BÀI GIẢNG DẠNG VĂN BẢN (SCRIPT)
Chương 3: SỰ KHÁC BIỆT QUỐC GIA VỀ HỆ THỐNG KINH TẾ – CHÍNH TRỊ Chủ đề 1: SỰ KHÁC BIỆT VỀ HỆ THỐNG KINH TẾ
Slide Nội dung
1.
Xin chào quý Anh/ Chị học viên thân mến,
Chào mừng Anh/ Chị đến với nội dung bài học của chương 3: Sự khác biệt quốc gia về hệ thống kinh tế - chính trị. Sau khi kết thúc chương này, Anh/ Chị sẽ phân tích được những khác biệt giữa các quốc gia về kinh tế - chính trị cũng như sự tác động của những khác biệt này đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khi thâm nhập thị trường nước ngoài.
Với nội dung chương 3, chúng ta sẽ có 2 chủ đề chính:
- Chủ đề 1: Sự khác biệt giữa các quốc gia về hệ thống kinh tế.
- Chủ đề 2: Sự khác biệt giữa các quốc gia về hệ thống chính trị.
2.
Trước tiên, chúng ta tìm hiểu về chủ đề đầu tiên - Sự khác biệt giữa các quốc gia về hệ thống kinh tế. Với nội dung bài học chủ đề 1, Anh/Chị sẽ trình bày các hệ thống kinh tế cũng như giải thích được sự khác biệt trong hệ thống kinh tế của các quốc gia đến hoạt động kinh doanh quốc tế của doanh nghiệp.
3.
Hệ thống kinh tế tiêu biểu
Đối với những quốc gia xem trọng chủ nghĩa cá nhân hơn chủ nghĩa tập thể thì hệ thống kinh tế thị trường là hệ thống kinh tế chủ yếu. Trong khi đó, ở những quốc gia theo chủ nghĩa tập thể, nhà nước kiểm soát nhiều mục tiêu và thị trường ở những quốc gia này thường bị hạn chế.
Trên thế giới hiện nay có ba hệ thống kinh tế lớn là kinh tế thị trường, kinh tế chỉ huy và kinh tế hỗn hợp.
P a g e 2 | 5 a. Kinh tế thị trường
Đầu tiên, chúng ta cùng nhau tìm hiểu về hệ thống kinh tế thị trường.
Với hệ thống kinh tế thị trường, mọi hoạt động sản xuất đều thuộc sở hữu tư nhân. Hàng hóa và dịch vụ mà một quốc gia sản xuất ra không được hoạch định bởi sự tương tác giữa cung và cầu và được báo hiệu đến cho người sản xuất thông qua hệ thống giá cả. Nếu nhu cầu đối với một sản phẩm vượt quá mức cung cấp, giá sẽ tăng lên, báo hiệu các nhà sản xuất phải sản xuất nhiều hơn. Nếu cung vượt cầu, giá sẽ giảm, báo hiệu người sản xuất sẽ sản xuất ít hơn.
4.
a. Kinh tế thị trường
Khi thị trường được hoạt động theo hệ thống kinh tế này, nguồn cung không bị hạn chế. Hạn chế cung ứng xảy ra khi chỉ có một công ty độc quyền trên thị trường.
Trong những trường hợp này, thay vì tăng sản lượng để đáp ứng nhu cầu tăng lên, một nhà độc quyền có thể hạn chế sản lượng và để giá tăng. Điều này cho phép nhà độc quyền thu được tỷ suất lợi nhuận lớn hơn trên mỗi đơn vị sản phẩm mà công ty bán ra.
Khi đó, người tiêu dùng phải trả giá cao hơn. Bởi vì công ty độc quyền không có đối thủ cạnh tranh trên thị trường, khi đó doanh nghiệp không cần phải giảm chi phí sản xuất. Thay vào đó, người tiêu dùng là người chịu chi phí sản xuất này bằng cách sản phẩm sẽ được bán với giá cao hơn.
Khi đó, công ty độc quyền có khả năng sản xuất ngày càng trở nên kém hiệu quả, hàng hóa giá cao, chất lượng thấp, và có ảnh hưởng tiêu cực đến toàn thị trường.
5.
a. Kinh tế thị trường
Để kiểm soát những rủi ro của công ty độc quyền đối với thị trường, chính phủ sẽ khuyến khích cạnh tranh mạnh mẽ và tự do công bằng giữa các nhà sản xuất bằng cách cấm các hoạt động kinh doanh độc quyền thị trường chẳng hạn như Luật chống độc quyền ở Mỹ và Liên minh Châu Âu. Bên cạnh đó, sở hữu tư nhân được khuyến khích cạnh tranh và nâng cao hiệu quả kinh tế. Các công ty sở
P a g e 3 | 5 hữu tư nhân cần phải đảm bảo rằng các doanh nhân có quyền đối với lợi nhuận vì đây là do những nỗ lực do công ty tạo ra. Điều này tạo động lực cho các doanh nhân tìm kiếm những cách thức tốt hơn để phục vụ tốt nhu cầu của người tiêu dùng. Chẳng hạn như, doanh nghiệp có thể giới thiệu sản phẩm mới ra thị trường thông qua các hoạt động như cải thiện các quy trình sản xuất hiệu quả, theo đuổi tiếp thị và dịch vụ sau bán hàng, hoặc quản lý doanh nghiệp hiệu quả hơn so với các đối thủ cạnh tranh. Do đó, sự cải tiến không ngừng trong sản phẩm và quá trình sản xuất sẽ có tác động tích cực lớn đến tăng trưởng và phát triển kinh tế của doanh nghiệp.
6.
b. Kinh tế chỉ huy
Tiếp theo, chúng ta cùng nhau tìm hiểu với hệ thống kinh tế chỉ huy.
Đối với hệ thống kinh tế chỉ huy thuần tuý, chính phủ lập kế hoạch hàng hóa và dịch vụ mà số lượng sản phẩm được sản xuất và giá cả được bán ra tại một quốc gia. Hệ thống kinh tế chỉ huy phù hợp với chủ nghĩa tập thể, khi đó mục tiêu của nền kinh tế chỉ huy là để chính phủ phân bổ nguồn lực vì “lợi ích của xã hội”.
Ngoài ra, trong một nền kinh tế chỉ huy, tất cả các doanh nghiệp đều thuộc sở hữu nhà nước, do đó chính phủ có thể chỉ đạo doanh nghiệp thực hiện các khoản đầu tư vì lợi ích của cả quốc gia.
7.
b. Kinh tế chỉ huy
Trong lịch sử, các nền kinh tế chỉ huy được tìm thấy ở các nước cộng sản, nơi các mục tiêu của chủ nghĩa tập thể được ưu tiên hơn các mục tiêu cá nhân. Kể từ khi chủ nghĩa cộng sản sụp đổ vào cuối những năm 1980, số lượng các nền kinh tế chỉ huy đã giảm đáng kể. Một số yếu tố của nền kinh tế chỉ huy cũng xuất hiện ở một số quốc gia dân chủ do các chính phủ theo khuynh hướng xã hội chủ nghĩa lãnh đạo. Cả Pháp và Ấn Độ đều đã thử nghiệm quy hoạch rộng rãi của chính phủ và quyền sở hữu nhà nước, mặc dù quy hoạch của chính phủ đã không được đồng ý ở cả hai quốc gia.
8. b. Kinh tế chỉ huy
P a g e 4 | 5 Trong nền kinh tế chỉ huy, các doanh nghiệp nhà nước có ít động lực để kiểm soát chi phí và hiệu quả. Ngoài ra, việc bãi bỏ quyền sở hữu tư nhân có nghĩa là các cá nhân không có trọng tâm để tìm kiếm và cải thiện cách thức phục vụ nhu cầu của người tiêu dùng; do đó, tính năng động và đổi mới không có trong các nền kinh tế chỉ huy. Vì vậy, các nền kinh tế như vậy có xu hướng trì trệ.
9.
c. Kinh tế hỗn hợp
Cuối cùng, chúng ta cùng nhau tìm hiểu về khái niệm và đặc điểm của hệ thống kinh tế hỗn hợp.
Hệ thống kinh tế hỗn hợp là sự giao thoa giữa hệ thống kinh tế chỉ huy và hệ thống kinh tế thị trường. Khi đó, một số lĩnh vực trong hệ thống kinh tế hỗn hợp được để lại cho sở hữu tư nhân và cơ chế thị trường tự do, trong khi các lĩnh vực khác có sở hữu nhà nước đáng kể và do chính phủ quy hoạch. Nền kinh tế hỗn hợp đã từng phổ biến ở hầu hết các nước phát triển tuy nhiên ngày càng ít quốc gia vận hành theo hệ thống kinh tế này.
10.
c. Kinh tế hỗn hợp
Cho đến những năm 1980, Anh, Pháp và Thụy Điển là những nền kinh tế hỗn hợp, nhưng quá trình tư nhân hóa sâu rộng đã làm giảm quyền sở hữu nhà nước đối với các doanh nghiệp ở cả ba quốc gia này. Một xu hướng tương tự cũng xảy ra ở nhiều quốc gia khác nơi đã từng có một khu vực quốc doanh lớn, chẳng hạn như Brazil, Ý và Ấn Độ (mặc dù vẫn có các doanh nghiệp nhà nước ở tất cả các quốc gia này). Ngược lại, sự tham gia của nhà nước vào hoạt động kinh tế đang gia tăng trở lại ở các nước như Nga và Venezuela, nơi các chế độ độc tài đã nắm quyền kiểm soát cấu trúc chính trị, điển hình là giành được quyền lực thông qua các phương tiện dân chủ và sau đó lật đổ những cấu trúc tương tự để duy trì quyền lực của họ.
11. c. Kinh tế hỗn hợp
P a g e 5 | 5 Trong các nền kinh tế hỗn hợp, các chính phủ cũng có xu hướng nắm quyền sở hữu nhà nước đối với các công ty gặp khó khăn mà việc tiếp tục hoạt động được cho là quan trọng đối với lợi ích quốc gia.
Khi đó, cổ phần của chính phủ được xem như là biện pháp ngắn hạn nhằm ngăn chặn sự suy sụp kinh tế bằng cách bơm vốn vào các doanh nghiệp gặp khó khăn trong những trường hợp hết sức bất thường. Ngay khi có thể, chính phủ đã bán những cổ phần này.
12.
Ví dụ, vào năm 2008, chính phủ Hoa Kỳ đã nắm giữ 80% cổ phần của AIG để ngăn tổ chức tài chính đó sụp đổ, vì chính phủ lo rằng khi AIG bị sựp đổ, nó sẽ gây ra hậu quả rất nghiêm trọng cho toàn bộ hệ thống tài chính. Và chính phủ đã bán toàn bộ cổ phần tại AIG vào năm 2012.
13. Xin cảm ơn và hẹn gặp lại tất cả Anh/ Chị ở những chương sau.