính:
1 Chủ đề 1: Hệ thống pháp luật
2 Chủ đề 2: Cấu trúc xã hội và sự phân chia giai tầng xã hội
2
Đầu tiên, chúng ta tìm hiểu Chủ đề 1: Hệ thống pháp luật
Với chủ đề đầu tiên, sau khi kết thúc bài học, Anh/ Chị học viên sẽ trình bày được sự khác biệt trong hệ thống pháp luật Ngoài ra, Anh/ Chị học viên còn phân tích được tác động của môi trường pháp luật của các quốc gia đến chiến lược kinh doanh quốc tế
3
Hệ thống pháp luật đóng vai trò quan trọng đối với các quốc gia thực hiện hoạt động kinh doanh quốc tế Bởi vì khi tham gia hoạt động kinh doanh quốc tế, doanh nghiệp phải đối diện với các quy định pháp luật tại chính quốc lẫn tất cả quốc gia mà họ đang tiến hành hoạt động kinh doanh ở đó Cả hai hệ thống pháp
Trang 37Sự khác biệt giữa hệ thống pháp luật của các quốc gia được thể hiện qua thông
luật, luật dân sự, luật tôn giáo
nó áp dụng cho các trường hợp riêng biệt của một vụ án cá nhân Đổi lại, mỗi cách diễn giải mới đặt ra một tiền lệ có thể được tuân theo trong các trường hợp trong tương lai Khi các tiền lệ mới phát sinh, luật có thể được thay đổi, làm rõ hoặc sửa đổi để đối phó với các tình huống mới
Khi tham gia vào hệ thống thông luật, các quốc gia này sử dụng các bộ luật do luật pháp quy định nhưng chỉ sau khi xem xét cẩn thận về các điều lệ của toà án, phong tục, lập luận của toà án, các quyết định của toà và các nguyên tắc về tính công bằng
Trang 38hệ thống dân luật chỉ có quyền áp dụng luật Ngoài ra, các quốc gia trong hệ thống này giao cho các viên chức chính trị, không phải là nhà thẩm phán của nhà nước, nhiệm vụ cụ thể hoá các điều luật được viết ra và có thể áp dụng cho tất
cả các công dân Thẩm phán áp dụng các bộ luật hợp pháp và theo thủ tục hiện hành hơn là làm luật
Dân luật được áp dụng ở hơn 70 quốc gia trong đó bao gồm Đức, Pháp và Nhật
6
c Luật tôn giáo
Hệ thống luật tôn giáo thần quyền là hệ thống luật dựa trên các giáo lý tôn giáo Người có thẩm quyền tối cao là những người lãnh đạo tôn giáo, những người này sử dụng luật của tôn giáo để cai trị xã hội
Luật Hồi giáo là hệ thống pháp luật thần quyền được thực hành rộng rãi nhất trong thế giới hiện đại, mặc dù luật Hindu và Do Thái vẫn tồn tại cho đến thế kỷ
XX Nền tảng cho luật Hồi giáo là sách thánh của Hồi giáo, kinh Koran, cùng với Sun-nah, hoặc các quyết định và câu nói của Nhà tiên tri Muhammad, và các bài viết của các học giả Hồi giáo, những người đã rút ra các quy tắc bằng phép loại suy từ các nguyên tắc được thiết lập trong Kinh Koran và Sunnah Bởi
vì kinh Koran và Sunnah là những tài liệu thánh, những nền tảng cơ bản của luật
Trang 39P a g e 4 | 7
Hồi giáo không thể thay đổi được Tuy nhiên, các luật gia và học giả Hồi giáo vẫn không ngừng tranh luận về việc áp dụng luật Hồi giáo vào thế giới hiện đại Trên thực tế, nhiều quốc gia Hồi giáo có hệ thống pháp luật là sự pha trộn giữa luật Hồi giáo và hệ thống luật dân sự hoặc thông thường
7
Sự khác biệt trong luật hợp đồng
Sự khác biệt giữa hệ thống thông luật và luật dân sự có thể được minh họa bằng cách áp dụng mỗi luật hợp đồng Hợp đồng là một văn bản quy định các điều kiện để xảy ra trao đổi và nêu chi tiết các quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan Một số hình thức hợp đồng điều chỉnh nhiều giao dịch kinh doanh Các bên của một thỏa thuận thường quy định lại luật hợp đồng khi một bên cảm thấy bên kia đã vi phạm nội dung hoặc tinh thần của thỏa thuận
Các hợp đồng được soạn thảo theo thông luật có xu hướng rất chi tiết với tất cả các trường hợp dự phòng được nêu ra Tuy nhiên, trong hệ thống luật dân sự, các hợp đồng có xu hướng ngắn hơn và ít cụ thể hơn vì nhiều vấn đề đã được quy định trong bộ luật dân sự Do đó, việc lập hợp đồng trong một cơ quan tài phán theo thông luật sẽ tốn kém hơn và việc giải quyết các tranh chấp hợp đồng
có thể rất mâu thuẫn trong các hệ thống luật chung Nhưng các hệ thống thông luật có ưu điểm là linh hoạt hơn và cho phép các thẩm phán giải thích tranh chấp hợp đồng theo tình hình phổ biến Vì vậy, doanh nghiệp thực hiện kinh doanh quốc tế cần nhạy cảm với những khác biệt này
8
2 Sự ảnh hưởng trực tiếp của hệ thống pháp luật đối với giao dịch quốc tế
Hệ thống pháp luật có tầm ảnh hưởng lớn đến mọi lĩnh vực trong hoạt động kinh doanh quốc tế của công ty chẳng hạn như nhân sự, marketing, chuỗi cung ứng,… Đối với hệ thống pháp luật, các nhà quản lý quan tâm đến 2 khía cạnh sau:
1 Các qui định pháp lý tác động đến các hoạt động kinh doanh hằng ngày của công ty như thế nào? Cụ thể như là, các qui định về việc thành lập công ty mới,
Trang 40P a g e 5 | 7
tuyển dụng và sa thải người lao động, hiệu lực hợp đồng và thủ tục đóng cửa công ty?
2 Các quy định pháp luật được áp dụng một cách có hiệu lực hoặc thiếu sự quản
lý chặt chẽ sẽ ảnh hưởng đến tính cạnh tranh lâu dài của công ty như thế nào?
9
Sự ảnh hưởng trực tiếp của hệ thống pháp luật đối với giao dịch quốc tế
Chiến lược là yếu tố đầu tiên giúp cho công ty có thể phát triển thành công cũng như tạo ra giá trị lâu dài Trong khi đó, những vấn đề pháp lý sẽ tác động tới quá trình tạo lập giá trị, hoạt động chuỗi cung ứng từ khâu sản xuất sản phẩm đến phương thức tiếp thị sản phẩm hoặc dịch vụ tại thị trường nước ngoài Điều đó cho thấy, các kế hoạch chiến lược mà công ty đa quốc gia sẽ được định hình thông qua quy định pháp luật của chính quốc cũng như nước sở tại mà công ty đang hoạt động
Trong đó, sự ảnh hưởng trực tiếp của hệ thống pháp luật đối với giao dịch quốc
tế bao gồm 5 vấn đề chính là an toàn sản phẩm và trách nhiệm pháp lý, thị trường, nguồn gốc sản phẩm, quyền thực thi pháp luật, và trọng tài phân xử
10
a An toàn sản phẩm và trách nhiệm pháp lý
Ở mỗi quốc gia khác nhau, tiêu chuẩn pháp lý liên quan đến sản phẩm thường cao hơn so với thị trường trong nước cũng như mang tính khác biệt cụ thể là các quy định liên quan đến an toàn sản phẩm ở Mỹ, Liên Minh Châu Âu và các quốc gia phát triển khác
11
Trong khi đó, ở các quốc gia kém phát triển, những quy định liên quan đến an toàn của sản phẩm thì không mang tính đồng nhất, thiếu tính chính xác, hoặc không được thực hiện và quan tâm một cách nghiêm túc
Tại Mỹ, các vụ kiện liên quan đến vấn đề về an toàn sản phẩm và trách nhiệm pháp lý có thể mang lại nhiều thiệt hại nặng nề đến công ty cũng như các khoản
bồi thường đáng kể