Chương 8: HỆ THỐNG TÀI CHÍNH - TIỀN TỆ QUỐC TẾ
4. THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI QUỐC TẾ
P a g e 2 | 6 Khái niệm
Thị trường ngoại hối chính là nơi diễn ra hoạt động mua bán các đồng tiền dựa trên cơ sở quan hệ cung - cầu. Trong xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa như hiện nay, thị trường ngoại hối tiếp tục phát huy vai trò và có những tác động mạnh mẽ đến cấu trúc hoạt động của thị trường tài chính của từng quốc gia cũng như thế giới.
Thị trường trao đổi ngoại tệ bao gồm sự tham gia của khoảng 4500 tổ chức giao dịch tiền tệ, các ngân hàng quốc tế, các ngân hàng trung ương của chính phủ và các doanh nghiệp. Mọi thanh toán cho các hoạt động mua bán, trao đổi, xuất khẩu hàng hóa - dịch vụ đều phải thông qua thị trường trao đổi ngoại tệ.
5.
Đặc điểm của thị trường ngoại hối
Đây là thị trường toàn cầu, không nhất thiết phải tập trung tại một vị trí địa lý nhất định, vì thế các hoạt động giao dịch mua bán ngoại tệ được mở rộng trên phạm vi toàn cầu nhằm phục vụ cho nhu cầu mua bán và trao đổi ngoại tệ giữa các quốc gia. Các thị trường ngoại hối chính với mức độ giao dịch lớn nhất hiện nay bao gồm: Luân Đôn, New York, Tokyo và Singapore.
6.
Thị trường này hoạt động liên tục 24/24 do sự chênh lệch múi giờ giữa các châu lục và các quốc gia nên thị trường này hầu như hoạt động liên tục. Và các giao dịch ngoại tệ được thực hiện hàng phút hàng giờ và ước tính mỗi ngày có khoảng 3200 tỉ USD được giao dịch tại thị trường này.
Trung tâm của thị trường ngoại hối là thị trường liên ngân hàng với các thành viên chủ yếu là ngân hàng thương mại, các nhà môi giới ngoại hối, các ngân hàng trung ương. Các thành viên duy trì việc trao đổi liên tục thông qua điện thoại, mạng internet, fax...
Thị trường này không chỉ hoạt động dựa trên quan hệ cung và cầu ngoại tệ trên thị trường, sự biến động của lãi suất hay chỉ số lạm phát... mà còn còn rất nhạy cảm đối với các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội...
7. Chức năng của thị trường ngoại hối
P a g e 3 | 6 Thị trường ngoại hối có nhiệm vụ đáp ứng và cân đối nhu cầu mua bán - trao đổi ngoại tệ trong nước nhằm phục vụ cho các hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ và các hoạt động kinh tế đối ngoại khác. Ngoài ra, thị trường ngoại hối còn có nhiệm vụ cân đối cung và cầu ngoại tệ với sự tham gia của ngân hàng trung ương, các ngân hàng thương mại và các nhà đầu cơ điều chỉnh tỷ giá ngoại tệ trên thị trường.
Hiện nay, hầu hết các chính phủ áp dụng cơ chế tỷ giá thả nổi cùng với sự tác động của các yếu tố khác nên tỷ giá hối đoái luôn biến động không ngừng. Sự biến động này sẽ gây ảnh hưởng đến các giao dịch thanh toán của hoạt động xuất nhập khẩu cũng như đầu tư của các doanh nghiệp. Vì thế thông qua các nghiệp vụ mua bán - trao đổi ngoại tệ trên thị trường như hợp đồng thanh toán có kỳ hạn hay quyền chọn ngoại tệ giao dịch... mà các công ty có thể phòng ngừa được các rủi ro do tỷ giá hối đoái mang lại.
8.
Một chức năng nữa của thị trường ngoại hối là tạo nguồn thu ngoại tệ cho các ngân hàng cũng như các cá nhân. Nguồn thu chủ yếu của các ngân hàng là thông qua việc kinh doanh chênh lệch tỷ giá giữa các thị trường. Các doanh nghiệp cũng như các cá nhân cũng có thể tham gia các hoạt động đầu cơ ngoại tệ ở các thị trường khác để thu lời.
9.
Các thành phần tham gia thị trường ngoại hối
Thành phần chính tham gia trên thị trường ngoại hối bao gồm các ngân hàng trung ương, ngân hàng quốc tế, các ngân hàng thương mại cỡ lớn, các nhà môi giới ngoại hối nhà đầu tư tài chính, các doanh nghiệpvà các khách hàng mua bán lẻ.
10.
TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI Khái niệm
Tỷ giá hối đoái là sự so sánh sức mua giữa các đồng tiền của các quốc gia với nhau. Đó là việc chuyển đổi một đơn vị tiền tệ của nước này thành những đơn vị tiền tệ của nước khác.
P a g e 4 | 6 Ví dụ: Tỷ giá giữa USD và VND tháng 2 năm 2011 là: 1 USD = 20.800VND
11.
Phân loại tỷ giá hối đoái
Căn cứ vào chế độ quản lý ngoại hối của từng quốc gia, tỷ giá hối đoái có thể được áp dụng theo các hình thức dưới đây:
Tỷ giá chính thức
Là tỷ giá do ngân hàng trung ương của mỗi quốc gia công bố và áp dụng. Tỷ giá này được ngân hàng trung ương công bố vào đầu giờ làm việc của mỗi ngày.
Các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng sẽ sử dụng tỷ giá này để ấn định tỷ giá hoán đổi, mua bán ngoại tệ giao ngay hay các giao dịch có kỳ hạn.
Tỷ giá kinh doanh
Là tỷ giá được dùng trong các giao dịch mua bán ngoại tệ. Tỷ giá này được ấn định bởi các ngân hàng thương mại hay các tổ chức tín dụng. Tỷ giá này được xác định dựa vào các yếu tố như tình hình chính trị, kinh tế, các quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trường, tỷ suất lợi nhuận...
Tỷ giá thị trường tự do
Tỷ giá này do thị trường mua bán ngoại tệ không chính thức hình thành nên. Tỷ giá này được xác định chủ yếu dựa vào quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trường.
Bên cạnh đó, căn cứ vào từng thời điểm thanh toán mà các ngân hàng, tổ chức tín dụng hay các doanh nghiệp có thể sử dụng các loại tỷ giá sau:
▪ Tỷ giá giao ngay: là tỷ giá được áp dụng ngay trong ngày hôm đó hoặc một vài ngày sau hợp đồng giao dịch mua bán, trao đổi ngoại tệ được ký kết. Tỷ giá này được các ngân hàng thương mại yết giá tại thời điểm giao dịch hoặc do hai bên thỏa thuận nhưng phải bảo đảm nằm trong biên độ do ngân hàng trung ương ấn định.
▪ Tỷ giá có kỳ hạn: là tỷ giá mua hay bán ngoại tệ mà trong đó việc chuyển giao ngoại tệ sẽ được thực hiện trong một thời gian nhất định kể từ khi hợp đồng được thỏa thuận. Khi áp dụng loại tỷ giá này các doanh nghiệp có thể gặp các rủi ro phát sinh do sự biến động bất thường của tỷ giá.
P a g e 5 | 6 Khi căn cứ vào phương tiện thanh toán thì tỷ giá được thực hiện theo các hình thức sau:
▪ Tỷ giá điện hối: là tỷ giá thường được niêm yết tại ngân hàng, là tỷ giá chuyển ngoại hối bằng điện.
▪ Tỷ giá thư hối: tỷ giá chuyển ngoại hối bằng thư.
▪ Tỷ giá của séc và hối phiếu trả tiền ngay được mua vào và bán ra theo một tỷ giá được tính bằng: tỷ giá điện hối - số tiền lãi của trị giá toàn bộ của séc và hối phiếu phát sinh theo số ngày mà bưu điện sẽ chuyển từ nước này sang nước khác và số ngày từ lúc ngân hàng bán ra cho đến lúc thanh toán.
▪ Tỷ giá chuyển khoản bao giờ cũng lớn hơn tỷ giá tiền mặt.
12.
Nhân tố tác động đến tỷ giá hối đoái
Như chúng ta vừa đề cập, tỷ giá hối đoái được hình thành và bị tác động bởi nhiều yếu tố. Trong đó có ba yếu tố chính tác động đến tỷ giá, đó là nhu cầu về ngoại tệ trên thị trường, lãi suất và mức độ lạm phát giữa các quốc gia.
Cán cân thanh toán quốc tế
Nhu cầu về ngoại tệ trên thị trường là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự biến động của tỷ giá hối đoái. Nếu nhu cầu về ngoại tệ tăng do phải thanh toán hàng nhập khẩu, khi đó cán cân thanh toán quốc tế sẽ rơi vào tình trạng thâm hụt, sẽ dẫn đến việc tỷ giá hối đoái được nâng lên. Ngược lại, nếu cán cân thanh toán quốc tế dư thừa dẫn đến khả năng cung ngoại tệ lớn hơn cầu ngoại tệ thì tỷ giá hối đoái sẽ giảm.
Mức độ lạm phát giữa các quốc gia
Mức độ lạm phát của một quốc gia cũng sẽ tác động đến giá trị đồng tiền quốc gia đó, dẫn đến sự thay đổi của tỷ giá hối đoái. Quốc gia nào có mức độ lạm phát lớn hơn quốc gia kia thì sức mua của nội tệ sẽ giảm so với ngoại tệ. Nếu mức độ lạm phát này càng ngày càng tăng thì đồng nội tệ càng mất giá, sức mua giám đáng kể sẽ làm cho tỷ giá hối đoái tăng lên.
P a g e 6 | 6 13.
Mức chênh lệch lãi suất giữa các nước
Quốc gia nào có lãi suất tiền gửi ngắn hạn cao hơn lãi suất tiền gửi của các quốc gia khác thì vốn ngắn hạn sẽ chảy vào nhằm thu phần chênh lệch do tiền lãi tạo ra, do đó sẽ làm cho cung ngoại tệ tăng lên dẫn đến tỷ giá hối đoái sẽ giảm xuống.
Ngoài các nhân tố trên, tỷ giá hối đoái còn chịu sự tác động của các yếu tố chính trị, kinh tế xã hội, chiến tranh...
14.
Các biện pháp điều chỉnh tỷ giá hối đoái
Trong nền kinh tế sản xuất hàng hóa, tỷ giá hối đoái chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố và biến động một cách tự phát. Nhà nước có thể áp dụng nhiều phương pháp để điều chỉnh tỷ giá hối đoái.
- Chính sách chiết khấu - Chính sách hối đoái - Lập quỹ bình ổn hối đoái - Phá giá tiền tệ
15.
Hết chủ đề 1 – chương 8.
Các bạn nghỉ ngơi và đừng quên dành thêm thời gian đọc bài đọc thêm cùng với việc làm các bài trắc nghiệm cuối mỗi chương đúng tiến độ nhé.
Thân mến chào các bạn!
P a g e 1 | 6
BÀI GIẢNG DẠNG VĂN BẢN (SCRIPT) Môn học: KINH DOANH QUỐC TẾ
Chương 8: HỆ THỐNG TÀI CHÍNH - TIỀN TỆ QUỐC TẾ Chủ đề 2: Lịch sử hệ thống tiền tệ quốc tế
Slide Nội dung
1.
Mến chào tất cả các bạn,
Nội dung chủ đề 1 của chương 8, chúng ta đã tìm hiểu về các khái niệm liên quan đến khái niệm về tỷ giá hối đoái cùng với chức năng và vai trò của thị trường ngoại hối. Thông qua đó chúng ta có thể hiểu rõ các loại tỷ giá hối đoái và các phương thức thanh toán quốc tế để từ đó các doanh nghiệp, các nhà đầu tư có thể lựa chọn đồng tiền thích hợp cho các giao dịch thanh toán quốc tế cũng như đầu tư của mình.
2. Tiếp tục với chủ đề 2, chúng ta cùng tìm hiểu về lịch sử hệ thống tiền tệ toàn cầu
3.
Chuẩn đầu ra của chương 8
- Khái quát hóa lịch sử phát triển hệ thống tiền tệ toàn cầu.
- Đánh giá sự khác biệt giữa hệ thống tỷ giá cố định và hệ thống tỷ giá thả nổi.
- Phân tích được lý do và bối cảnh ra đời của ba giai đoạn chính của lịch sử hệ thống tiền tệ toàn cầu.
- Trình bày về chức năng hoạt động chính của quỹ tiền tệ thế giới.
4.
Hệ thống tiền tệ quốc tế
Hệ thống tiền tệ quốc tế là tập hợp các quy tắc, thể lệ và tổ chức nhằm tác động tới các quan hệ tài chính - tiền tệ giữa các quốc gia trên thế giới, cũng như tác động đến các mối quan hệ đối ngoại và các lý do chính trị
P a g e 2 | 6 khác. Có ba hệ thống tiền tệ quốc tế chính được sử dụng và đề cập nhiều
nhất là chế độ bản vị vàng, hệ thống Bretton Woods và hệ thống Jamaica.
Các hệ thống tiền tệ quốc tế được hình thành và áp dụng hiệu quả trong những điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội nhất định nên khi những điều kiện này thay đổi thì những hệ thống tiền tệ quốc tế này sẽ không còn phù hợp nữa và dẫn đến sụp đổ.
5.
Chế độ bản vị vàng
Chế độ bản vị vàng là chế độ tiền tệ mà phương tiện tính toán kinh tế tiêu chuẩn được ấn định bằng hàm lượng vàng.
Dưới chế độ bản vị vàng, các tổ chức phát hành tiền mặt (ở dạng giấy bạc hay tiền xu) cam kết sẽ nhận lại tiền mặt và trả lại bằng vàng nếu như khách hàng yêu cầu. Các Chính phủ sử dụng thước đo giá trị cố định này nếu chấp nhận thanh toán cả tiền mặt của chính phủ nước khác bằng vàng sẽ có liên hệ tiền tệ ấn định (lượng tiền mặt lưu hành, tỷ giá quy đổi,...) Chế độ bản vị vàng được nhiều người ủng hộ vì theo họ chế độ này có thể giảm bớt được tình trạng tăng tín dụng và nợ nần. Khác với chế độ tiền không có sự đảm bảo của vàng, đồng tiền được bảo đảm bằng vàng sẽ không cho phép chính phủ tùy tiện in tiền giấy, giảm tình trạng lạm phát do phá giá tiền tệ. Với chế độ bản vị vàng, họ tin rằng sẽ có thể ổn định được hệ thống tiền tệ, đảm bảo sự tín nhiệm của tổ chức phát hành tiền tệ và khuyến khích hoạt động cho vay. Ở các quốc gia không áp dụng bản vị vàng mà lại phát hành tiền giấy nhiều hơn đã gặp phải cuộc khủng hoảng tín dụng và trì trệ kinh tế. Ví dụ như nền kinh tế của Mỹ năm 1819 sau khi Ngân hàng quốc gia thứ hai ra đời năm 1816.
6.
Ngày nay, chế độ bản vị vàng không còn được bất kỳ quốc gia nào áp dụng trong hệ thống tài chính - tiền tệ. Các chính phủ áp dụng việc phát hàng đồng tiền của quốc gia mình và yêu cầu các hoạt động mua bán,
P a g e 3 | 6 thanh toán, nộp thuế, nhận trợ cấp, bằng đồng tiền đó. Tuy nhiên ở một
số định chế tài chính tư nhân, bản vị vàng vẫn được áp dụng.
Lý do vì sao vàng lại được áp dụng trong hệ thống tiền tệ vì vàng là tinh khiết, không bị biến đổi theo thời gian, khối lượng riêng lớn được xem như là thước đo giá trị và là của cải để cất giữ.
7.
Hệ thống Bretton Woods (1945-1971)
Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, hệ thống kinh tế và tài chính thế giới rơi vào khủng hoảng dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống bản vị. Vì thế vào năm 1944, 730 đại biểu đến từ 44 quốc gia đã nhóm họp tại Bretton Woods, New Hampshire, Anh nhằm xây dựng lại hệ thống tài chính thế giới. Trong cuộc họp này các quốc gia đã thống nhất thành lập ra một hệ thống tài chính được gọi là Bretton Woods - bao gồm Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB) và chế độ tỷ giá hối đoái cố định được xây dựng quanh đồng đôla Mỹ gắn với vàng. Vì trong thời gian này Mỹ nắm giữ gần như toàn bộ trữ lượng vàng của thế giới và nền kinh tế Mỹ chiếm hơn phân nửa tiềm năng sản xuất của thế giới và các nhà lãnh đạo quyết định 35 USD bằng một ounce.
Khi áp dụng hệ thống Bretton Woods, các ngân hàng trung ương của các quốc gia phải có nhiệm vụ duy trì tỷ giá hối đoái cố định giữa các đồng tiền của họ với đồng đôla Mỹ thông qua các chính sách can thiệp vào các thị trường ngoại hối. Trong trường hợp giá trị đồng tiền của một quốc gia cao hơn so với đồng đôla thì ngân hàng trung ương của nuớc đó cần phải bán tiền của mình để đổi lấy USD và phải phá giá đồng tiền của quốc gia mình. Ngược lại, nếu quốc gia nào có giá trị đồng tiền thấp hơn thì quốc gia đó cần phải mua vào tiền của chính mình và sẽ nâng giá của đồng tiền đó lên.
8. Tuy nhiên đến năm 1971, hệ thống Bretton Woods bị sụp đổ vì các nước châu Âu muốn cải thiện cán cân thương mại của quốc gia mình thông qua
P a g e 4 | 6 việc phá giá đồng tiền của quốc gia so với đồng USD để kích thích hoạt
động xuất nhập khẩu. Bên cạnh đó do quan hệ thương mại giữa các quốc gia với Mỹ ngày càng tăng và đồng USD được sử dụng một cách phổ biến trong các giao dịch mua bán trao đổi hàng hoá mà không cần quy đổi ra vàng, vì thế các quốc gia cố gắng gia tăng số lượng dự trữ đồng USD của mình, đồng thời một lượng lớn USD được sử dụng trong việc đầu tư sang các quốc gia khác với lãi suất cao hơn tại Mỹ. Mỹ đã cố gắng duy trì việc bán vàng với tỷ giá cố định 35 USD/1 ounce vàng, nhưng khi USD bị mất giá, các nước đồng minh không chấp nhận tỷ giá cố định này nữa. Và Mỹ đã phải phá giá đồng USD và tuyên bố rút khỏi Hiệp ước Bretton Woods và xóa bỏ tỷ giá cố định 35 USD/1 ounce vàng.
9.
Chế độ tiền tệ Jamaica
Sau khi hệ thống Bretton Woods sụp đổ vào năm 1971, vào năm 1975- 1976 chế độ tiền tệ Jamica ra đời. Trong những sửa đổi này cũng quy định trách nhiệm và quyền hạn của IMF trong việc giám sát chặt chẽ các chính sách tỷ giá của các nước thành viên.
10.
Nội dung chính của chế độ tiền tệ này quy định:
1. Các nước thành viên được áp dụng chế độ tỷ giá theo ý muốn như chế độ tỷ giá cố định với SDR (Special Drawing Rights) hay cố định với bất cứ đồng tiền nào khác và có nghĩa vụ thông báo cho IMF về chế độ tỷ giá của mình nhưng không được gắn cố định đồng tiền của mình với vàng.
2. Các thành viên không được lợi dụng tỷ giá hay Hệ thống tiền tệ quốc tế đế tác động đến các chính sách điều chỉnh cán cân thanh toán, hoặc để kiếm lợi từ lợi thế cạnh tranh của đồng tiền quốc gia mình so với các quốc gia thành viên khác.