THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

Một phần của tài liệu sách hướng dân kinh doanh quốc tế (Trang 68 - 78)

Slide Nội dung

1.

“Phi thương bất phú” – Thành ngữ này thì đúng trong cách tiếp cận từ góc nhìn của một doanh nhân, một nhà quản trị, một chuyên gia tư vấn doanh nghiệp, các bạn nhỉ?!

“Phi thương bất phú” ở đây có nghĩa là nếu không làm ăn thì khó mà giàu có được.

Chúng ta thử hình dung: nếu thế giới này, tất cả các quốc gia đều bế quan tỏa cảng, tự cung tự cấp, không mở cửa giao thương, các chính phủ ra sức xây dựng các hàng rào thương mại (thuế quan) cao ngất ngưỡng để nhằm liên tục bảo hộ cho nhà sản xuất trong nước, thì…chuyện gì sẽ xảy ra?

Kinh tế có tăng trưởng hay không? hàng hóa trên thị trường với mẫu mã, chất lượng, kiểu dáng, dịch vụ có phong phú và đa dạng?

Những câu hỏi tự vấn dẫn nhập cho nội dung của chương 6: Thương mại quốc tế.

Các bạn thân mến,

Trong giao dịch thương mại quốc tế, hãy nhìn về sự khác biệt như: mỗi quốc gia có riêng đồng nội tệ của họ, có ngôn ngữ riêng, thói quen, hành vi, phong tục tập quán, hay những khác biệt về thể chế chính trị, hành lang pháp lý, cấu trúc xã hội mỗi vùng miền, khu vực lại khác. Qua đó sẽ xác định được lợi thế cạnh tranh khác nhau, mức độ hội nhập khác nhau.

P a g e 2 | 8 Thoạt đầu, các quốc gia chỉ hoạt động độc lập và riêng lẻ, thự hiện trao đổi hàng hóa cho sự nhu cầu của mình, nhưng về sau người ta nhìn ra được vai trò rất lớn từ trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia.

2.

Đến với chủ đề 1 chương 6, nội dung đề cập các học thuyết thương mại quốc tế.

Ở nội dung này giúp giải thích một cách khoa học về nguồn gốc của thương mại quốc tế và những nguyên nhân mang lại sự giàu có cho riêng từng mỗi quốc gia thì vẫn còn phụ thuộc vào một vài nhân tố khác. Quá trình nghiên cứu của các trường phái kinh tế khác nhau trong lịch sử phát triển tư tưởng kinh tế thế giới đã đưa ra những lý thuyết để lý giải vấn đề này. Và dù thuộc nhiều trường phái khác nhau, nhưng điểm chung cơ bản nhất của tất cả các chuyên gia kinh tế đều khẳng định tác động tích cực của thương mại quốc tế đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế từ vi mô đến vĩ mô, từ đơn giản đến phức tạp, từ hiện tượng đến bản chất, từ phiến diện đến toàn diện, và cả theo trình tự thời gian.

3.

Mặc dầu, học thuyết thương mại quốc tế giúp chúng ta lý giải và hiểu về bối cảnh chung trong các giao dịch toàn cầu, nhưng đấy vẫn là chưa đủ để nói về nội dung này.

Do vậy, song song với việc cung cấp các học thuyết thương mại quốc tế thì chủ đề 2 của chương 6 cũng sẽ đề cập đến các chính sách thương mại.

4.

Với học thuyết thương mại quốc tế có 7 học thuyết từ cổ điển đến hiện tại:

➢ Thuyết trọng thương

➢ Thuyết tuyệt đối

➢ Thuyết tương đối

➢ Thuyết chi phí cơ hội

➢ Thuyết H – O

➢ Thuyết chu kỳ sản phẩm

➢ Thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia.

Riêng về các chính sách, chương này sẽ điểm qua 5 loại, bao gồm:

Thuế xuất nhập khẩu

P a g e 3 | 8 Hạn ngạch (Quota)

Phá giá Tài trợ

Giới hạn xuất khẩu tự nguyện (VER)

5.

Cơ bản, nội dung của chương 6 cung cấp 2 chuẩn đầu ra chính yếu. Đó là:

1. Phân tích được sự khác biệt của các học thuyết thương mại

2. Trình bày được nội dung của 5 loại chính sách thương mại điển hình

6.

Trước khi khám phá nội dung của các học thuyết thương mại, chúng ta cùng nhau tìm hiểu khái niệm thương mại quốc.

Thương mại quốc tế phản ánh doanh nghiệp của một nước xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ hay thực hiện gia công đến người tiêu dùng ở một nước khác

7.

Và bây giờ, chúng ta lần lượt điểm qua các học thuyết thương mại quốc tế.

[1] Thuyết trọng thương

Thuyết trọng thương được xem là những viên gạch đầu tiên trong lịch sử thương mại quốc tế do trường phái kinh tế chính trị tư sản đầu tiên ở phương Tây khởi xướng vào giữa đầu thế kỷ XVI,

Nội dung của học thuyết này nêu rõ 4 điểm chính:

- Thứ nhất, vàng và bạc là phương tiện giao dịch chính yếu trong hoạt động thương mại và rất xem trọng của cải vật chất. Do vậy, thuyết này cho rằng sự giàu có hay thịnh vượng của cá nhân hay xã hội sẽ đo bằng lượng vàng và bạc mà họ tích trữ được.

- Thứ hai, phát triển ngoại thương là con đường duy nhất để mang lại nhiều của cải, vật chất. Do đó, thuyết trọng thương rất chú trọng đến thặng dư thương mại và nội dung học thuyết đã nêu rằng cần thiết phải đẩy mạnh xuất khẩu và hạn chế tối đa nhập khẩu. Thặng dư thương mại mang dấu

P a g e 4 | 8 dương (hay nói một cách khác là xuất siêu - giá trị xuất khẩu lớn hơn giá trị nhập khẩu).

- Thứ ba, lý thuyết trọng thương đề cao vai trò của chính phủ trong việc bảo hộ sản xuất nội địa, xây dựng hàng rào thuế quan để hạn chế tối đa nhập khẩu

- Thứ tư, học thuyết còn phản ánh quan điểm của các nhà kinh tế theo chủ nghĩa trọng thương còn rất hạn chế và cực đoan khi xem thương mại quốc tế là một trò chơi mang tổng lợi ích bằng không; có nghĩa là khi hai bên (cá nhân, doanh nghiệp hay quốc gia) tham gia giao dịch thương mại, nếu một bên được lợi (thu được nhiều vàng và bạc) thì bên kia sẽ bị tổn hại và thất thoát tương ứng

8.

[2] Thuyết tuyệt đối

Năm 1776, nhà kinh tế học người Anh - Adam Smith đã có một cách lý giải mới về các hoạt động thương mại quốc tế. Lý giải ấy được thể hiện thông qua tác phẩm “The wealth of nations - tạm dịch là Sự giàu có của những quốc gia”. Cụ thể, nội dung của “Sự giàu có của những quốc gia” đã phân tích khá rõ đâu là nhân tố góp phần tăng trưởng kinh tế quốc gia và cho rằng “Sự giàu có của mỗi quốc gia đạt được không phải do những quy định quản lý chặt chẽ của chính quyền mang lại mà là nhờ vào tự do kinh doanh”.

Nội dung của học thuyết:

- Thứ nhất, Adam Smith đã chứng minh được thương mại quốc tế mang lại lợi ích cho cả hai quốc gia (win-win).

- Thứ hai, cơ sở tạo ra giá trị trong môi trường kinh doanh toàn cầu chính là sản xuất, chứ không chỉ là lưu thông hàng hóa.

Thuyết tuyệt đối nhấn mạnh: mỗi quốc gia nên xác định cho được đâu là sản phẩm mang lại lợi thế tuyệt đối của quốc gia mình so với các quốc gia khác.

9. [3] Thuyết tương đối

P a g e 5 | 8 vào năm 1817, David Ricardo (Người Anh, 1772 - 1823) đã cho xuất bản quyển

“Những nguyên lý kinh tế chính trị và thuế” đã chỉ rõ: cho dù một quốc gia không có bất cứ lợi thế tuyệt đối nào vẫn có thể tìm được chỗ đứng cho mình trong môi trường kinh doanh toàn cầu, nếu tập trung chuyên môn hóa vào sản xuất và xuất khẩu những sản phẩm mà nó có lợi thế tương đối so với quốc gia khác nhưng lại có lợi thế tuyệt đối so với các sản phẩm khác trong cùng một quốc gia.

Điểm cơ bản nhất trong nội dung thuyết so sánh được phát triển lên từ thuyết tuyệt đối đó chính là: khi một quốc gia không có lợi thế tuyệt đối so với quốc gia khác (được hiểu là sự khác biệt tuyệt đối về năng suất và chi phí lao động) vẫn có thể đẩy mạnh giao dịch thương mại với quốc gia khác. Sản phẩm được mang đi giao dịch xuất khẩu hàng hóa là sản phẩm có tính tương đối khi so với sản phẩm cùng loại ở quốc gia khác, nhưng lại có lợi thế tuyệt đối khi so với tất cả các chủng loại hàng hóa khác trong cùng một quốc gia.

10.

[4] Thuyết chi phí cơ hội

Năm 1936, Gottfried Haberler đã vực dậy lý thuyết so sánh của David Ricardo bằng việc phát triển nó thành thuyết chi phí cơ hội.

Chi phí cơ hội của một chủng loại sản phẩm hàng hóa X là số lượng của sản phẩm loại khác bị cắt giảm để đáp ứng đủ nguồn lực sản xuất thêm vào cho một đơn vị hàng hóa X.

Đặc trưng cơ bản của thuyết chi phí cơ hội:

1. Thặng dư thương mại có được là nhờ trao đổi hàng hóa dựa trên chi phí cơ hội.

2. Quốc gia nào có chi phí cơ hội thấp để sản xuất ra sản phẩm được xuất khẩu ra nước ngoài sẽ có lợi thế so sánh cao.

3. Chi phí cơ hội không đổi trong cùng một quốc gia.

11. [5] Thuyết Heckscher – Ohlin

P a g e 6 | 8 Thuyết Heckscher - Ohlin hay còn gọi là thuyết H - O đã được hai nhà kinh tế học người Thụy Điển Eli Hecksher (1879 - 1952) và Bertil Ohlin (1899 - 1979) xây dựng vào năm 1933. Khởi nguồn của học thuyết H - O cũng dựa trên nền tảng thuyết so sánh của David Ricardo nhằm để lý giải thêm sự khác biệt về nguồn lực giữa các quốc gia và sự khác nhau trong tỷ lệ các yếu tố được dùng để sản xuất hàng hóa.

Đặc trưng cơ bản của thuyết H-O

- Xác định lợi thế so sánh của một quốc gia xuất phát từ sự khác biệt về mức độ sẵn có các yếu tố sản xuất.

- Sự chênh lệch trong tỷ lệ cân đối các yếu tố sản xuất khác nhau dẫn đến chi phí sản xuất khác nhau.

- Tập trung chuyên môn hóa sản xuất để xuất khẩu sản phẩm mà yếu tố sản xuất ra sản phẩm đó của quốc gia có mức dư thừa tương đối, và nhập khẩu trở lại sản phẩm mà yếu tố sản xuất ra sản phẩm đó của quốc gia có mức khan hiếm tương đối.

- Cả hai quốc gia đều thu được từ lợi thế thương mại.

12.

[6] Thuyết chu kỳ sống của sản phẩm

Giữa thập niên 60, Raymond Vernon đã xây dựng nên học thuyết về chu kỳ sống của sản phẩm để lý giải về sự di chuyển của những ngành công nghiệp trưởng thành từ những quốc gia có thu nhập cao đến những vùng chi phí thấp hơn.

Chu kỳ sống của sản phẩm gồm bốn giai đoạn:

Giai đoạn hình thành

Giai đoạn phát triển

Giai đoạn bão hòa

Giai đoạn suy thoái

P a g e 7 | 8 Vernon giải thích thuyết chu kỳ sống của sản phẩm trong TMQT được khởi điểm bắt đầu chu kỳ từ một sản phẩm ở nước công nghiệp phát triển cao, dung lượng thị trường lớn, có lợi thế so sánh về sản phẩm mới. Theo từng giai đoạn phát triển của sản phẩm, doanh nghiệp ở quốc gia có thu nhập cao sẽ xuất khẩu sản phẩm sang thị trường các quốc gia có thu nhập trung bình và dần dần sẽ thâm nhập đến thị trường của các quốc gia có thu nhập thấp. Trong chu kỳ sống sản phẩm ở mỗi thị trường, doanh nghiệp sẽ thay đổi những phương thức thâm nhập thị trường nước ngoài của mình. Cuối cùng doanh nghiệp ở quốc gia có thu nhập cao sẽ chuyển từ vị thế nhà xuất khẩu thành nhà nhập khẩu khi sản xuất được phân bố tập trung vào những nơi có chi phí thấp.

Đặc trưng cơ bản Thuyết chu kỳ sống của sản phẩm:

1. Khuyến khích tối đa hoạt động thương mại quốc tế, nhằm khai thác triệt để những lợi thế cạnh tranh của từng quốc gia riêng biệt và kể cả trong những thời điểm khác nhau.

2. Kéo dài tuổi thọ vòng đời sản phẩm.

3. Thặng dư thương mại có được nhờ vào độ lớn thị trường và chi phí sản xuất thấp.

13.

[7] Thuyết lợi thế cạnh tranh quôc gia

Năm 1990, Michael Porter - Giáo sư trường ĐH Harvard, người Mỹ - đã cho xuất bản quyển “Lợi thế cạnh tranh quốc gia”. Đây là kết quả của công trình nghiên cứu để xác định tại sao một vài quốc gia thành công, trong khi một số khác lại thất bại; và kết quả ấy cũng cố gắng lý giải tại sao một số quốc gia lại có được vị trí dẫn đầu trong việc sản xuất một số dòng sản phẩm này, còn những quốc gia khác lại dẫn đầu trong sản xuất dòng sản phẩm khác.

Học thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia nêu rõ 4 lực tác động đến sự kìm hãm hay thúc đẩy sự cạnh tranh và phát triển của quốc gia:

- Các điều kiện nhân tố sản xuất.

P a g e 8 | 8 - Các điều kiện nhu cầu thị trường.

- Các ngành công nghiệp bổ trợ và liên quan

- Chiến lược phát triển, cơ cấu của một ngành công nghiệp.

14.

Thuyết lợi thế cạnh tranh quôc gia cũng là nội dung cuối cùng của chủ đề 1 – chương 6 .

Một lần nữa, vẫn lời nhắc nhở quen thuộc, các bạn nhớ đừng quên dành thời gian cho thảo luận diễn đàn, làm bài tự đánh giá và các bài trắc nghiệm cuối mỗi chương đúng tiến độ nhé.

Thân mến chào các bạn!

Chiến lược, cơ cấu và sự cạnh tranh của công ty

Các điều kiện nhân tố sản xuất

Các điều kiện nhu cầu thị trường

Các ngành công nghiệp liên quan & hỗ trợ

P a g e 1 | 7

BÀI GIẢNG DẠNG VĂN BẢN (SCRIPT) Môn học: KINH DOANH QUỐC TẾ Chương 6: THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ Chủ đề 2: Chính sách thương mại quốc tế

Slide Nội dung

1.

Các bạn thân mến,

Ở chủ đề 1 của chương 6, nội dung bài giảng đã cung cấp những kiến thức giúp chúng ta lý giải được được tại sao các quốc gia cần thiết phải giao thương, hiểu khái niệm và vai trò của chính sách thương mại quốc tế. Hôm nay, chủ đề 2 sẽ đi sâu vào các chính sách thương mại quốc tế

2.

Tính đến tháng 7/2022, thế giới có 237 quốc gia và vùng lãnh thổ1. Ở mỗi quốc gia, chúng ta sẽ nhận thấy họ có những giới hạn về nguồn lực riêng. Ví dụ như những quốc gia ở vùng nhiệt đới như Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia thì không trồng lúa mỳ, ki-wi, hay trái cherry. Do vậy, khi thị trường của các quốc gia này có nhu cầu thì họ phải nhập khẩu lúa mỳ, ki-wi, hay trái cherry. Tương tự như máy bay, trực thăng, điện thoại di động, robot người máy phục vụ cho sản xuất…

chúng ta không sản xuất, hoặc sản xuất không đủ đáp ứng thì chúng ta phải nhập khẩu. Ngược lại, ở những quốc gia không đủ lúa gạo phục vụ cho nhu cầu lương thực của người dân như Indonesia, Nhật, Singapore thì họ phải nhập khẩu gạo từ các nước như Việt nam, Thái Lan.

3.

Những giới hạn về nguồn lực có thể là tài nguyên thiên nhiên, hoặc trình độ khoa học kỹ thuật công nghệ, cơ sở vật chất….

Đấy là một trong những nguyên nhân chính yếu để lý giải tại sao các quốc gia lại cần thiết giao thương với nhau.

1 Nguồn: https://worldpopulationreview.com/

P a g e 2 | 7 Và trong quá trình giao thương từ quốc gia này đến quôc gia khác, những khác biệt về tính năng sản phẩm, về giá trị tiền tệ của các quốc gia, và về sự khác biệt rất đặc thù từ địa lý, khí hậu, thổ nhưỡng, đất đai, phong tục tập quán, thói quen sinh hoạt, tâm lý tiêu dùng cho đến các điều khoản trong hoạt động thương mại xuyên biên giới như cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng, chế độ hậu mãi (chăm sóc khách hàng sau khi mua), ..v..v.. buộc chính phủ các quốc gia cần thiết phải có sự can thiệp trong việc xây dựng nên những chính sách thương mại.

4.

Học xong chủ đề này, các bạn sẽ:

1. Phân tích sự khác biệt giữa học thuyết thương mại quốc tế và chính sách thương mại quốc tế.

2. Phân biệt được hai loại công cụ chính trong chính sách thương mại quốc tế: thuế quan và phi thuế phan.

3. Đánh giá được ưu và nhược điểm của 5 công cụ trong thương mại quốc tế (Thuế xuất nhập khẩu, hạn ngạch, trợ giá, phá giá, giới hạn xuất khẩu tự nguyện)

5.

1. Khái niệm

Chính sách thương mại quốc tế (international trade policy) hay còn gọi là chính sách ngoại thương là các hệ thống các nguyên tắc, biện pháp kinh tế, hành chính và pháp luật mà Nhà nước dùng để quản lý nhằm đạt được các mục tiêu trong lĩnh vực thương mại quốc tế trong một khoản thời gian nhất định. Thường được xác định trong một năm.

- Chính sách thương mại quốc tế phải góp phần đảm bảo mục tiêu chung cho sự phát triển bền vững trong nền kinh tế - chính trị - xã hội của quốc gia. Vì thế, những chính sách ấy thường cũng phải thay đổi cho phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của quốc gia trong từng thời kỳ khác nhau, tùy thuộc vào những biến chuyển của xã hội.

6. 2. Thuế quan và phi thuế quan

P a g e 3 | 7 Định nghĩa và phân loại các biện pháp thuế quan

- Thuế quan là một hình thức thuế hoặc lệ phí do chính phủ áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu hoặc hàng hóa xuất khẩu.

- Thuế quan trong hoạt động thương mại quốc tế là do hải quan của một nước thu đối với hàng hóa xuất khẩu hoặc hàng hóa nhập khẩu khi vận chuyển qua cửa khẩu của nước đó.

Thông thường, các biện pháp phi thuế quan được chuyển thành thuế quan ràng buộc.

7.

Một phần của tài liệu sách hướng dân kinh doanh quốc tế (Trang 68 - 78)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(108 trang)