ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

Một phần của tài liệu sách hướng dân kinh doanh quốc tế (Trang 83 - 97)

Chủ đề 1: Đầu tư nước ngoài: Khái niệm và các học thuyết liên quan

Slide Nội dung

1.

Các bạn thân mến,

Như chúng ta đã biết: kinh doanh quôc tế như chiếc ô dù bao lấy các hoạt động thương mại quốc tế, gia công quốc tế, các loại hình tài chính-tiền tệ quốc tế,..v.v…

Sau khi chúng ta đã điểm xuyến nội dung về thương mại quốc tế, từ việc tìm hiểu các học thuyết đến những nội dung về các chính sách thương mại quốc tế.

Đến với chủ đề của buổi giảng hôm nay, chúng ta sẽ khám phá các kiến thức xoay quanh đầu tư nước ngoài.

2. Chủ 1 chương 7: Đầu tư nước ngoài: Khái niệm và các học thuyết liên quan

3.

Theo kế hoạch của đề cương môn học, sau khi học xong chủ đề 1 của chương này, các bạn sẽ:

- Trình bày được khái niệm đầu tư nước ngoài và các thể loại đầu tư nước ngoài.

- Phân tích được nội dung của lý thuyết cận biên

- Phân tích được nội dung của lý thuyết chu kỳ sống của sản phẩm.

- Phân tích được nội dung của lý thuyết chiết trung.

4. Khái niệm đầu tư nước ngoài

P a g e 2 | 7 Đầu tư ra nước ngoài là một quá trình dịch chuyển vốn đầu tư từ quốc gia này sang quốc gia khác, nhằm để thực hiện kinh doanh và tìm kiếm lợi nhuận hoặc mục đích sinh lợi khác.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế sâu rộng, hoạt động đầu tư ra nước ngoài là một xu hướng tất yếu của các nhà đầu tư.

Căn cứ theo khoản 13 Điều 3 của Luật Đầu tư năm 2020 của Việt Nam1, hoạt động đầu tư ra nước ngoài là việc nhà đầu tư chuyển vốn đầu tư từ Việt Nam ra nước ngoài, sử dụng lợi nhuận thu được từ nguồn vốn đầu tư này để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh ở nước ngoài.

Đầu tư ra nước ngoài cơ bản cũng là một hoạt động đầu tư giống như đầu tư trong nước. Tuy nhiên, khác với đầu tư trong nước, đầu tư ra nước ngoài liên quan đến vấn đề dịch chuyển nguồn vốn, lợi nhuận từ trong nước ra nước ngoài và ngược lại, đặc biệt các hành vi đầu tư được triển khai chủ yếu ở nước tiếp nhận đầu tư. Chính vì vậy, hoạt động đầu tư ra nước ngoài chịu sự kiểm soát của cả pháp luật nước chủ nhà lẫn pháp luật của nước tiếp nhận đầu tư.

5.

Các thể loại đầu tư nước ngoài

Có nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại các hình thức đầu tư nước ngoài. Các tiêu chí có thể là theo chủ đầu tư, theo mối quan hệ giữa chủ đầu tư và đối tượng tiếp nhận đầu tư, theo thời hạn đầu tư,… Tuy nhiên, phần nội dung trong chủ đề này chỉ dựa trên hai tiêu chí: đầu tư tư nhân và đầu tư phi tư nhân .

Với tiêu chí doanh nghiệp tư nhân có thể được chia thành 2 loại dựa theo hình thức của nguồn vốn đầu tư. Đó là:

[1]. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment – FDI)

1 có sửa đổi, bổ sung năm 2022

P a g e 3 | 7 [2]. Đầu tư gián tiếp nước ngoài/ hay còn gọi là đầu tư danh mục nước ngoài (Foreign Inderect/Portfolio Investment – FII/FPI)

6.

Ví dụ một cá nhân A chọn hình thức đầu tư tài chính, đồng thời là cổ đông chính thức tham gia hội đồng quản trị và điều phối công ty mà anh đầu tư thì gọi cá nhân A đã đầu tư trực tiếp. Nhưng nếu, cá nhân A chỉ đầu tư tài chính và không tham gia quản lý; mà anh chỉ nhận lãi suất/cổ tức và các khoản liên đới theo sự thỏa và cam kết của anh và doanh nghiệp anh đầu tư thì gọi cá nhân A đã tham gia theo hình thức đầu tư gián tiếp.

Một ví dụ khác về chính phủ Nhật đã cam kết gót vốn cho một quốc gia khác cho những hạng mục công như làm đường, xây cảng, trường học, trạm xá. Nếu quốc gia nhận vốn của Nhật là quốc gia kém phát triển thì đấy được gọi là ODA, nhưng nếu quốc gia nhận vốn là một quốc gia phát triển thì hình thức đầu tư của chính phủ Nhật được gọi là OA.

7.

Các bạn thân mến,

Chúng ta vừa mới đi qua khái niệm đầu tư nước ngoài và các thể loại đầu tư nước ngoài.

Tiếp theo là phần nội dung về các học thuyết đầu tư nước ngoài.

8.

Kể từ những năm 1998, dòng vốn FDI tăng trưởng một cách đáng kể từ 644 tỉ USD năm 1998 tăng lên 1.979 tỉ USD năm 2007.

Và sau đại dịch Covid-19, FDI toàn cầu tăng 77%, từ mức 929 tỷ USD năm 2020 lên ước tính 1.650 tỷ USD năm 2021, vượt qua mức trước đại dịch COVID-19.

Trong đó, các nền kinh tế phát triển ghi nhận mức tăng vốn FDI mạnh nhất từ trước đến nay, với ước tính 777 tỷ USD trong năm 2021

Mức độ tăng trưởng của hoạt động FDI nhanh hơn mức độ tăng trưởng thương mại của thế giới. Có nhiều lý do giải thích vì sao mức độ tăng trưởng của FDI nhanh hơn tốc độ tăng trưởng thương mại của nền kinh tế thế giới. Một trong

P a g e 4 | 7 những lý do có tác động tích cực đến sự tăng trưởng này đó là sự thay đổi trong các chính sách chính trị, kinh tế của các quốc gia. FDI được xem như là một trong những công cụ quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia, thông qua việc tiếp nhận các nguồn vốn, công nghệ khoa học phát triển, tạo việc làm và nâng cao mức sống của người lao động.

9.

Lý thuyết về lợi nhuận cận biên

Phát triển từ học thuyết của Heckscher-Ohlin-Samuelson, năm 1960 Mac.

Dougall đã đề xuất một mô hình lý thuyết với nội dung cho rằng luồng vốn đầu tư sẽ chuyển từ nước lãi suất thấp sang nước có lãi suất cao cho đến khi đạt được trạng thái cân bằng (lãi suất hai nước bằng nhau). Sau khi đầu tư, cả hai quốc gia trên đều thu được lợi nhuận, tạo ra sản lượng và giá trị gia tăng chung cho thế giới so với trước khi đầu tư.

Lúc khởi điểm, lý thuyết này được các nhà kinh tế thừa nhận.

10.

Tuy nhiên, bối cảnh xã hội có nhiều thay đổi, tình hình trở nên thiếu ổn định, tỷ suất đầu tư của Mỹ giảm và thấp hơn cả mức tỷ suất trong nước, nhưng lượng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Mỹ vẫn tăng liên tục. Nội dung mô hình của Dougall lúc này không đủ sức lý giải hiện tượng vì sao một số nước đồng thời có dòng vốn chảy vào, có dòng vốn chảy ra, và cũng không đưa ra được sự giải thích đầy đủ về dòng vốn FDI.

Chính vì lẽ đó, lý thuyết lợi nhuận cận biên chỉ có thể được coi là lý thuyết có bước khởi đầu tích cực để nghiên cứu FDI.

11.

Lý thuyết chu kỳ sống của sản phẩm

Vào năm 1966, nhà kinh tế học Vernon đã đề xuất lý thuyết chu kỳ sống của sản phẩm nhằm để giải thích sự chuyển dịch từ nền kinh tế này sang nền kinh tế khác.

Theo Vernon, trong khuôn khổ của đầu tư trực tiếp nước ngoài, ông cho rằng bất kỳ một công nghệ sản phẩm mới nào đều tiến triển tối thiểu theo ba giai đoạn:

(1) Giai đoạn mới (từ lúc phát minh cho đến khi ra mắt và giới thiệu sản phẩm);

P a g e 5 | 7 (2) Giai đoạn chín muồi cũng có thể gọi là giai đoạn bão hòa (qui trình từ lúc phát triển và đi tới thời điểm chín muồi);

(3) Giai đoạn chuẩn hóa.

12.

Lý thuyết này giúp giải thích lý do vì sao các công ty quyết định thực hiện đầu tư nước ngoài thay vì xuất khẩu hàng hóa như đã thực hiện trước đây. Lúc đầu các nhà sản xuất chỉ tập trung vào việc sản xuất ra sản phẩm để đáp ứng cho nhu cầu trong nước và sau đó là xuất khẩu sang thị trường nước ngoài và đạt được lợi thế độc quyền các sản phẩm này nhờ hoạt động xuất khẩu. Trong thời kỳ đầu sản phẩm vẫn được tiếp tục sản xuất tại chính quốc, mặc dù chi phí sản xuất ở nước ngoài có thể thấp hơn. Tuy nhiên sản phẩm sẽ trở nên chuẩn hóa trong giai đoạn tăng trưởng, lúc này các nhà sản xuất sẽ chuyển hướng sang đầu tư mở rộng cơ sở sản xuất ở nước ngoài nhằm tận dụng nguồn nguyên liệu hay nhân công với giá rẻ, đồng thời có thể ngăn chặn sự thâm nhập vào thị trường của các đối thủ sản xuất địa phương.

13.

Lý thuyết chiết trung

Lý thuyết chiết trung được phát triển vào năm 1988 bởi Dunning, một học giả người Anh rất nổi tiếng với các nghiên cứu về hoạt động FDI. Ông cho rằng một công ty khi tiến hành các hoạt động FDI thì cần phải hội đủ 3 lợi thế sau đây:

- Lợi thế về sở hữu (Ownership advantages) - Lợi thế về địa điểm (Locational advantages) - Lợi thế về nội hoá (Internalisation advantages)

14.

Lợi thế về sở hữu

Có thể hiểu như là các khả năng cốt lõi của công ty như quy trình sản xuất, công nghệ sản xuất, nguồn vốn, đội ngũ lao động trung thành-trách nhiệm, khả năng quản lý. Những lợi thế này sẽ mang lại cho công ty những mặt mạnh nhất định trên thị trường so với các đối thủ cạnh tranh. Bên cạnh đó các lợi thế cũng giúp cho các công ty có thể giảm chi phí khi tiến hành đầu tư sản xuất ra nước ngoài.

P a g e 6 | 7 Tóm lại, khi thâm nhập thị trường nước ngoài, doanh nghiệp cần xác định có một lợi thế cạnh tranh đơn nhất để có thể khắc phục các bất lợi trong cạnh tranh với các công ty nước ngoài trên sân nhà của họ.

15.

Lợi thế về địa điểm

Trước khi đưa ra chiến lược thâm nhập một thị trường nước ngoài nào đó, công ty cần phải xác định xem thị trường này có những lợi thế gì giúp cho doanh nghiệp đạt được hiệu quả sản xuất cao nhất so với việc sản xuất ở nước mình rồi xuất khẩu sang thị trường nước ngoài khác. Các lợi thế về địa điểm bao gồm các yếu tố về nguồn lực (nguồn nguyên liệu sản xuất, nhân công...) và các yếu tố kinh tế và xã hội như trình độ phát triển kinh tế của đất nước, môi trường văn hoá, pháp luật, chính trị và thể chế, các qui định và các chính sách kinh tế của chính phủ, cơ cấu thị trường, khả năng tăng trưởng của thị trường...

Ví dụ Nike - nhà cung cấp giày thể thao và quần áo lớn nhất trên thế giới, trụ sở chính ở Hoa Kỳ, để có chi phí lao động thấp và tránh được hàng rào thuế quan cao cho hàng xuất khẩu từ Mỹ, Nike đã chọn lợi thế địa điểm đầu tư ở các quốc gia như Indonesia, Vitenam để tối ưu hóa tổng giá thành sản phẩm.

16.

Lợi thế về nội hoá

Ngoài các lợi thế về sở hữu và địa điểm, các công ty cần sử dụng và phối hợp các lợi thế này để có thể cắt giảm chi phí trong quá trình hoạt động ở thị trường nước ngoài như chi phí điều hành, chi phí sản xuất, chi phí ký kết hợp đồng...

Ngoài ra, các công ty cần thiết lập hệ thống kiểm soát để có thể tránh được các rủi ro trong quá trình đầu tư cũng như có những điều chỉnh cho chiến lược đầu tư và hoạt động của mình.

17.

Tóm lại: nội dung lý thuyết chiết trung đã chứng mình rằng các doanh nghiệp sẽ thực hiện đầu tư trực tiếp nước ngoài khi hội đủ cả ba lợi thế đề cập trên. Đó là lợi thế về địa điểm, lợi thế về sở hữu và lợi thế nội hoá.

Một khi, doanh nghiệp tìm thấy có đủ ba lợi thế này thì thị trường nước đó mới trở nên hấp dẫn các nhà đầu tư. Lợi thế về điạ điểm là ưu thế có được do việc

P a g e 7 | 7 tiến hành một hoạt động kinh doanh tại một địa điểm nhất định với những đặc thù riêng (tự nhiên hoặc tự được tạo ra) của địa điểm đó. Những ưu thế về địa điểm có thể là các nguồn tài nguyên thiên nhiên như khoáng sản uranium ở Úc, dầu mỏ ở Trung Đông, Nga, lúa mì ở Ukraine. Tất cả chúng có thể là các ưu thế được tạo ra như lực lượng lao động lành nghề, lực lượng lao động dồi dào với giá rẻ.... Lợi thế về sở hữu là ưu thế cho một công ty có cơ hội tham gia sở hữu một số tài sản đặc biệt nhất định, như là nhãn hiệu sản phẩm, kiến thức kỹ thuật là cơ hội quản lý. Còn lợi thế nội hoá là ưu thế đạt được do việc nội hoá hoạt động sản xuất thay vì chuyển nó đến một thị trường kém hiệu quả hơn.

Lý thuyết này khẳng định rằng, một khi có sự hiện diện của đầy đủ các ưu thế trên đây, các công ty sẽ thực thi FDI.

18.

Các bạn thân mến,

Sau khi tìm hiểu hàng loạt các lý thuyết từ lý thuyết thương mại quốc tế đến các học thuyết đầu tư nước ngoài, các bạn có nhận ra rằng: lý thuyết không phải chỉ là lý thuyết thuần túy, mà nội dung giúp chuyển tải khá nhiều thông tin hữu ích để chúng ta có thể hiểu thêm về bối cảnh, về những lợi thế/nguồn lực của các hoạt động thương mại và đầu tư quốc tế trong khoảng thời gian học thuyết được thừa nhận.

Chúng ta dừng chủ đề 1 với các nội dung xoay quanh khái niệm, và các học thuyết liên quan của đầu tư nước ngoài tại đây nhé và hẹn gặp lại nhau ở chủ đề 2 - nội dung về đầu tư trực tiếp nước ngoài, các bạn nhé.

Chào thân ái!

P a g e 1 | 7

BÀI GIẢNG DẠNG VĂN BẢN (SCRIPT) Môn học: KINH DOANH QUỐC TẾ Chương 7: ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI Chủ đề 2: Đầu tư trực tiếp nước ngoài

Slide Nội dung

1.

Thân chào các bạn,

Các bạn đã sẵn sàng cho việc tìm hiểu tiếp tục các nội dung về đầu tư nước ngoài chưa nào? Chúng ta bắt đầu nhé.

2.

Các bạn thân mến,

Chúng ta đã tìm hiểu lý do tại sao các công ty lại thực hiện đầu tư thay vì chọn xuất khẩu hay chuyển giao công nghệ/ chuyển nhượng giấy phép và cả các lý thuyết liên quan đến đầu tư nước ngoài.

Hôm nay bài giảng của chúng ta sẽ tập trung vào nội dung của chỉ một loại hình đầu tư nước ngoài khổ biến tại Việt Nam. Đó là:

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (gọi tắt là FDI1).

3.

Chuẩn đầu ra của chủ đề 2 chương 7 sẽ là:

- Trình bày được khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài.

- Phân tích được dòng chảy thu hút vốn đầu tư nước ngoài và xu hướng chung của FDI trong khu vực và quốc tế.

- Phân biệt được FDI theo chiều ngang và FDI theo chiều dọc.

- Những lợi ích và bất lợi của hoạt động FDI

4.

Khái niệm đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI)

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là việc nhà đầu tư từ một quốc gia với mong muốn mở rộng hoạt động sang các thị trường khác bằng cách đầu tư tài chính

1 FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài

P a g e 2 | 7 hoặc bất kì tài sản nào vào việc xây dựng các nhà máy sản xuất hay các công ty con ở quốc gia khác để có được quyền sở hữu và tham gia vào việc quản lý và kiểm soát hoạt động của các cơ sở này, với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận của mình. Tài sản đầu tư có thể là tài sản hữu hình như trang thiết bị máy móc, dây chuyền sản xuất, đất đai, nhà xưởng, hay tài sản vô hình bao gồm quyền sở hữu tí tuệ, bí quyết và kinh nghiệm quản lý...

5.

Hai đặc điểm cơ bản của FDI là: có sự dịch chuyển tư bản trong phạm vi quốc tế và chủ đầu tư trực tiếp tham gia vào hoạt động sử dụng vốn và quản lí đối tượng đầu tư. Chủ thể của các dự án FDI chủ yếu là các công ty đa quốc gia, các công ty này hiện đang nắm giữ khoảng 90% lượng vốn FDI trên thế giới, số còn lại thuộc về chính phủ các nước và các tổ chức quốc tế khác.

6.

Dòng vốn FDI vào các nền kinh tế đang phát triển tăng 30% lên gần 870 tỷ USD, với tốc độ tăng trưởng ở Đông và Đông Nam Á (+20%), phục hồi gần mức trước đại dịch ở Caribe và Mỹ Latinh. Dòng tiền vào châu Phi và Tây Á cũng tăng.

Triển vọng FDI toàn cầu vào năm 2022 là tích cực. Nguồn vốn dự án quốc tế trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng sẽ tiếp tục tạo động lực tăng trưởng. Tuy nhiên, các dự án đầu tư mới vào lĩnh vực sản xuất và trong các ngành công nghiệp liên kết chuỗi giá trị toàn cầu (GVC) vẫn ở mức thấp. Một phần do thế giới đang trong làn sóng của đại dịch COVIDd-19 và do căng thẳng địa chính trị ở Nga và Ucraina.

7.

Thông qua nguồn vốn và dòng chảy FDI toàn cầu đã cho chúng ta thấy rõ: FDI vẫn đang là một trong những hình thức đầu tư phổ biến trên thế giới và có xu hướng ngày càng tăng khi mang lại lợi ích cho cả bên đầu tư và nhận đầu tư.

Hai hình thức thâm nhập phổ biến của FDI chính là:

[1]. Đầu tư hoàn toàn mới (Greenfield Investment: GI) [2]. Mua lại & Sáp nhập (M&A2)

2 Mergers and Acquisitions

Một phần của tài liệu sách hướng dân kinh doanh quốc tế (Trang 83 - 97)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(108 trang)