1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Mối quan hệ giữa thương mại quốc tế và đầu tư trực tiếp từ nước ngoài trong bối cảnh thực hiện các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới

27 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mối quan hệ giữa thương mại quốc tế và đầu tư trực tiếp từ nước ngoài trong bối cảnh thực hiện các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế quốc tế
Thể loại Nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 197,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

https tailieuluatkinhte com MỐI QUAN HỆ GIỮA THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP TỪ NƯỚC NGOÀI TRONG BỐI CẢNH THỰC HIỆN CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚI Tóm tắt Đầu tư trực tiếp từ nước.Trong bối cảnh toàn cầu hóa, các nước đang phát triển ngày càng tham gia sâu rộng vào các Hiệp định Thuận lợi hóa Thương mại, các thỏa thuận trong khu vực trên thế giới, đầu tư FDI đang ngày càng đóng góp vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Để tìm hiểu về tác động của của cá

Trang 1

MỐI QUAN HỆ GIỮA THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP

TỪ NƯỚC NGOÀI TRONG BỐI CẢNH THỰC HIỆN CÁC HIỆP ĐỊNH

THƯƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚI

Tóm tắt

Đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) hiện nay là một yếu tố quan trọng ảnh hưởngđến sự phát triển kinh tế của một quốc gia với những lợi ích mà nó mang lại Xemxét và tham khảo các nghiên cứu có từ trước của các tổ chức về kinh tế, đầu tư nhưWTO, OECD, UNCTAD, … bài nghiên cứu này được thực hiện với mục đíchkhám phá mối quan hệ giữa FDI và thương mại quốc tế, được đặt trong bối cảnhthực hiện các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (FTAs) Qua nghiên cứu sơ

bộ ban đầu và xác định được khung khái niệm của mối quan hệ này, bài nghiên cứu

đã đi đến được nhiều kết luận đúng hướng Trong bối cảnh thực hiện các FTA thế

hệ mới, mối quan hệ giữa FDI và thương mại quốc tế càng trở nên rõ ràng và gắnchặt hơn thông qua sự tác động của FDI lên tình hình xuất khẩu của các quốc gia vàthương mại quốc tế thúc đẩy sự cần thiết của FDI như thế nào Bài nghiên cứu cũng

đã trình bày sự thay đổi tích cực của FDI và thương mại quốc tế dưới sức ảnhhưởng của các FTA thế hệ mới Cuối cùng, bài nghiên cứu cũng đưa ra các hàm ý

về chính sách và đề xuất cho Việt Nam từ mối liên hệ giữa FDI và thương mại quốc

tế

Từ khóa: Đầu tư trực tiếp nước ngoài, FDI, thương mại quốc tế, WTO, UNCTAD,

Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, FTAs, mối quan hệ, tình hình xuất khẩu,hàm ý chính sách, đề xuất, Việt Nam, …

THE RELATIONSHIP BETWEEN INTERNATIONAL TRADE AND

FOREIGN DIRECT INVESTMENT IN THE CONCERN OF IMPLEMENTATION OF THE NEW-

GENERATION OF FREE TRADE AGREEMENTS Abstract

Foreign direct investment (FDI) is now an important factor in the development of

an economy considering the benefits that come with it Reviewing and referring toprevious studies of some economy and investment organizations such as WTO,

Trang 2

OECD, UNCTAD, etc., this study was conducted with the aim of exploring therelationship between FDI and international trade in the context of theimplementation of new-generation Free Trade Agreements (FTAs) Through theinitial preliminary research and defining the conceptual framework of thisrelationship, the study has reached many conclusions in the right direction In thecontext of implementing new-generation FTAs, the relationship between FDI andinternational trade has become clearer and more closely linked through the impact

of FDI on exports of countries and how international trade promotes the need forFDI The study also presented the positive changes of FDI and international tradeunder the influence of new-generation FTAs Finally, the study also providedpolicy implications and recommendations for Vietnam form the relationshipbetween FDI and international trade

Keywords: Foreign direct investment, FDI, international trade, WTO, UNCTAD,

new-generation Free Trade Agreements, FTAs, relationship, export situation,policy implications, recommendations, Vietnam, …

1 Giới thiệu chung

Thương mại quốc tế và đầu tư quốc tế đều là những trụ cột quan trọng của nền kinh

tế, thể hiện được thế mạnh cũng như sự hấp dẫn của một nền kinh tế trên trườngquốc tế Mối quan hệ giữa hai thành tố này cũng thường xuyên được đề cập nhưnglại có sự khác biệt qua từng thời điểm và bối cảnh của nền kinh tế, nếu như trướcđây chúng được nhắc đến là những yếu tố thay thế nhau không thể đồng hành cùngnhau, nếu thu hút về đầu tư quốc tế thì không phát triển thương mại quốc tế tuynhiên trong một bối cảnh mới lại chứng minh một điều khác hẳn là thương mạiquốc tế và đầu tư quốc tế lại là hai yếu tố song hành và bổ trợ cho nhau Hiểu rõ vàhiểu chính xác được mối quan hệ giữa 2 thành tố quan trọng này sẽ giúp cho nhữngdoanh nghiệp, hay quan trọng hơn là Chính phủ có thể đưa ra được những quyếtđịnh đúng đắn nhằm thúc đẩy cả thương mại lẫn đầu tư quốc tế Đặc biệt trong bốicảnh thực hiện các Hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới là khi mà sự tự dothương mại hóa ở mức độ toàn diện hơn và rộng mở hơn, (Thương, 2022) ở bốicảnh mà khi sự thống nhất giữa các thành viên của khối WTO không đi đến sự nhấtquán, hoàn thiện thay vào đó các hiệp định giữa 2 hay một nhóm quốc gia nhất nhưtrong các FTA lại được ưu chuộng hơn và các hiệp định giữa các nước lại được

Trang 3

đàm phán và thống nhất một cách dễ dàng hơn Với một bối cảnh đặc biệt như vậy,

sự gắn kết giữa thương mại quốc tế và đầu tư quốc tế cũng có những điểm khác biệt

nhất định

Đầu tư quốc tế tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau tuy nhiên FDI là yếu tố quantrọng hơn cả trong việc nghiên cứu mối liên kết với thương mại quốc tế đặc biệt làvới thực tế tại Việt Nam, FDI chiếm tới tổng sản phẩm quốc nội, và hơn 70%⅕tổng giá trị xuất khẩu (Nam, 2022) Vì vậy việc nghiên cứu sự gắn kết thương mạiquốc tế và FDI là một chủ đề quan trọng và cần thiết để nhìn ra được mối quan hệgiữa thương mại quốc tế và vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài tương tác và ảnhhưởng tới nhau như thế nào trong bối cảnh thực hiện các FTA thế hệ mới

Trong bài nghiên cứu này chúng em sẽ đưa ra một cái nhìn tổng quan để đưa ramối liên hệ giữa thương mại quốc tế và FDI, và một số hàm ý chính sách cho ViệtNam để tận dụng phát triển đầu tư quốc tế cũng như thương mại quốc tế thông quaviệc giải quyết 4 câu hỏi nghiên cứu: “(1) Dựa trên lý thuyết sự tác động qua lạigiữa thương mại quốc tế và FDI được thể hiện như thế nào? (2) Mối quan hệ giữathương mại quốc tế và FDI được thể hiện trong các FTA có những điểm gì?

(3) Trong bối cảnh thực hiện các FTA mối liên hệ giữa thương mại quốc tế và FDIchặt chẽ hơn hay lỏng lẻo hơn? (4) Những hàm ý đề xuất chính sách phát triển choViệt Nam là gì?” Để trả lời những câu hỏi này một cách hoàn thiện nhất, bài nghiêncứu của chúng em được thực hiện theo cách tổng hợp những tài liệu, bài báo, bàinghiên cứu đã có về FDI và thương mại quốc tế về mối liên hệ và tác động qua lạigiữa 2 yếu tố này

Bài nghiên cứu của chúng em được triển khai những phần như sau: mục thứ 2 Tổng quan tài liệu nghiên cứu, mục 3 - Khung khái niệm nghiên cứu để xây dựngmột cơ sở lý thuyết cho bài nghiên cứu, mục 4 - đưa ra những kết quả nghiên cứu

-và thảo luận về mối quan hệ giữa thương mại quốc tế -và FDI -và phần cuối cùng lànhững hàm ý về chính sách và đề xuất giải pháp cho Việt Nam trong bối cảnh thựchiện các FTA thế hệ mới

2 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Trong phần tổng quan tài liệu nghiên cứu, những tài liệu đã được công bố liênquan trực tiếp đến chủ đề “Mối quan hệ giữa thương mại quốc tế và FDI” sẽ được

Trang 4

nhóm tổng hợp theo phương pháp nhất định và tiếp đến là bước chọn lọc trong sốnhững tài liệu đó nhằm đánh giá và đưa ra quan điểm về những mặt tích cực cũngnhư những điểm còn hạn chế

2.1 Phương pháp chọn lọc tài liệu

• Dữ liệu nghiên cứu: Science Direct, Sage, Emerald Insight, Proquest,Elsevier, Wiley Online Library, ResearchGate, UNCTAD Library, OECDLibrary, FTU Working Paper

Series Thời gian công bố các tài liệu nghiên cứu trải từ năm 1996 đến năm

2022 Mục đích của phần tổng quan nghiên cứu này nhằm đưa đưa ra một cáinhìn tổng quan về mối quan hệ giữa thương mại quốc tế và FDI trong cácnghiên cứu có sẵn đã công bố khi nghiên cứu về chủ đề này trước đây

• Những cụm từ được sử dụng để tra cứu tài liệu: “trade and FDI” (thương mại

và FDI), “the relationship between international trade and FDI” (mối quan hệgiữa thương mại và FDI), “the impact of trade on FDI" (ảnh hưởng củathương mại đến FDI), “the impact of FDI on trade" (ảnh hưởng của FDI đếnthương mại), “Investment in FTAs” (vấn đề đầu tư trong các hiệp địnhthương mại tự do) Các tài liệu được tìm kiếm cả được viết bằng cả tiếngAnh và tiếng Việt

• Với những dữ liệu nghiên cứu trên và các từ khóa từ khóa tìm kiếm nhómnghiên cứu đã sưu tầm được 20 tài liệu nghiên cứu có từ khóa liên quan trựctiếp đến từ khóa mục tiêu Trong số 20 bài này có 4 bài nghiên cứu được lựachọn làm tài liệu để đánh giá và được liệt kê theo trình tự thời gian như sau:

o “Trade and foreign direct investment” (Thương mại và đầu tư trực tiếpnước ngoài) là báo cáo thường niên từ WTO vào năm 1996, tính với thờiđiểm nghiên cứu hiện tại đây là một tài liệu không có tính cập nhật tuy nhiênđây được coi là một nghiên cứu có tính toàn diện và là bước ngoặt đầu tiên

về mối quan hệ giữa thương mại và FDI (WTO | News - “Trade and foreign direct investment”, 1996)

o FDI and Trade – Two Way Linkages? (FDI và Thương mại - Mối liên

kết hai chiều?) (Aizenman and Noy, 2006)

Trang 5

o Trade and Investment Linkages and Policy Coordination: Lessons

from Case Studies in Asian Developing Countries (Liên kết Thương mại và Đầu tư vàPhối hợp Chính sách: Bài học từ các Nghiên cứu điển hình ở các nước đangphát triển Châu Á) là một nghiên cứu đến từ ARTNeT - Asia-PacificResearch and Training Network on Trade) (Duval,

2008) o Foreign Direct Investment and Trade - BetweenComplementarity and Substitution

Evidence from European Union Countries (Đầu tư trực tiếp nước ngoài vàthương mại -

Giữa bổ sung và thay thế Bằng chứng từ các nước thuộc Liên minh Châu

Âu) (Link to external site et al., 2021)

2.2 Báo cáo thường niên năm 1996 của WTO

2.2.1 Những mặt tích cực

Thứ nhất, báo cáo thường niên năm 1996 có tính bước ngoặt và khơi nguồn cũng

như phát triển cho đề tài nghiên cứu về mối quan hệ về FDI và thương mại quốc tếsau này, đây là bản báo cáo dù đã cách đây gần 30 năm nhưng vẫn được vô cùngnhiều bản nghiên cứu trích dẫn và sử dụng làm tài liệu tham khảo

Thứ hai, bản báo cáo của WTO đã chỉ rõ và phê bình một quan điểm khi khẳng

định thương mại quốc tế và FDI có mối quan hệ thay thế “quan điểm truyền thốngnày coi thương mại và FDI như những yếu tố thay thế, đã bỏ qua sự phức tạp của

mối quan hệ trong nền kinh tế toàn cầu đương đại.” (WTO | News - “Trade and foreign direct investment”, 1996)

Thứ ba, bài báo cáo đưa ra gợi ý với những doanh nghiệp sản xuất đặc biệt là sản

xuất hàng hóa với bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng mạnh mẽ, một công tyđịnh hướng xuất khẩu có thể phải mua các cơ sở ở các nước khác để duy trì khảnăng cạnh tranh - nghĩa là để tồn tại

2.2.2 Những mặt hạn chế

Bên cạnh những mặt tích cực của một nghiên cứu mang tính bước ngoặt thì đây có

lẽ cũng trực tiếp là mặt hạn chế đối với bản báo cáo của WTO

Trang 6

Thứ nhất, bản báo cáo thực tế chỉ xét theo một khía cạnh về mối quan hệ giữa

thương mại và dòng vốn FDI qua trả lời câu hỏi thương mại và FDI là thay thế hay

bổ sung lẫn nhau, còn những phần khác lại không phân tích rõ ràng về xu hướng của mối quan hệ này

Thứ hai, bản báo cáo chỉ nhìn nhận khía cạnh về sự tương quan mà không đi đến

những khía khác của mối quan hệ này - sự ảnh hưởng lẫn nhau của chúng Và báocáo chủ yếu nghiên cứu dựa trên những chứng cứ thực nghiệm để đi kết luận về sự

bổ sung lẫn nhau của thương mại và FDI

Thứ ba, khi nói về xu hướng của những công ty sản xuất bản báo cáo có đề cập về

việc mua cơ sở ở các nước khác nhau để duy trì nhưng đối với thời điểm hiện tạidường như quan điểm này lại không còn phù hợp với bối cảnh là độ phủ sóng củaInternet và công nghệ số

2.3 Nghiên cứu “FDI và Thương mại – Mối liên kết 2 chiều?”

2.3.1 Những mặt tích cực

Thứ nhất, đây là nghiên cứu duy nhất khác biệt với các nghiên cứu còn lại khi

sử dụng phương pháp định lượng để thực hành nghiên cứu về mối quan hệ giữaFDI và thương mại quốc tế

Thứ hai, dựa trên việc nghiên cứu về mặt con số và những biến tương tác thì

nghiên cứu đã đưa đến một kết luận rằng giữa 2 biến FDI và thương mại quốc tế cótương tác phản hồi tích cực (Aizenman and Noy, 2006) Có nghĩa là 2 biến số này

có mối quan hệ cùng chiều: nếu FDI tăng thì thương mại quốc tế cũng tăng vàngược lại

Trang 7

Thứ nhất, bài nghiên cứu chưa đề cao tầm quan trọng của nhân tố tiềm năng

như khu vực tư nhân và khu vực đầu tư cơ sở hạ tầng công cộng trong khi đây lại làmột đầu vào của quá trình sản xuất

Thứ hai, vai trò của trung gian tài chính trong việc tạo thuận lợi cho đầu tư

trong nước cũng chưa được nhận thấy rõ tầm quan trọng, và bị bỏ sót trong mô hìnhnghiên cứu

2.4 Nghiên cứu đến từ ARTNeT

2.4.1 Những mặt tích cực

Thứ nhất, nghiên cứu “Liên kết Thương mại và Đầu tư và Phối hợp Chính sách:

Bài học từ các Nghiên cứu điển hình ở các nước đang phát triển Châu Á” là mộtnghiên cứu có sự liên hệ mật thiết khi đã nghiên cứu về các nước đang phát triển ởChâu Á và còn đưa ra những gợi ý về mặt chính sách thiết thực

Thứ hai, bài nghiên cứu đã chỉ ra được tầm quan trọng của chính sách thương

mại giữa các chính sách liên quan đến đầu tư, và đã khẳng định rằng giữa chínhsách thương mại và chính sách đầu tư có một tính nhất quán Ngay từ những năm

2000 những nhà nghiên cứu đã nhận ra được điều quan trọng này nhằm có được cáinhìn cũng như quyết định quan trọng liên quan đến mặt chính sách vì nghiên cứuđưa ra kết luận rằng cả chính sách thương mại và thuế đều đóng một vai trò quantrọng trong ảnh hưởng đến quyết định tiếp tục đầu tư của nhà đầu tư, hay thu hútcác nhà đầu tư mới

Thứ ba, ngoài ra bài nghiên cứu cũng chỉ ra được mối quan hệ đã được nhiều

bài nghiên cứu trước đây nhắc đến đó là mối quan hệ bổ trợ giữa thương mại quốc

tế và đầu tư quốc tế nhưng nâng một tầm cao hơn là sự bổ trợ về chính sách và chỉ

ra rằng các biện pháp chính sách thương mại cũng ưu tiên và thúc đẩy cho đầu tư,

ví dụ những chính sách tạo điều kiện thuận lợi về mặt thuế quan cho các mặt hàngxuất khẩu từ các doanh nghiệp FDI cũng là một trong những yếu tố thu hút FDI

2.4.2 Những mặt hạn chế

Bên cạnh những điều tích cực mà bài nghiên cứu mang lại, bài nghiên cứu cũngcòn những mặt hạn chế nhất định

Trang 8

Thứ nhất, nghiên cứu được thực hiện dựa trên quy mô nhỏ khảo sát thí điểm

thăm dò chỉ ở ba quốc gia Câu hỏi đặt ra là liệu đây có là 3 quốc gia điển hìnhtrong khu vực để thực hiện nghiên cứu và lấy làm tổng quan cho những quốc giađang phát triển trong khu vực hay không

Thứ hai, khi nêu ra rằng những chính sách về thương mại thúc đẩy và ưu tiên

đầu tư nhưng tác giả lại không đề cập gì đến liệu việc này gặp khó khăn hay bất cập

gì hay không, trong khi trên thực tế đây là vấn đề không hề đơn giản

2.5 Đầu tư trực tiếp nước ngoài và thương mại - Giữa bổ sung và thay thế Bằng chứng từ các nước thuộc Liên minh Châu Âu

2.5.1 Những mặt tích cực

Thứ nhất, bài nghiên cứu tiếp theo lấy dẫn chứng từ các quốc gia nửa còn lại

của trái đất – đó là các nước thuộc Liên minh Châu Âu, giúp bài nghiên cứu củachúng em không chí bó hẹp trong một vài khu vực

Thứ hai, Bài nghiên cứu có tính mới và chỉ ra được một điều đáng ghi nhận đó

là “FDI không dẫn đến sự thay thế các dòng chảy thương mại mà là tăng cường các

mối quan hệ thương mại.” (Link to external site et al., 2021) Mối quan hệ thương

mại ở đây được ghi nhận như vốn xã hội là một loại vốn mà các quốc gia mongmuốn được xây dựng và thu hút mạnh hơn cả dòng vốn đơn thuần

2.5.2 Những mặt tiêu cực

Nghiên cứu này có những hạn chế riêng, nhóm các quốc gia được nghiên khôngphải là một nhóm đồng nhất, ngay cả khi tất cả các quốc gia đều là thành viên củaLiên minh Châu Âu Thực tế các quốc gia này có trình độ phát triển kinh tế khácnhau, tài nguyên thiên nhiên khác biệt, và ngay cả chính sách thu hút vốn nướcngoài và khả năng hấp thụ cũng không hề tương đồng Do đó, họ thu hút nhiều loạihình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI FDI ra nước ngoài của họ cũng khácnhau, tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, công nghệ, lực lượng lao động, v.v.Ngoài ra, khoảng thời gian lớn hơn của các nghiên cứu trong tương lai có thể cho tacái nhìn sâu sắc hơn Vì vậy phân tích nên được thu hẹp trong một nhóm nhất định

để đi đến đánh giá sâu sắc nhất

Trang 9

3 Khung khái niệm

Hình 1: Khung khái niệm về mối quan hệ giữa thương mại quốc tế và FDI trong

bối cảnh thực hiện các FTA Nguồn: Nhóm nghiên cứu Mô tả khung khái

niệm:

- “Đầu tư trực tiếp nước ngoài” và “Thương mại quốc tế” là 2 biến chính củakhung Mỗi biến vừa là biến độc lập, vừa là biến phụ thuộc thể hiện mốiquan hệ tác động qua lại lẫn nhau Biến phần đuôi mũi tên là biến độc lập,còn biến phần đầu mũi tên là biến phụ thuộc

- “Vốn” và “Môi trường đầu tư” là biến điều tiết mà thông qua việc sử dụngbiến này với số lượng và chất lượng thay đổi, biến độc lập sẽ tùy chỉnh mứcảnh hưởng của nó lên biến phụ thuộc

- “Xuất khẩu” là biến trung gian được tạo ra bởi biến độc lập tương ứng (phầnđuôi mũi tên) mà thông qua nó, biến độc lập sẽ tạo được tác động lên biếnphụ thuộc

u tư ầ đ

ng ờ

i trư Mô

i ớ m ệ h ế

do th ự

tp định thương mại ệ

Hi

ế

t ại quốc Thương m

u ẩ

t kh ấ Xu FDI

Chính sách thu hút

n V

c ngoài

p ế

c ti ự

u tư tr

Đ

i ạ thương m

n ả Các rào c

Trang 10

- “Chính sách thu hút FDI”, “Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới”, “Cácrào cản thương mại” là các biến kiểm soát, thể hiện sự điều tiết của biến đólên biến phụ thuộc tương ứng với hướng mũi tên của nó Biến kiểm soátthường được sử dụng bởi các chủ thể chủ quan bên ngoài, không liên quanđến mỗi quan hệ giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc với nhau

- Đầu tư trực tiếp nước ngoài ảnh hưởng trực tiếp đến thương mại quốc tếbằng việc sử dụng dòng vốn của mình (tiền, máy móc, công nghệ, …) thôngqua việc xuất khẩu đến quốc gia nhận đầu tư Trong khi đó, thương mại quốc

tế cũng tác động đến FDI thông qua việc thiết lập môi trường đầu tư củaquốc gia tiếp nhận nguồn đầu tư đó, như là điều chỉnh kích cỡ thị trường, sự

ổn định vĩ mô và chính trị, tăng trưởng GDP, môi trường pháp lý, … Ngoài

ra, quốc gia tiếp nhận đầu tư có thể tính đến việc sử dụng các rào cản thươngmại để điều chỉnh lượng nhập khẩu của quốc gia, hay thông qua nhiều chínhsách và ký kết hiệp định nhằm thu hút FDI vào trong nước

4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận về mối quan hệ giữa thương mại

quốc tế và đầu tư trực tiép từ nước ngoài

4.1 Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI thúc đẩy xuất khẩu

Nhiều nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng FDI và thương mại có thể bổ sungcho nhau như thế nào và đều cho rằng FDI hướng vào có tác động tích cực đến xuấtkhẩu của một quốc gia Nó làm tăng năng suất và năng lực sản xuất của nước sở tạibằng cách tăng nguồn vốn, chuyển giao công nghệ, kỹ năng quản lý và nâng cao kỹnăng của lực lượng lao động địa phương thông qua đào tạo, tạo điều kiện tiếp cậnthị trường quốc tế Từ đó, các doanh nghiệp nội địa có thể có khả năng nâng cao vịthế của mình trên thị trường quốc tế và bắt đầu cạnh tranh với các nước khác thôngqua việc xuất khẩu FDI có thể tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển giao các tàisản vô hình như kỹ năng và kiến thức công nghệ mà thương mại không thể

Hoạt động xuất khẩu của một quốc gia bị ảnh hưởng trực tiếp bởi FDI theonhững cách sau:

(a) Xuất khẩu thông qua gia công và lắp ráp: Nhiều nước đang pháttriển tăng cường xuất khẩu các sản phẩm công nghệ bằng cách lắp ráp vàgia công ở khâu trung gian và chưa hoàn thiện sản rồi nhập khẩu từ nước

Trang 11

nhà Ví dụ, Trung Quốc trở thành nước xuất khẩu sử dụng nhiều lao độngthống trị các sản phẩm (đồ chơi, giày dép, quần áo và đồ dùng thể thao) vàmột số sản phẩm sử dụng công nghệ cao (máy móc và thiết bị, bao gồmmạch điện tử, máy xử lý dữ liệu tự động và điện thoại di động) (UNCTAD,Năm 2002) Nói chung, các hoạt động xuất khẩu này được tổ chức bởi cácMNC trong sản xuất các sản phẩm quốc tế tích hợp theo chiều dọc (Zhang

và Markusen, 1999)

(b) Xuất khẩu thông qua chuyển đổi các ngành thay thế nhập khẩu:Trong nhiều sản phẩm thay thế nhập khẩu như các sản phẩm thiết bị giadụng và ô tô, FDI kết hợp công nghệ tiên tiến với lao động giá rẻ và sẵn cócủa các nước đang phát triển và sản xuất rồi xuất khẩu các sản phẩm vớigiá cả cạnh tranh trên thị trường quốc tế

(c) Xuất khẩu các sản phẩm cuối cùng sử dụng nhiều lao động:Bằng cách cung cấp các liên kết đến những người mua cuối cùng ở cácquốc gia khác nhau kể cả trong nước, FDI giúp tăng xuất khẩu lao động vàcác sản phẩm cuối cùng thâm dụng công nghệ của các nước chủ nhà

(d) Xuất khẩu nguyên liệu thô chế biến trong nước: Do các mốiquan hệ kinh doanh ở nước ngoài, kỹ năng tiếp thị và công nghệ vượt trội,

cả về sản phẩm và quy trình cũng như bí quyết chung lớn hơn, các MNC cóthể có tiềm năng xuất khẩu hơn các doanh nghiệp bản địa trong việc chếbiến nguyên liệu thô sản xuất trong nước và xuất khẩu tương tự Điều nàyđặc biệt đúng trong giai đoạn đầu phát triển khi đất nước thiếu tài nguyên.FDI cũng tăng cường xuất khẩu sản xuất của các nước đang phát triển (nướcchủ nhà) thông qua các tác động lan tỏa trên hoạt động xuất khẩu của các công tyđịa phương

(a) Học hỏi và bắt chước các công ty trong nước từ các công tynước ngoài: Các công ty trong nước tự kiếm lợi bằng cách xem, học hỏi vàbắt chước các hoạt động xuất khẩu của các công ty liên kết nước ngoài vàbằng cách tận dụng cơ sở hạ tầng của vận tải, thông tin liên lạc và các hoạtđộng tài chính

(b) Thúc đẩy cạnh tranh và hiệu quả: Tác động lan tỏa thứ hai liênquan đến ảnh hưởng của FDI đối với khả năng cạnh tranh của hàng xuất

Trang 12

khẩu của công ty trong nước và sự phổ biến của công nghệ mới Bằng cáchnâng cao công nghệ quy trình sản phẩm, năng lực quản lý và tiếp thị, cácMNC có thể làm tăng sự cạnh tranh trong thị trường và buộc các công tyđịa phương áp dụng các phương pháp hiệu quả hơn.

(c) Liên kết giữa doanh nghiệp nước ngoài và doanh nghiệp trongnước: Sự lan tỏa thứ ba liên quan đến mối liên kết giữa doanh nghiệp nướcngoài và các công ty địa phương Nếu các công ty con nước ngoài địnhhướng xuất khẩu tăng mua nguyên liệu đầu vào từ các công ty trong nước

vì công ty con trưởng thành, xuất khẩu của đất nước tăng lên (UNCTAD,

2001 và 2002)

Một nghiên cứu của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế OECD từ năm 1999cho thấy rằng cho đến giữa những năm 1980, thương mại quốc tế đã giúp kích thíchđầu tư trực tiếp nhiều hơn Sau giai đoạn này, mối quan hệ dường như đã đảongược, với việc đầu tư trực tiếp giúp kích thích tăng trưởng xuất khẩu từ các nướcđầu tư Nghiên cứu của OECD đã phân tích thương mại và FDI ở 14 quốc gia vàphát hiện ra rằng cứ mỗi đô la FDI ra nước ngoài thì tạo ra hai đô la do xuất khẩu

bổ sung

Tuy nhiên, FDI vào có thể có tác động tiêu cực đến xuất khẩu của một quốc gia nếu công nghệ được chuyển giao ở mức thấp, nếu nó kìm hãm sự phát triển của các công ty trong nước là nhà xuất khẩu tiềm năng hoặc nếu đầu tư chỉ nhắm vào thị trường nội địa Tuy nhiên, hầu hết các phân tích cho thấy cả hai có mối tương quan tích cực

Ví dụ, tại Mỹ, phân tích của Investment Monitor cho thấy mối quan hệ tích cựcgiữa xuất khẩu và nguồn vốn FDI

Trang 13

Hình 2: Mối quan hệ giữa xuất khẩu và nguồn vốn FDI

Nguồn: Investment Monitor analysis of UNCTADStat

FDI stock ở đây được đo lường bằng tổng mức vốn đầu tư trực tiếp nước ngoàiFDI vào thời điểm cuối mỗi năm Nhà kinh tế trưởng Glenn Barklie của InvestmentMonitor cho biết: “Từ biểu đồ, chúng ta có thể thấy rằng, nhìn chung, nguồn vốnFDI tại Mỹ đã tăng, cũng như khối lượng xuất khẩu của nước này Suy thoái kinh tế2008/09 cho thấy nguồn vốn FDI phản ứng nhanh hơn, giảm trong năm 2008, trongkhi xuất khẩu tiếp tục tăng, chỉ giảm trong năm 2009 Mặc dù có những yếu tố đónggóp khác, chúng ta có thể suy ra rằng có mối tương quan thuận giữa FDI và thươngmại trong trường hợp này." Cho đến nay, Mỹ là quốc gia nhận FDI lớn nhất trêntoàn cầu, nhưng xu hướng này cũng đã được quan sát thấy ở các quốc gia thu hútlượng FDI vào tương đối thấp hơn và có dòng vốn FDI ra nước ngoài lớn hơn dòngchảy vào của họ

Một tài liệu nghiên cứu được xuất bản bởi Viện Kinh tế Quốc tế Peterson (PIIE)vào năm 1998 cho rằng dữ liệu về Hàn Quốc và Đài Loan cho thấy rất ít mối quan

hệ giữa đầu tư trực tiếp ra nước ngoài và nhập khẩu ở những nước này, mặc dù đầu

tư trực tiếp vào nước dường như bổ sung cho xuất khẩu FDI vào có thể lấn át đầu

tư trong nước, đặc biệt nếu nhà đầu tư nước ngoài có lợi thế so sánh về sản phẩm vàkhả năng tiếp cận thị trường tài chính Mặt khác, nó thường dẫn đến chuyển giaocông nghệ và tăng cạnh tranh có lợi cho nước sở tại

Ngày đăng: 15/04/2023, 16:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w