Chương 5: SỰ KHÁC BIỆT VỀ VĂN HOÁ GIỮA CÁC QUỐC GIA
1. Khái niệm văn hoá
Vào năm 1874, Edward Taylor cho rằng văn hoá được xem như là tổng thể phức hợp bao gồm kiến thức, đức tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, bất
P a g e 2 | 6 cứ khả năng và tập quán mà mỗi con người có được khi trở thành một thành viên trong xã hội.
Ngoài ra, Geert Hofstede, một chuyên gia người Hà Lan về sự khác biệt giữa các nền văn hóa và quản lý quốc tế, đã định nghĩa văn hóa là “sự lập trình chung của tâm trí để phân biệt các thành viên của nhóm người này với nhóm người khác.” Nghiên cứu của Hofstede cho đến nay là nghiên cứu văn hóa được sử dụng nhiều nhất trong cả học thuật và thực tiễn kinh doanh trong suốt thời gian qua. Văn hóa, theo nghĩa này, bao gồm các hệ thống giá trị, và các giá trị nằm trong các khối xây dựng của văn hóa.
Ngoài ra, chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã đưa ra định nghĩa về văn hoá như sau:
“Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ. Chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, ở, mặc, và các phương thức sử dụng. Toàn bộ sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá.”
Có thể nói, văn hoá chính là nền tảng tinh thần của xã hội, gắn kết mọi người trong cùng một xã hội lại gần với nhau hơn.
3.
Tóm lại, Anh/ Chị có thể hiểu rằng văn hoá là một hệ thống các ý thức, giá trị, chuẩn mực trong cuộc sống được cộng đồng hay xã hội chia sẻ, duy trì và phát triển từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Văn hoá được xem như là đặc trưng giúp tạo nên sự khác biệt giữa các quốc gia khác nhau. Có thể nói, văn hoá chính là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực tạo động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.
4.
Các yếu tố hình thành nên văn hoá
Sau khi tìm hiểu về khái niệm của văn hoá thì tiếp theo đây chúng ta cùng tìm hiểu và phân tích các yếu tố cấu thành nên văn hoá của mỗi quốc gia. Đó là các yếu tố căn bản như cấu trúc xã hội, ngôn ngữ, các phương thức giao tiếp, tín ngưỡng, các giá trị và giáo dục.
P a g e 3 | 6 Các yếu tố này có sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa các yếu tố này sẽ ảnh hưởng đến môi trường địa phương cũng như các hoạt động kinh doanh quốc tế đang diễn ra.
5.
Tôn giáo – tín ngưỡng
Trong đó, yếu tố đầu tiên hình thành nên văn hoá đó chính là tôn giáo - tín ngưỡng. Do đó, tôn giáo – tín ngưỡng đóng vai trò quan trọng trong xã hội.
Tôn giáo – tín ngưỡng được định nghĩa là hệ thống các giá trị, niềm tin vào những gì siêu nhiên, thiêng liêng hay thần thánh, cũng như đạo lý, lễ nghi, tục lệ và tổ chức liên quan đến niềm tin đó. Trong khi đó, hệ thống đạo đức đề cập đến một tập hợp các nguyên tắc đạo đức, giá trị được sử dụng để hướng dẫn và hình thành hành vi. Hầu hết các hệ thống đạo đức của thế giới là sản phẩm của các tôn giáo. Chẳng hạn như, Nho giáo ảnh hưởng đến hành vi và hình thành nên văn hoá ở các khu vực Châu Á, nhưng coi Nho giáo là một tôn giáo là không chính xác.
6.
Hiện nay, trên thế giới có các tôn giáo phổ biến như Phật giáo, Hồi giáo, Thiên Chúa giáo, Do Thái giáo, …. nhưng tất cả đều cùng mang đến ý nghĩa và mong muốn hướng con người đến những mục đích tốt đẹp, cao cả của cuộc sống.
Ngoài ra, nước có sự đa dạng tôn giáo, công ty sẽ gặp nhiều thách thức.
Tính đến năm 2020, trên thế giới có 2.38 tỉ tín đồ thuộc Thiên Chúa giáo, 1.91 tỷ tín đồ là Hồi giáo, 1.16 tỷ tín đồ thuộc Ấn Độ giáo, 507 triệu người hiện thuộc Phật giáo. Ngoài ra, 430 triệu người dân hiện đang theo đạo dân gian và 1,19 tỷ người dân là không thuộc bất cứ tôn giáo nào.
7.
Ngôn ngữ
Một trong những khác biệt rõ ràng giữa các quốc gia với nhau được thể hiện qua ngôn ngữ. Khi đó, ngôn ngữ cũng là một trong những yếu tố tạo nên sự khác biệt giữa các nền văn hoá với nhau. Vì ngôn ngữ giúp cho người dân có thể dễ dàng
P a g e 4 | 6 giao tiếp, trao đổi thông tin với nhau hơn. ngôn ngữ được thể hiện qua cả hai hình thức bao gồm giao tiếp thành lời và giao tiếp phi ngôn ngữ.
Các quốc gia có nhiều ngôn ngữ thường có nhiều hơn một nền văn hóa. Canada có một nền văn hóa nói tiếng Anh và một nền văn hóa nói tiếng Pháp. Căng thẳng giữa hai bên có thể tăng lên khá cao, với một tỷ lệ đáng kể là người dân nói tiếng Pháp đòi độc lập khỏi một Canada “bị thống trị bởi những người nói tiếng Anh”.
8.
Ngôn ngữ
Theo thống kê hiện nay, khoảng 3000 ngôn ngữ đang được sử dụng và khoảng 10000 ngôn ngữ địa phương khác nhau. Trong đó, ngôn ngữ Trung Quốc và Anh là 2 ngôn ngữ được sử dụng nhiều nhất. Vì số lượng người dân Trung Quốc đông nên ngôn ngữ Trung được sử dụng như tiếng mẹ đẻ tại Trung Quốc. Trong khi đó, tiếng Anh lại được sử dụng rộng rãi ở 146 quốc gia khác nhau như Canada, Mỹ, Anh, ….. (https://www.ethnologue.com/guides/most-spoken-languages) Tiếng Anh đang ngày càng trở thành ngôn ngữ kinh doanh quốc tế trên toàn thế giới, vì nó đã được phổ biến rộng rãi trong nhiều năm qua. Khi các doanh nhân Nhật Bản và Đức hợp tác làm ăn, gần như chắc chắn rằng họ sẽ giao tiếp bằng tiếng Anh. Tuy nhiên, mặc dù tiếng Anh được sử dụng rộng rãi, việc học ngôn ngữ địa phương mang lại những lợi thế đáng kể. Hầu hết mọi người thích trò chuyện bằng ngôn ngữ của họ và việc có thể nói tiếng địa phương có thể xây dựng mối quan hệ và thiện chí, điều này có thể rất quan trọng đối với một thương vụ kinh doanh. Các doanh nghiệp quốc tế không hiểu ngôn ngữ địa phương có thể mắc sai lầm lớn khi dịch thuật sai và không truyền tải được nội dung của sản phẩm.
9.
Ngôn ngữ
Ngôn ngữ không lời đề cập đến giao tiếp phi ngôn ngữ. Chẳng hạn như việc nhướng mày là một dấu hiệu của sự phục hồi trong hầu hết các nền văn hóa,
P a g e 5 | 6 trong khi nụ cười là một dấu hiệu của niềm vui. Tuy nhiên, nhiều tín hiệu phi ngôn ngữ lại bị ràng buộc về mặt văn hóa. Không hiểu được các tín hiệu phi ngôn ngữ của một nền văn hóa khác có thể dẫn đến thất bại trong giao tiếp. Ví dụ, tạo vòng tròn bằng ngón cái và ngón trỏ là một cử chỉ thân thiện ở Hoa Kỳ, nhưng ở Nhật nó được xem như gợi ý về tiền bạc.
Một khía cạnh khác của giao tiếp phi ngôn ngữ là không gian cá nhân, là khoảng cách có thể thoải mái giữa bạn và người mà bạn đang trò chuyện. Tại Hoa Kỳ, khoảng cách thông thường được các bên áp dụng trong một cuộc thảo luận kinh doanh là từ 5 đến 8 feet. Ở Mỹ Latinh, khoảng cách giữa cá nhân là ba đến năm feet. Do đó, nhiều người Bắc Mỹ cảm thấy rằng người Mỹ Latinh đang xâm phạm không gian cá nhân của họ và có thể thấy họ đang lùi lại phía sau trong cuộc trò chuyện.
10.
Giáo dục
Bên cạnh yếu tố ngôn ngữ thì giáo dục cũng đóng vai trò then chốt trong xã hội.
Vì giáo dục là phương tiện giúp mỗi cá nhân có thể học hỏi các kỹ năng cứng và mềm khác nhau như ngôn ngữ, toán học, văn học, hoá học,….
Giáo dục cũng thể hiện vai trò của gia đình trong việc con cái của mình hiểu các giá trị và chuẩn mực của xã hội. Các trường học thường dạy những thông tin cơ bản về bản chất xã hội và chính trị của một xã hội. Họ cũng tập trung vào các nghĩa vụ cơ bản của quyền công dân. Các chuẩn mực văn hóa cũng được dạy gián tiếp ở trường. Tôn trọng người khác, tuân theo quyền hạn, trung thực, gọn gàng, đúng giờ, v.v. Việc sử dụng hệ thống chấm điểm cũng dạy trẻ giá trị của thành tích cá nhân và sự cạnh tranh.
11.
Giáo dục
Mặt khác, dưới góc độ kinh doanh quốc tế, giáo dục được xem là một trong những yếu tố quyết định lợi thế cạnh tranh quốc gia. Có thể nói, khi sở hữu một đội ngũ nhân viên được đào tạo tốt và có kỹ năng chuyên môn chính là một yếu
P a g e 6 | 6 tố quyết định sự thành công về mặt kinh tế của mỗi nước. Chẳng hạn như, với truyền thống giáo dục lâu đời, Nhật Bản sở hữu một lượng lớn người lao động biết chữ, có trình độ học vấn và ngày càng có tay nghề cao. . . Hệ thống giáo dục cấp 1 và cấp 2 ở Nhật Bản hoạt động dựa trên các tiêu chuẩn cao và nhấn mạnh vào toán và khoa học. Giáo dục tiểu học và trung học có tính cạnh tranh cao. Nền giáo dục Nhật Bản cung cấp cho hầu hết học sinh trên khắp Nhật Bản một nền giáo dục tốt cho giáo dục và đào tạo sau này. Một học sinh tốt nghiệp trung học Nhật Bản biết nhiều về toán như hầu hết các học sinh tốt nghiệp đại học Mỹ.
Theo quan điểm của Porter là hệ thống giáo dục xuất sắc của Nhật Bản chính là yếu tố quan trọng về sự thành công kinh tế của đất nước sau chiến tranh. Hệ thống giáo dục tốt không chỉ là yếu tố quyết định lợi thế cạnh tranh quốc gia, mà nó còn là yếu tố quan trọng hướng dẫn lựa chọn địa điểm của các doanh nghiệp quốc tế. Ví dụ, xu hướng thuê ngoài công nghệ thông tin ở Ấn Độ gần đây một phần là do sự hiện diện của một số lượng đáng kể các kỹ sư được đào tạo ở Ấn Độ, đó kết quả của hệ thống giáo dục Ấn Độ.
12. Xin cảm ơn và hẹn gặp lại Anh/ Chị ở nội dung chương sau nha.
Tài liệu tham khảo
Charles W. L. Hill, 12th edition (2019), International Business: competing in the global marketplace, McGraw-Hill, New York.
Trịnh Thùy Anh, Trương Mỹ Diễm, Ngô Kim Trâm Anh (2017), Kinh doanh quốc tế, NXB Kinh tế TpHCM.
P a g e 1 | 6
BÀI GIẢNG DẠNG VĂN BẢN (SCRIPT) Môn học: KINH DOANH QUỐC TẾ