3.3. Đề xuất giải pháp
3.3.3. Đối với gia đình người bệnh
Khi NB được trở về với gia đình, xã hội cần phải xác định:
+ Gia đình NB phải xác định việc chăm sóc NB trầm cảm không phải chỉ dựa vào thuốc là đủ, mà cần dựa vào sự quan tâm chăm sóc từ phía gia đình NB, đặc biệt là chăm sóc tâm lý để giúp đỡ NB tái hòa nhập với cuộc sống.
+ Người nhà luôn gần gũi, động viên, cảm thông chia sẻ những mặc cảm của NB.
+ Hỗ trợ người bệnh tập vận động, tham gia cùng để tạo động lực cho người bệnh
+ Gia đình NB cần nắm rõ được những nguy cơ làm cho bệnh ngày càng nặng lên như tâm trạng lo lắng, buồn chán, phiền muộn...
+ Khi NB rơi vào trạng thái trầm buồn, sa sút thì gia đình cần vệ sinh cho NB khi họ không thể tự làm được.
+ Khi NB ổn định trở về cộng đồng thì gia đình không để NB rơi vào trạng thái thụ động hãy làm việc gì đó với họ như: lao động nhẹ nhàng phù hợp với khả năng của NB, động viên NB tham gia vào các hoạt động nơi NB công tác.
+ Bố trí thời gian tham gia đầy đủ các lớp tập huấn kiến thức về bệnh và chăm NB trầm cảm.
+ Tái khám định kỳ, uống thuốc đầy đủ theo đơn không được tự ý bỏ thuốc khi chưa được sự đồng ý của bác sĩ.
+ Quản lý thuốc chặt chẽ và cho NB uống đều hàng ngày theo hướng dẫn của thầy thuốc, phát hiện tác dụng phụ của thuốc hay triệu chứng của bệnh báo cáo kịp thời cho bác sỹ chuyên khoa.
+ Khi NB có biểu hiện các triệu chứng của bệnh cần đưa NB đến cơ sở y tế chuyên khoa tâm thần gần nhất để khám và điều trị.
KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn công tác chăm sóc NB trầm cảm tại đơn nguyên điều trị tâm thần người già Viện Sức Khỏe Tâm thần- Bệnh viện Bạch Mai, tôi xin có môt số kết luận sau:
Qua tìm hiểu về bệnh lý trầm cảm nói riêng và các bệnh tâm thần nói chung và chăm sóc người bệnh tại bệnh viện tâm thần , tôi rút ra một số kết luận như sau:
Người bênh trầm cảm cơ bản được chăm sóc tốt. Tuy nhiên công tác chăm sóc của điều dưỡng chưa tuân thủ đầy đủ theo quy trình kỹ thuật ở một số điểm như cho uống thuốc, phụ hồi chức năng…
Người bệnh chưa thực sự được chăm sóc một cách toàn diện, chăm sóc dinh dưỡng, chăm sóc tâm lý…và chủ yếu là do thân nhân người bệnh làm.
Một số người bệnh không có người nhà chăm sóc thường xuyên thì không đảm bảo nhu cầu vệ sinh dinh dưỡng.
Trang thiết bị, dụng cụ còn thiếu, nhân viên y tế đặc biệt là điều dưỡng cần tăng cường hơn nữa việc truyền thông, giáo dục sức khỏe người bệnh ; lồng ghép GDSK với chăm sóc và điều trị nhằm nâng cao kiến thúc cho người bệnh và hiệu quả điều trị. Kỹ năng và bệnh lý Trầm Cảm cho cho người bệnh của nhân viên ý tế còn hạn chế. Vì vậy cần có các lớp tập huấn để nâng cao kỹ năng cho điều dưỡng.
Người nhà chưa thực sự quan tâm tới người bệnh, chưa có sự chăm sóc chu đáo, chưa hiều về bênh Trầm cảm dẫn đến công tác chăm sóc chưa tốt với ngườibệnh.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Kim Việt, Nguyễn Văn Tuấn (2016), Giáo trình bệnh học tâm thần, Nhà xuất bản y học, Hà Nội.
2. .Nguyễn Doãn Phương, Nguyễn Văn Tuấn, Trần Thị Hà An và cộng sự.
(2019), Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số rối loạn tâm thần thường gặp, Nhà xuất bản y học, Hà Nội.1.
3. Nguyễn Đăng Dung, Nguyễn Văn Xiêm (1991), Rối loạn trầm cảm , Bách khoa thư bệnh học, Hà Nội, tr. 215 – 218
4. Nguyễn Đăng Dung, Nguyễn Văn Xiêm (1991), Rối loạn trầm cảm , Bách khoa thư bệnh học, Hà Nội, tr. 215 – 218
5. Phan Ngọc Hà. Nhận xét lâm sàng trầm cảm trầm cảm trong bệnh viện tâm thần phân liệt theo ICD – 10 ở Quảng Nam – Đà Nẵng, Hà Nội 11 – 195, tr.57
6. Đỗ Thúy Lan. (1994), “Chăm sóc sức khỏe tại cộng đồng”
7. Trần Văn Long(2009), “ Bài giảng GDSK dành cho đối tượng cao đẳng, đại học “.
8. Nguyễn Văn Ngân(1996), Rối loạn trầm cảm, Một số chuyên đề tâm thần học, Học viện quân y, Hà Nội, tr 62 - 63, 66 – 67
9. Trần Viết Nghị, Nguyễn Văn Siêm, Nguyễn Viết Thiêm, Trần Văn Cường (2001), “Nghiên cứu dịch tễ - lâm sàng rối loạn trầm cảm tại một số quần thể cộng đồng” , Nội san tâm thần học, Hội tâm thầ học, số 5, Hà Nội, tr.21-22.
10. Andrade L., Caraveo-Anduaga J.J., Berglund P. et al. (2003). The epidemiology of major depressive episodes: results from the International Consortium of Psychiatric Epidemiology (ICPE) Surveys.
Int J Methods Psychiatr Res, 12(1), 3–21.
11. Kessler R.C., Ormel J., Petukhova M. et al. (2011). Development of lifetime comorbidity in the World Health Organization world mental health surveys. Arch Gen Psychiatry, 68(1), 90–100.
12. Nguyễn Viết Thiêm, Lã Thị Bưởi (2001), Bệnh học tâm thần phần nội sinh (Tập bài giảng dành cho sau đại học), Trường Đại học Y Hà Nội, Hà Nội.
13. Lépine J.-P., Briley M. (2011). The increasing burden of depression.
Neuropsychiatr Dis Treat, 7(Suppl 1), 3–7.
14. Davison K. (2006). Historical aspects of mood disorders. Psychiatry, 5(4), 115–118.
15. Tổ chức Y tế Thế giới (1992), Bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 về các rối loạn tâm thần và hành vi .
16. American Psychiatric Association (2013) Generalized Anxiety disorder Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders, 5th Edition,222 17. Kendler K.S., Gatz M., Gardner C.O. et al. (2006). A Swedish national
twin study of lifetime major depression. Am J Psychiatry, 163(1), 109–
114.
18. Shadrina M., Bondarenko E.A., Slominsky P.A. (2018). Genetics Factors in Major Depression Disease. Front Psychiatry, 9.
19. Dalton V.S., Kolshus E., McLoughlin D.M. (2014). Epigenetics and depression: return of the repressed. J Affect Disord, 155, 1–12.
20. Nutt D.J. (2008). Relationship of neurotransmitters to the symptoms of major depressive disorder. J Clin Psychiatry, 69 Suppl E1, 4–7.
21. Delgado P.L., Miller H.L., Salomon R.M. et al. (1993). Monoamines and the mechanism of antidepressant action: effects of catecholamine depletion on mood of patients treated with antidepressants.
Psychopharmacol Bull, 29(3), 389–396.
22. Dunlop B.W., Nemeroff C.B. (2007). The role of dopamine in the pathophysiology of depression. Arch Gen Psychiatry, 64(3), 327–337.
23. Sanacora G., Mason G.F., Rothman D.L. et al. (1999). Reduced cortical gamma-aminobutyric acid levels in depressed patients determined by proton magnetic resonance spectroscopy. Arch Gen Psychiatry, 56(11), 1043–1047.
24. Benjamin James Sadock M.D, Virginia Alcott Sadock M.D, Pedro Ruiz M.D. (2015). Mood disorders. Kaplan & Sadock’s Synopsis of PsychiatryBehavioral Sciences/Clinical Psychiatry. 11th, Wolters Kluwer, Newyork, 347–379.
25. Thériault R.-K., Perreault M.L. (2019). Hormonal regulation of circuit function: sex, systems and depression. Biol Sex Differ, 10.
26. Ergotherapie bei Depressionen - Praxis fur Ergotherapie Oldenburg.
Accessed August 25, 2021
27. Ma Z., Bayley M.T., Perrier L. et al. (2019). The association between adverse childhood experiences and adult traumatic brain injury/
concussion: a scoping review. Disabil Rehabil, 41(11), 1360–1366.
28. McGowan P.O., Sasaki A., D’Alessio A.C. et al. (2009). Epigenetic regulation of the glucocorticoid receptor in human brain associates with childhood abuse. Nature Neuroscience, 12(3), 342–348.
29. Rizvi S., Khan A.M. Use of Transcranial Magnetic Stimulation for Depression. Cureus, 11(5).
30. Ian Anderson, Stephen Pilling, và Alison Barnes (2019). The Treatment and Management of Depression in Adults (Updated Edition). The British Psychological Society and The Royal College of Psychiatrists, 638.
31. Bộ Y tế (2002), Quyết định số 940/2002/QĐ-BYT ngày 22/3/2002 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành Hướng dẫn quy trình chăm sóc người bệnh.
32. Scott Patten et al. (2006), “Descriptive Epidemiology of Major Depression in Canada”, Canadian journal of psychiatry. Revue canadienne de psychiatrie, 51(2), pp. 84-90.