Slide Nội dung
1.
Xin chào Anh/ Chị,
Tiếp theo đây, chúng ta cùng nhau tìm hiểu nội dung chủ đề 2: Hệ quả kinh tế của tôn giáo.
Sau khi kết thúc nội dung bài học, Anh/ Chị sẽ nắm được sự thay đổi về văn hoá cũng như mối quan hệ giữa hệ quả kinh tế và các tôn giáo khác nhau như Thiên Chúa giáo, Hồi giáo, Phật giáo và Ấn Độ giáo.
2.
Sự thay đổi về văn hoá
Văn hoá không phải là tiêu chuẩn mà nó sẽ phát triển và thay đổi theo thời gian.
Những thay đổi trong hệ thống giá trị có thể diễn ra khá chậm nhưng vẫn ảnh hưởng sâu sắc đến xã hội.
Chẳng hạn như, khi có sự xuất hiện của công nghệ thông tin như truyền hình cáp, Internet,… giúp cho mọi người trên thế giới dễ dàng tiếp cận đa dạng thông tin khác nhau như chính trị, văn hoá, thiên tai,…. Chính vì lý do đó, văn hoá đang ngày càng trở nên gần gũi với mỗi cá nhân hơn.
Bên cạnh đó, thị trường du lịch ngày càng nhộn nhịp và mức độ cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ cũng tạo điều kiện giúp cho mọi người có thể dễ dàng tiếp cận văn hoá hơn. Anh/ Chị có thể hiểu rằng trong quá trình tiếp cận văn hoá thuộc các quốc gia khác nhau, việc mỗi cá nhân ghi chép so sánh, học tập, trau dồi thêm kiến thức liên quan đến văn hoá thì đây được xem là bước đầu tiên trong sự tiếp nhận và biến đổi văn hoá. Sự thay đổi này được khái quát một cách rõ rệt
P a g e 2 | 6 qua quá trình điều chỉnh và thích nghi nền văn hoá mới của mỗi cá nhân đặc biệt là nhà quản trị khi phải thường xuyên làm việc với đối tác hay công tác ở nhiều quốc gia khác nhau.
Chính vì thế, công ty khi thực hiện kinh doanh quốc tế cần phải nhận biệt các thuộc tính quan trọng của văn hoá nhằm hạn chế những rủi ro do sự khác biệt của văn hoá.
3.
Mối quan hệ giữa hệ quả kinh tế và Thiên Chúa giáo
Tiếp theo đây, cô cùng với Anh/ Chị cùng nhau phân tích mối quan hệ giữa hệ quả kinh tế và Thiên Chúa giáo.
Vào năm 1904, nhà xã hội học nổi tiếng người Đức Max Weber đã tạo ra mối liên hệ giữa đạo đức Tin lành và “tinh thần của chủ nghĩa tư bản” mà từ đó đã trở nên nổi tiếng. Ông cho rằng chủ nghĩa tư bản đã xuất hiện ở Tây Âu nơi mà các nhà lãnh đạo doanh nghiệp và chủ sở hữu vốn, lao động có tay nghề cao nhiều hơn sơ với những nhân viên được đào tạo về kỹ thuật và thương mại cao hơn ở các doang nghiệp hiện đại và họ chủ yếu là những người theo đạo Tin Lành.
Đối với người dân theo đạo Tin Lành, chăm chỉ làm việc, tạo nên của cải và sự tiết kiệm chính là những yếu tố quan trọng mà người theo đạo cần phải tuân theo.
Dựa vào yếu tố này, tín đồ Tin Lành luôn cố gắng làm việc chăm chỉ và tích luỹ một cách có hệ thống. Chính vì lý do đó, tín đồ theo đạo Tin Lành thường sẽ kết hợp giữa làm việc chăm chỉ và tích luỹ tài sản thông qua việc đầu tư tài chính nhằm góp phần mở rộng công ty. Vì họ cho rằng thay vì tiêu xài của cải này bằng cách ham mê những thú vui trần tục, họ nên đầu tư nó vào việc mở rộng quy mô kinh doanh tư bản. Do đó, sự kết hợp giữa làm việc chăm chỉ và tích lũy vốn, vốn có thể được sử dụng để tài trợ cho đầu tư và mở rộng, đã mở đường cho sự phát triển của chủ nghĩa định cư ở Tây Âu và sau đó là ở Hoa Kỳ.
Chẳng hạn như, ở các nước phương Tây như Mỹ và Canada luôn mong muốn cuộc họp, thương thảo với đối tác luôn cần được tổ chức đúng giá và tránh trễ
P a g e 3 | 6 hẹn. Đây cũng là một trong những đạo lý của đạo Tin Lành là luôn khuyến khích con người làm việc chăm chỉ và tránh lãnh phí thời gian. Trong khi đó, với tín đồ theo đạo Thiên Chúa giáo thì lại không thúc đẩy đạo đức làm như là tín đồ theo đạo Tin Lành.
4.
Mối quan hệ giữa hệ quả kinh tế và Ấn Độ giáo
Sau đây, chúng ta cùng nhau tìm hiểu về mối quan hệ giữa hệ quả kinh tế và Ấn Độ giáo. Với người theo đạo Hindu thì các tín đồ quan tâm đến khía cạnh tâm linh hơn là sự thành công về mặt kinh tế. Người theo đạo Hindu cho rằng việc theo đuổi hạnh phúc vật chất khiến việc đạt được niết bàn trở nên khó khăn hơn. Ấn Độ giáo hướng đến một cuộc sống khổ hạnh và không quan tâm nhiều đến vật chất do dó nó cũng ảnh hưởng đến việc tạo ra của cải và năng suất lao động trong xã hội.
Ngoài ra, Anh/Chị cần phải nắm rõ rằng đối với quốc gia thuộc Ấn Độ giáo, các hoạt động hay công việc mang tính cá nhân thường sẽ rất hạn chế do đó có thể ảnh hưởng đến thị trường lao động và các cơ hội kinh doanh trong tương lai.
5.
Mối quan hệ giữa hệ quả kinh tế và Hồi giáo
Trong khi đó, đạo Hồi thì lại nhấn mạnh đến nghĩa vụ của cá nhân đối với xã hội. Với hệ tư tưởng này, lợi nhuận mà mỗi cá nhân thu được từ hoạt động kinh doanh chính đáng thì sẽ được chấp nhận, nhưng lợi nhuận thu về từ các hoạt động lừa đảo thiếu sự minh bạch thì sẽ không được công nhận. Những nguyên tắc kinh tế này được trình bày một cách cụ thể và rõ ràng qua Kinh Koran.
Theo đạo Hồi, những người nắm giữ tài sản được coi là người uy thác hơn là người sở hữu. Với tư cách là người được ủy thác, họ có quyền nhận lợi nhuận từ tài sản nhưng được khuyến khích sử dụng tài sản đó một cách chính đáng, có lợi cho xã hội và thận trọng. Điều này phản ánh mối quan tâm của Hồi giáo đối với công bằng xã hội. Hồi giáo chỉ trích những người kiếm được lợi nhuận thông qua việc bóc lột người khác.
P a g e 4 | 6 Theo quan điểm Hồi giáo về thế giới, con người là một phần của tập thể, trong đó những người giàu có và thành đạt có nghĩa vụ giúp đỡ những người thiệt thòi.
Nói một cách đơn giản, ở các quốc gia Hồi giáo, bạn có thể kiếm được lợi nhuận, miễn là lợi nhuận đó kiếm được một cách chính đáng và không dựa trên sự lợi dụng của người khác vì lợi ích của riêng mình. Nó cũng hữu ích nếu những người kiếm được lợi nhuận thực hiện các hành động từ thiện để giúp đỡ người nghèo.
Hơn nữa, Hồi giáo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tuân thủ các nghĩa vụ hợp đồng, giữ lời của một người và tránh lừa dối.
6.
Mối quan hệ giữa hệ quả kinh tế và Hồi giáo
Một nguyên tắc kinh tế khác của đạo Hồi là nghiêm cấm việc thanh toán hoặc nhận tiền lãi, được coi là cho vay nặng lãi. Đây không chỉ là một vấn đề của thần học; ở một số quốc gia Hồi giáo, đó cũng là một vấn đề của luật pháp. Trong nhiều năm, các ngân hàng hoạt động ở các nước Hồi giáo đã bỏ qua sự lên án này một cách thuận tiện, nhưng bắt đầu từ những năm 1970 với việc thành lập một ngân hàng Hồi giáo ở Ai Cập, các ngân hàng Hồi giáo đã được mở ở các nước chủ yếu là Hồi giáo. Hiện có hàng trăm ngân hàng Hồi giáo ở hơn 50 quốc gia. Các ngân hàng thông thường cũng đang tham gia thị trường này như Citigroup và HSBC, hai trong số các tổ chức tài chính lớn nhất thế giới, hiện cung cấp các dịch vụ tài chính Hồi giáo. Trong khi chỉ có Iran và Sudan thực thi các quy ước ngân hàng Hồi giáo, ở một số quốc gia ngày càng tăng, khách hàng có thể lựa chọn giữa ngân hàng thông thường và ngân hàng Hồi giáo.
7.
Mối quan hệ giữa hệ quả kinh tế và Hồi giáo
Bên cạnh đó, nhóm nước theo đạo Hồi đặc biệt là người Malaysia thích biểu thị thái độ lịch sự khi đàm phán bằng việc đặt các câu hỏi lựa chọn như là “Yêu cầu của chúng tôi có phù hợp với quý ngài hay không?”. Đối với người Hồi giáo, nhằm thể hiện phép lịch sự, họ không muốn ngắt lời người khác, chỉ trích ai và cũng như thể hiện những tình cảm tiêu cực của mình. Ngược lại, họ cũng muốn được người khác đối xử như thế.
P a g e 5 | 6 Do đó, Anh/ Chị cần phải nắm rõ rằng quy định, thủ tục kinh doanh ở các quốc gia theo đạo Hồi cần phải được thường xuyên cập nhật và nắm bắt một cách kỹ càng. Vì đây là một trong những điều quan trọng mà có thể ảnh hưởng đến kinh tế mà người quản lý cần phải quan tâm.
Mặc khác, lao động nữ tại các nước theo đạo Hồi như Iran và Ả Rập thường sẽ gặp khó khăn và hạn chế có nhiều cơ hội để phát triển nghề nghiệp vì họ bị hạn chế và ngă bịn cấm tiếp xúc người khác giới.
8.
Mối quan hệ giữa hệ quả kinh tế và Phật giáo
Trong xã hội Phật giáo, hoạt động kinh doanh được thể hiện qua việc khuyến khích chăm chỉ làm việc và tích luỹ tài sản không được tìm thấy như tại các quốc gia theo đạo Tin Lành. Nhưng không giống như Ấn Độ giáo, việc thiếu sự ủng hộ đối với chế độ đẳng cấp và cách cư xử cực khổ cho thấy một xã hội Phật giáo có nhiều cơ hội phát triển kinh doanh hơn.
Trong Phật giáo, các nền kinh tế được bản địa hóa nhiều hơn, với các mối quan hệ giữa con người và giữa văn hóa và thiên nhiên là tương đối không qua trung gian. Trong nền kinh tế hiện đại, các công nghệ phức tạp và các thiết chế xã hội quy mô lớn đã dẫn đến sự tách biệt giữa con người và với thế giới tự nhiên. Thêm vào đó, khi nền kinh tế phát triển, rất khó để hiểu và đánh giá đúng những tác động tiềm ẩn của con người đối với thế giới tự nhiên. Cả hai sự tách biệt này đều trái ngược với lời dạy của Đức Phật.
Ngoài ra, xu hướng hiện nay mang yếu tố “Zen” từ Phật giáo vào kinh doanh ở thế giới phương Tây. Hiện nay, có khoảng 700 nhãn hiệu có chứa từ Zen chỉ riêng ở Hoa Kỳ, theo Văn phòng Sáng chế và Nhãn hiệu Hoa Kỳ. “Trong kinh doanh,”Zen” được hiểu là với hư vô bình thường. Nancy Friedman, một copywriter của công ty, người đã tư vấn cho các doanh nghiệp về cách đặt tên và xây dựng thương hiệu. Cô ấy nói rằng “Zen có thể được kết hợp với mail để mô tả một email đến không có tin nhắn hoặc tệp đính kèm”. “Zen spin” là một động từ có nghĩa là “ kể một câu chuyện mà không cần nói gì cả”.
P a g e 6 | 6 9.
Mối quan hệ giữa hệ quả kinh tế và Phật giáo
Đạo Phật rất phát triển tại các nước Đông Nam Á như Thái Lan, Lào, Việt Nam,… Do ảnh hưởng của đạo Phật, các nhà kinh doanh người Thái hay nói
“không sao đâu” để thể hiện lòng bao dung, tuy nhiên nhưng điều đó không có nghĩa là mọi chuyện đều tốt .
Đối với Campuchia, tôn giáo chủ yếu tại đây là đạo Phật tiểu thừa, nhấn mạnh tính thụ động. Tại các vùng nông thôn, đạo Phật đã hoà nhập trong nhiều thế kỷ với những tập tục vật linh và những nghi lễ Hindu giáo. Kết quả là tính chất Phật giáo của Campuchia đã không khuyến khích trách nghiệm cá nhân. Do ảnh hưởng này mà họ thường dựa vào người có quyền lực lớn nhất để ra quyết định và giải quyết mâu thuẫn. Ngoài ra, người Campuchia thường không nỗ lực hết mình để giải quyết các phát sinh cũng như để đạt được hợp đồng.
Bên cạnh đó, do rất tin vào định mệnh nên theo người Lào có xu hướng khá thoải mái với mọi vấn đề, đặc biệt là thời gian và họ không cần gắng sức làm gì.
10. Xin cảm ơn và hẹn gặp lại tất cả các bạn ở những chương sau.
Tài liệu tham khảo
Charles W. L. Hill, 12th edition (2019), International Business: competing in the global marketplace, McGraw-Hill, New York.
Trịnh Thùy Anh, Trương Mỹ Diễm, Ngô Kim Trâm Anh (2017), Kinh doanh quốc tế, NXB Kinh tế TpHCM.
Nguyễn Văn Hồng (2014), Giáo trình Đàm phán thương mại quốc tế, NXB Thống kê
P a g e 1 | 7
BÀI GIẢNG DẠNG VĂN BẢN (SCRIPT) Môn học: KINH DOANH QUỐC TẾ
Chương 5: SỰ KHÁC BIỆT VỀ VĂN HOÁ GIỮA CÁC QUỐC GIA Chủ đề 3: Những khác biệt trong phương thức quản trị
Slide Nội dung
1.
Xin chào Anh/ Chị học viên thân mến,
Với chủ đề 3, chúng ta cùng nhau tìm hiểu sự khác biệt trong phương thức quản trị giữa văn hoá kinh doanh phương Đông và phương Tây.
Sau khi hoàn thành nội dung bài học, Anh/ Chị sẽ trình bày được những khác biệt trong phương thức quản trị giữa phương đông và phương tây.
2.
Văn hoá kinh doanh phương Tây
Đầu tiên, chúng ta cùng nhau tìm hiểu về quan điểm thời gian tại các nước phương Tây. Ở các nước phương Tây như Mỹ và Canada luôn mong muốn cuộc họp, thương thảo với đối tác luôn cần được tổ chức đúng giờ và tránh trễ hẹn.
Đây cũng là một trong những đạo lý của đạo Tin Lành là luôn khuyến khích con người làm việc chăm chỉ và tránh lãnh phí thời gian. Ngoài ra, khi cuộc họp bắt đầu, người Mỹ muốn thảo luận các vấn đề cho đến khi ra được một quyêt định cuối cùng mà không muốn có sự gián đoạn nào. Chính vì vậy, người Mỹ thường rất khó chịu khi cuộc thảo luận bị gián đoạn bởi điện thoại, hay khách đến bất ngờ không hẹn trước,…..
Bên cạnh đó, khi muốn hợp tác, bàn bạc với đối tác phương Tây thì hẹn trước đóng vai trò quan trọng vì khi không hẹn trước sẽ gây nên sự khó chịu cho chủ nhà vì họ cho rằng đây là hành động khiếm nhã. Cụ thể là, người Pháp, người Anh và người Đức rất cẩn trọng đối với những ai đường đột đến đề nghị làm ăn với họ.
P a g e 2 | 7 3.
Văn hoá kinh doanh phương Tây
Một khía cạnh khác tạo nên sự khác biệt giữa văn hoá phương Tây và phương Đông đó chính là tuổi tác. Anh/ Chị có thể dễ dàng nhận thấy rằng các nước phương Tây luôn khuyến khích người trẻ tích cực làm việc và nâng cao kinh nghiệm làm việc bằng cách tạo nhiều cơ hội cho họ được tham gia các hoạt động kinh doanh quan trọng.
Ngoài ra, các hoạt động giao tiếp phi ngôn ngữ cũng cần được quan tâm vì đây là một trong những yếu tố giúp cho các buổi đàm phán, thương lượng dễ dàng thành công hơn. Chẳng hạn, ở các nước Pháp và Tây Ban Nha thì họ có thói quan hôn má khi chào hỏi còn Mỹ thì lại lựa chọn hình thức bắt tay.
Tại các nước Nam Âu như Italia, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, khi gặp nhau, họ thường bắt tay hoặc ôm hôn, nếu là người quen cũ nhưng cái hôn ở đây chỉ mang tính hình thức, hai bên kề má nhau, miệng phát ra âm thanh chứ không có sự tiếp xúc thật sự.
4.
Văn hoá kinh doanh phương Tây
Khi bắt tay với người Mỹ, không nên bắt tay hờ hững vì như vậy thường bị coi là yếu đuối và không thân thiện. Thương nhân Mỹ thường cho rằng việc không nhìn thẳng vào người đang nói chuyện vì biểu hiện của sự không trung thực và không đáng tin cậy, do đó khi nói chuyện nên nhìn thẳng và mắt người đối diện nhưng không quá lâu.
Bên cạnh cử chi khi giao tiếp thì Anh/ Chị cũng cần phải lưu ý đến yếu tố khoảng cách giao tiếp vì nó sẽ cho biết mức độ thoải mái khi thực hiện giao tiếp với người khác. Ở Mỹ, khi trao đổi với đối tác mới thì khoảng cách một cánh tay, trừ khi đã quá thân mật.
Tương tự như ở Mỹ, người Anh rất tôn trọng sự riêng tư của người khác, điều này khiến họ thường tỏ ra xa lạ và khoảng cách với người đối thoại. Vì vậy, trước khi đến một nơi nào đó ở Anh, Anh/ Chị cần gọi điện hẹn trước, nếu không Anh/
Chị khó hy vọng được đón tiếp.
P a g e 3 | 7 5.
Văn hoá kinh doanh phương Tây
Nếu Anh/ Chị muốn thể hiện lòng hiếu khách với các đối tác Mỹ thì việc lựa chọn một bàn dễ nhận thấy trong một nhà hàng vào buổi trưa sẽ phương án tốt nhất cho Anh/ Chị. Mặc khác, khi người Mỹ muốn thông báo một tin tức nào đó thì tin không vui thường sẽ được thông báo ngay.
Trong khi đó, người Pháp hiếm khi mời khách kinh doanh đến nhà, nhưng nếu Anh/ Chị được mời, nhớ mang hoa hay socola cho nữ chủ nhân, tránh tặng hoa cúc vàng vì hoa cúc vàng chỉ dùng trong tang lễ. Ngoài ra, nếu Anh/ Chị mời khách Pháp đi ăn tối, Anh/ Chị cần dẫn họ vào nhà hàng thật sang, đắt tiền.
Đây là nghi thức rất quan trọng vì một địa điểm không sang trọng sẽ thể hiện là Anh/ Chị là người thiếu quan tâm.
Ngoài ra, ở nhiều nước Tây Âu như Hà Lan, Đức,… tự thanh toán cũng một đặc điểm văn hoá. Người Châu Âu thường để khách tự phục vụ theo nhu cần.
Trong khi ăn, họ ít nói chuyện, nhất là chuyện kinh doanh.
6.
Văn hoá kinh doanh phương Đông
Văn hoá kinh doanh của phương Đông có nhiều điểm khác biệt với phương Tây.
Nếu ở các nước phương Tây nội dung cuộc họp cần phải được sắp xếp một cách chi tiết trước khi diễn ra cuộc họp thì ở Nhật Bản và các nước Ả Rập họ lại bắt đầu với việc tìm hiểu lẫn nhau nhằm xác định sự tin tưởng lẫn nhau lúc ban đầu và giúp cho quá trình làm việc được cởi mở hơn. Người Nhật rất coi trọng chữ tín trong kinh doanh và các nguồn tin về đối tác phải được đảm bảo bởi một tổ chức hay một người khác có quy tín.
Để tạo mối giao dịch với một công ty Trung Quốc, nếu công ty của Anh/ Chị là một công ty nổi tiếng quốc tế thì sự giới thiệu của các tổ chức trung gian là không cần thiết. Khi đó, công ty nên gửi một bức thư tự giới thiệu về mình cho người cao cấp nhất trong công ty mà Anh/ Chị mong muốn liên hệ. Khi gửi bức thư đầu tiên, tốt nhất là nên dịch nó sang tiếng Trung Quốc để dễ thư hút sự chú ý của đối tác. Ngoài ra, người Trung Quốc thường không thích kiểu tiếp cận trực