HOÀN THIỆN MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ NHẰM THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2016 2020 Chủ nhiệm đề tài: Th.S Trần Mạnh Hùng Khoa Quản trị kinh doanh Email: tmhunguneti.edu.vn Điện thoại: 0913005691 1. Phần mở đầu Ở Việt Nam, thu hút vốn đầu tư nước ngoài luôn là một kênh quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, góp phần tích cực vào tăng trưởng kinh tế, cải thiện cán cân thanh toán, tạo việc làm trực tiếp cho người lao động và hàng triệu việc làm gián tiếp khác, là yếu tố thúc đẩy quá trình đổi mới công nghệ, nâng cao phương thức quản lý kinh doanh, tạo động lực cạnh tranh mạnh mẽ hơn trong từng ngành... Tuy nhiên, việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài tại nước ta hiện vẫn còn một số hạn chế, như: Hệ thống pháp luật còn nhiều quy định chưa đồng bộ, chồng chéo, thiếu nhất quán; tính cạnh tranh của môi trường đầu tư ở Việt Nam chưa cao so với nhiều nước trong khu vực…Chính vì vậy, việc hoàn thiện và kịp thời điều chỉnh các yếu tố của môi trường đầu tư nhằm thu hút FDI tại Việt Nam trong giai đoạn hội nhập sâu của nền kinh tế Việt Nam vào nền kinh tế của khu vực và thế giới là rất cần thiết và mang nhiều ý nghĩa thực tiễn. Để góp phần thực hiện mục tiêu trên, các tác giả chọn đề tài: “Hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam trong giai đoạn 2016 2020” làm đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở của Trường. 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu là các kết quả đạt được trong thu hút FDI của Việt Nam trong những năm gần đây nhờ những chính sách vĩ mô của các cơ quan quản lý nhà nước, làm rõ những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm thu hút vốn FDI vào Việt Nam trong những năm tới khi Việt Nam ngày càng hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế của khu vực và thế giới bằng những cam kết song phương và đa phương đã được ký kết trong thời gian qua. Để thực hiện đề tài, tác giả lấy phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử làm phương pháp nghiên cứu chủ yếu, ngoài ra còn sử dụng các phương pháp: Phương pháp so sánh, liên hệ; Phương pháp phân tích tổng hợp; Phương pháp thống kê; Phương pháp chuyên gia, Phương pháp nghiên cứu tài liệu… 3. Kết quả nghiên cứu 3.1. Môi trường đầu tư với việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 3.1.1. Khái niệm, đặc điểm và phân loại môi trường đầu tư Môi trường đầu tư là tổng hoà các yếu tố của nước nhận đầu tư có ảnh hưởng tới hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, và phát triển kinh tế 4 Môi trường đầu tư có các đặc điểm: Tính tổng hợp, tính hai chiều, tính động, tính mở, tính hệ thống Có nhiều cách phân loại môi trường đầu tư: Theo chức năng quản lý nhà nước có: Nhóm yếu tố Chính phủ có ảnh hưởng mạnh, nhóm yếu tố Chính phủ ảnh hưởng yếu; Theo kênh các yếu tố tác động đến hoạt động đầu tư có: Các nhân tố tác động đến chi phí, các nhân tố tác động đến rủi ro, các nhân tố tác động đến cạnh tranh; Theo yếu tố cấu thành có: Nhân tố kinh tế, nhân tố chính trị pháp luật, nhân tố văn hóa, nhân tố tự nhiên…; Theo cấp quản lý có: Môi trường quốc gia, môi trường vùng, môi trường tỉnh; Theo các giai đoạn hình thành và hoạt động đầu tư có: Nhóm yếu tố tiếp cận thị trường đầu tư, nhóm nhân tố liên quan đến quá trình hoạt động, nhóm yếu tố liên quan đến quá trình kết thúc hoạt động đầu tư; Theo nguyên nhân tạo ra dòng chảy đầu tư có: Nhân tố đẩy, nhân tố kéo; Theo hình thái vật chất: Môi trường cứng, môi trường mềm. 3.1.2. Các yếu tố cấu thành môi trường đầu tư Môi trường đầu tư được tạo bởi các yếu tố chính là: Môi trường kinh tế, môi trường chính trị pháp luật, môi trường văn hóa, môi trường tự nhiên 3.1.3. Tác động của môi trường đầu tư đến thu hút vốn đầu tư Môi trường đầu tư có ảnh hưởng đến dòng chảy FDI thông qua tác động của môi trường đầu tư đến chi phí, rủi ro và rào cản cạnh tranh của cơ hội đầu tư. Chi phí, rủi ro và rào cản cạnh tranh phi lý bị giảm trừ sẽ tạo cơ hội và động lực cho doanh nghiệp đầu tư. 3.1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình cải thiện môi trường đầu tư Quá trình cải thiện môi trường đầu tư luôn chịu sự tác động của nhiều yếu tố làm cho quá trình này diễn ra thuận lợi hay khó khăn, nhanh chóng hay chậm trễ. Các nhân tố chủ yếu bao gồm: Nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của quốc gia; Xu hướng tự do hóa, toàn cầu hóa; Xu hướng phát triển của khoa học công nghệ trên thế giới; Các công ty xuyên quốc gia; Chính sách và khả năng của nhà đầu tư nước ngoài 3.2. Môi trường đầu tư với việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam 3.2.1. Môi trường tự nhiên Nước ta có điều kiện tự nhiên khá thuận lợi cho việc thu hút đầu tư nước ngoài như có nhiều sông và bờ biển dài nên thuận tiện cho việc vận chuyển hàng hóa dịch vụ, các nguồn tài nguyên phục vụ cho việc khai thác, chế biến cũng khá phong phú 3.2.2. Môi trường chính trị pháp luật Chính trị nước ta tiếp tục có sự ổn định, được quốc tế đánh giá cao, đó là tiền đề để các nhà đầu tư nước ngoài yên tâm bỏ vốn đầu tư. Pháp luật ngày càng được bổ sung hoàn thiện cho phù hợp với điều kiện của nước ta và phù hợp với thông lệ quốc tế thông qua các cam kết quốc tế. Công cuộc cải cách hành chính theo hướng tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư kinh doanh đang được đẩy mạnh theo hướng tích cực. 3.2.3. Môi trường kinh tế Kinh tế của nước ta dù còn nhiều khó khăn nhưng các năm qua nhờ có đường lối đúng đắn nên vẫn duy trì mức tăng trưởng khá cao so với nhiều nước trong khu vực và thế giới, đó là thuận tiện cho việc thu hút vốn đầu tư 3.2.4. Môi trường cơ sở hạ tầng Nhờ có chính sách hợp lý trong việc kết hợp vốn đầu tư trong nước và vốn đầu tư nước ngoài nên cơ sở hạ tầng ngày càng được hoàn thiện hơn, tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài kinh doanh 3.2.5. Môi trường lao động Với đặc điểm là nước có đông dân và cơ cấu dân với tỷ lệ người trong độ tuổi lao động cao (tỷ lệ dân số vàng) là điều kiện thuận lợi để thu hút vào làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, chất lượng lao động còn nhiều hạn chế cần phải khắc phục trong thời gian tới. 3.3. Đánh giá quá trình cải thiện môi trường đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 3.3.1. Xếp hạng năng lực cạnh tranh quốc gia Trong nhiều năm qua, chúng ta đã có nhiều cố gắng trong việc cải thiện vị trí xếp hạng năng lực cạnh tranh quốc gia. Tuy nhiên, thứ hạng của chúng ta vẫn còn thấp so với nhiều nước trong khu vực. Đó là một khó khăn, cản trở tới việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài mà chúng ta cần khắc phục trong thời gian tới 3.3.2. Rủi ro kinh doanh Nhờ có chính sách hợp lý và khá ổn định trong thời gian qua nên các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam đã ngày càng phát triển, đó là nền tảng quan trọng để nước ta ngày càng trở lên hấp dẫn trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Mặc dù vậy, nền kinh tế Việt Nam vẫn còn nhiều khó khăn cho sự phát triển bền vững, việc thực thi các chính sách còn nhiều bất cập, chưa hoàn toàn minh bạch, đó là những khó khăn dẫn đến rủi ro trong hoạt động kinh doanh cần khắc phục 3.3.3. Chỉ số tham nhũng Do chính sách pháp luật còn thiếu đồng bộ và chưa chặt chẽ nên tạo kẽ hở trong hoạt động đầu tư kinh doanh. Đồng thời công cuộc cải cách hành chính vẫn còn nhiều hạn chế, thiếu minh bạch dẫn đến những chi phí không chính thức còn cao, gây khó khăn cho các doanh nghiệp 3.3.4. Cơ sở hạ tầng Mặc dù cơ sở hạ tầng của nước ta ngày được cải thiện, song vẫn chưa đáp ứng được với yêu cầu của hoạt động kinh doanh, nhất là hoạt động logistics còn chưa tốt, dẫn đến chi phí cao và thời gian thực thi các hoạt động kinh doanh kéo dài. Đó là những hạn chế cần phải khắc phục trong thời gian tới 3.3.5. Quy hoạch và thẩm định các dự án đầu tư Đây là một trong những điểm yếu căn bản trong việc nâng cao hiệu quả của thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong thời gian qua. Việc quy hoạch vùng, quy hoạch ngành của chúng ta còn nhiều hạn chế, thiếu đồng bộ nên chưa tạo ra được mạng lưới công nghiệp hỗ trợ để thúc đẩy sự phát triển của các ngành có liên quan Việc thẩm định các dự án đầu tư có sự phân cấp cho các địa phương nhưng do năng lực yếu kém và lợi ích cục bộ nên nhiều dự án được cấp phép nhưng đã gây ra tình trạng xấu tới môi trường, ảnh hưởng tới cuộc sống của người dân, làm cho một bộ phận người dân bị ảnh hưởng tới sức khỏe và buộc phải có những ý kiến phản đối. Đây là vấn đề quan trọng, không chỉ liên quan đến vấn đề kinh tế mà còn liên quan cả về chính trị. 3.4. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam trong thời gian tới 3.4.1. Tiếp tục ổn định kinh tế vĩ mô Nhà nước cần tiếp tục tái cơ cấu kinh tế và tái cấu trúc doanh nghiệp để tạo ra sự phát triển cao và ổn định, làm nền tảng cho việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài để đáp ứng với nhu cầu mở rộng và phát triển doanh nghiệp 3.4.2. Nâng cao chất lượng quy hoạch Việc quy hoạch phải có tầm nhìn xa, căn cứ vào chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước, tạo sự liên kết vùng, liên kết các doanh nghiệp sao cho phù hợp với lợi thế của ngành và của địa phương 3.4.3. Tiếp tục giữ vững sự ổn định chính trị và hoàn thiện hệ thống pháp luật Môi trường chính trị cần phải ổn định để các nhà đầu tư yên tâm bỏ vốn đầu tư kinh doanh lâu dài. Thể chế chính trị phải tiếp tục được hoàn thiện theo hướng vừa chặt chẽ nhưng lại thông thoáng, rõ ràng, thực hiện minh bạch để hạn chế những tiêu cực phát sinh. Công cuộc cải cách hành chính cần phải tiếp tục được đẩy mạnh theo hướng ứng dụng công nghệ thông tin để giải quyết các thủ tục hành chính, hạn chế việc tiếp xúc giữa người thụ lý giải quyết các vấn đề của nhà đầu tư và người đầu tư 3.4.4. Tăng cường đầu tư cho cơ sở hạ tầng Cần đa dạng hóa kênh huy động vốn để cải thiện đường xá, cầu cống, cảng biển, sông ngòi cũng như hệ thống viễn thông, hệ thống cung cấp điện, nước…để tạo thuận lợi cho nhà đầu tư triển khai các dự án đầu tư một cách có hiệu quả. 3.4.5. Nâng cao chất lượng nhân lực Cần chú trọng tới công tác đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao chất lượng nhân lực phục vụ cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Muốn vậy cần tuyên truyền để nâng cao nhận thức của người học nhằm chọn ngành, nghề và cơ sở đào tạo phù hợp. Các cơ sở đào tạo, nhất là hệ thống các trường đào tạo nghề cần phải được quy hoạch lại để đầu tư nâng cao chất lượng đào tạo. Cần tạo ra sự liên kết chặt chẽ giữa các trường đào tạo và các doanh nghiệp trong quá trình đào tạo theo yêu cầu 4. Kết luận Đề tài nghiên cứu của nhóm tác giả đã khái quát một cách có hệ thống cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa môi trường đầu tư với việc thu hút vốn đầu tư của doanh nghiệp, trên cơ sở đó đã phân tích làm rõ thực trạng môi trường đầu tư của Việt Nam trong thời gian qua, đánh giá những thành công và hạn chế trong việc cải thiện môi trường đầu tư, từ đó đưa ra một số đề xuất cơ bản nhằm tạo thuận lợi trong việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam trong thời gian tới khi nước ta ngày càng hội nhập sâu hơn với nền kinh tế khu vực và thế giới thông qua việc thực thi các hiệp định song phương và đa phương. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Nguyễn Thị Tuệ Anh (2013), Báo cáo “Đánh giá hiệu quả điều chỉnh chính sách đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam”, Hà Nội. 2. Phạm Văn Hùng (2008), Tác động của minh bạch hoá hoạt động kinh tế đến đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam, Đề tài cấp Bộ, Đại học Quốc gia Hà Nội. 3. Nguyễn Mại (2012), Năm bài học đối với đầu tư nước ngoài ở Việt Nam, Hà Nội. 4. Phùng Xuân Nhạ (2001), Đầu tư quốc tế, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà nội. 5. Bùi Huy Nhượng (2006), Một số biện pháp thúc đẩy việc triển khai thực hiện các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, Luận án tiến sỹ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.
Trang 1MỤC LỤC
Trang
Chương 1: MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ VỚI HOẠT ĐỘNG THU HÚT ĐẦU
TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
4
1.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại môi trường đầu tư 4
1.3 Tác động của môi trường đầu tư đến thu hút vốn đầu tư 18
1.4 Nhân tố ảnh hưởng tới quá trình cải thiện môi trường đầu tư 22
Chương 2: MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ VỚI VIỆC THU HÚT VỐN ĐẦU
TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM
26
2.1 Quá trình hoàn thiện môi trường đầu tư tại Việt Nam từ khi thực hiện
chính sách đổi mới, mở cửa
26
2.2 Đánh giá quá trình cải thiện môi trường đầu tư ở Việt Nam 62
2.3 Tác động của quá trình cải thiện môi trường đầu tư tới việc thu hút
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
65
2.4 Một số tồn tại của môi trường đầu tư tại Việt Nam 76
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TIẾP TỤC CẢI THIỆN MÔI
TRƯỜNG ĐẦU TƯ ĐỂ THU HÚT CÓ HIỆU QUẢ NGUỒN VỐN FDI
VÀO VIỆT NAM
88
3.2 Định hướng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam 92
33 Một số giải pháp nhằm tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư ở Việt Nam 93
Trang 2Bảng 2.5 Giao thông đường bộ 48Bảng 2.6: Hiện trạng cầu Việt Nam tính đến năm 2014 48Bảng 2.7 Chi phí vận tải đường biển từ các thành phố Châu Á 53Bảng 2.8 Lao động làm việc tại thời điểm 1/7 hàng năm theo ngành kinh tế 58
Bảng 2.10 Chỉ số phát triển con người của Việt Nam 60
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Trang
Biểu đồ 2.1: Kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 2004 - 2014 45
Đồ thị 2.2: Diễn biến lạm phát giai đoạn 2006 - 2015 47
Trang 3KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT
KH & ĐT Kế hoạch và đầu tư
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Gần 30 năm qua, từ năm 1988 (Luật Đầu tư nước ngoài có hiệu lực) đến ngàyngày 20/8/2015, cả nước có 18.991 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 265,7 tỷđồng Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước (FDI) ngoài đã góp phần quan trọng trong quátrình phát triển kinh tế - xã hội, góp phần tích cực vào tăng trưởng kinh tế, cải thiện cáncân thanh toán, tác động đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng côngnghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo việc làm trực tiếp cho người lao động và hàng triệu việclàm gián tiếp khác, đồng thời góp phần nâng cao trình độ tay nghề và thu nhập chongười lao động, là yếu tố thúc đẩy quá trình đổi mới công nghệ, nâng cao phương thứcquản lý kinh doanh, tạo động lực cạnh tranh mạnh mẽ hơn trong từng ngành, thúc đẩyhoạt động xuất khẩu, tiếp cập thị trường thế giới và hội nhập kinh tế quốc tế; tạo ra môitrường cạnh tranh mạnh mẽ, giữa các công ty có vốn FDI với nhau, giữa các doanhnghiệp (DN) trong nước và DN FDI, giữa các DN trong nước với DN trong nước Thành tựu của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài không thể phủ nhận những cố gắngcải thiện môi trường đầu tư của chính phủ
Trong bối cảnh hậu khủng hoảng, chiến lược của nhà đầu tư nước ngoài (ĐTNN)
đã có nhiều thay đổi Với khả năng tài chính khó khăn, thị trường thu hẹp và rủi ro caohơn do nền kinh tế thế giới vẫn còn dấu hiệu bất ổn, dòng vốn FDI toàn thế giới có xuhướng giảm đi so với giai đoạn trước khủng hoảng Trong khi đó, cuộc cạnh tranh thuhút đầu tư trực tiếp nước ngoài giữa các quốc gia ngày càng gay gắt Trong cuộc cạnhtranh này, môi trường đầu tư của quốc gia là điều kiện tiên quyết đối với quá trình thuhút và giải ngân vốn FDI Một quốc gia chỉ có thể thu hút được nguồn vốn FDI khiquốc gia đó có môi trường đầu tư hấp dẫn
Tại Việt Nam, kể từ khi bắt đầu thực hiện cải cách và mở cửa nền kinh tế, việchoàn thiện môi trường đầu tư là vấn đề cấp thiết cần xem xét để thu hút tốt mọi nguồnvốn đầu tư cho việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế Chính phủ ViệtNam đã nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư ngày càng thông thoáng hơn, minh bạchhơn và cạnh tranh hơn Việc Việt Nam trở thành thành viên của WTO, rủi ro về xuấtkhẩu hàng hóa và rủi ro cạnh tranh quốc tế được giảm thiểu, tạo tâm lý an toàn cho cácnhà đầu tư, ảnh hưởng tích cực tới thu hút vốn FDI
Trang 6Để thu hút được nguồn vốn FDI có chất lượng khi Việt nam đã là thành viên củaWTO, trong bối cảnh cạnh tranh thu hút FDI ngày càng khốc liệt và sau khủng hoảngđòi hỏi Việt Nam phải tích cực cải thiện môi trường đầu tư, tạo môi trường đầu tư thuậnlợi cho hoạt động FDI Tuy nhiên, Việt Nam hiện vẫn còn một số rào cản ảnh hưởngtiêu cực đối với việc thu hút và sử dụng nguồn vốn FDI như yếu kém về cơ sở hạ tầngkinh tế, khan hiếm lao động có trình độ, thủ tục hành chính còn nhiều phức tạp Do đó,cần có nghiên cứu để hệ thống lại quá trình cải thiện môi trường đầu tư, những ảnhhưởng của môi trường đầu tư đến FDI, và đưa ra giải pháp để tiếp tục hoàn thiện môitrường đầu tư để thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn FDI nhằm mục tiêu tăng trưởng
và phát triển bền vững Để góp phần thực hiện mục tiêu trên, các tác giả chọn đề tài:
“Hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào
Việt Nam trong giai đoạn 2016 - 2020” làm đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở của
Trường
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là phân tích thực trạng môi trường thu hút nguồnvốn FDI vào Việt Nam trong thời gian qua, trên cơ sở đó tìm ra một số giải pháp chủyếu nhằm tăng cường thu hút FDI vào Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế củaViệt Nam vào nền kinh tế thế giới ngày càng sâu rộng hơn Để đạt được mục đích trên,báo cáo nghiên cứu có các nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về môi trường đầu tư với việc thu hút FDIvào một quốc gia
- Phân tích, đánh giá thực trạng môi trường đầu tư với việc thu hút vốn FDI vàoViệt Nam trong thời gian qua, chỉ rõ những điểm mạnh, điểm yếu và nguyên nhân gây
ra những điểm yếu đó
- Đề xuất các quan điểm, giải pháp, kiến nghị có cơ sở khoa học và có tính khảthi nhằm hoàn thiện môi trường đầu tư, góp phần tăng cường thu hút vốn FDI vào ViệtNam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu là các kết quả đạt được trong thuhút FDI của Việt Nam trong những năm gần đây nhờ những chính sách vĩ mô của các
cơ quan quản lý nhà nước, làm rõ những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân, trên cơ sở
đó đề xuất các giải pháp nhằm thu hút vốn FDI vào Việt Nam trong những năm tới khi
Trang 7Việt Nam ngày càng hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế của khu vực và thế giới bằngnhững cam kết song phương và đa phương đã được ký kết trong thời gian qua.
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu môi trường đầu tư, ảnh hưởng của môitrường đầu tư tới nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài để đưa ra các giải pháp cảithiện môi trường đầu tư cho thời gian tới Cụ thể là:
Giới hạn nội dung: Tập trung nghiên cứu môi trường thu hút vốn FDI vào Việt
Nam thông qua những kết quả đạt được trong việc tiếp nhận vốn FDI
Giới hạn thời gian nghiên cứu: Đề tài chủ yếu tập trung phân tích, đánh giá thực
trạng môi trường thu hút vốn FDI vào Việt Nam và những kết quả đạt được do cải thiệnmôi trường đầu tư từ năm 2011 đến nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, tác giả lấy phương pháp duy vật biện chứng và phương phápduy vật lịch sử làm phương pháp nghiên cứu chủ yếu, ngoài ra còn sử dụng các phươngpháp: Phương pháp so sánh, liên hệ; Phương pháp phân tích tổng hợp; Phương phápthống kê; Phương pháp chuyên gia, Phương pháp nghiên cứu tài liệu…
5 Nội dung đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, báocáo đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Môi trường đầu tư với hoạt động thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài
Chương 2: Môi trường đầu tư với hoạt động thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài vào Việt Nam
Chương 3: Giải pháp, kiến nghị nhằm tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư Việt
nam để thu hút có hiệu quả nguồn vốn FDI vào Việt Nam trong thời gian tới
Trang 8CHƯƠNG 1 MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ VỚI HOẠT ĐỘNG THU HÚT ĐẦU TƯ
TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ PHÂN LOẠI MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ
1.1.1 Khái niệm
Môi trường được hiểu là một không gian hữu hạn bao quanh những sự vật hiệntượng, yếu tố hay một quá trình hoạt động nào đó như môi trường nước, môi trường vănhoá, môi trường sống, môi trường kinh doanh…Môi trường đầu tư là một thuật ngữ đãđược nghiên cứu và sử dụng trong lĩnh vực kinh tế và quản trị kinh doanh ở nhiều nướctrên thế giới Cho đến hiện nay, khái niệm môi trường đầu tư được nhiều tác giả đề cậpđến nhưng vẫn còn chưa thống nhất Khái niệm môi trường đầu tư được nghiên cứu vàxem xét theo nhiều khía cạnh khác nhau tuỳ theo mục đích, phạm vi, đối tượng nghiêncứu
Khái niệm 1: Môi trường đầu tư quốc tế là tổng hoà các yếu tố có ảnh hưởngđến các hoạt động kinh doanh của nhà đầu tư trên phạm vi toàn cầu [12]
Khái niệm này đề cập đến các yếu tố của môi trường đầu tư quốc tế ảnh hưởngđến dòng chảy vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Trong đó, môi trường đầu tư quốc tế baogồm các yếu tố của nước nhận đầu tư (như tình hình chính trị, chính sách - pháp luật, vịtrí địa lý - điều kiện tự nhiên, trình độ phát triển kinh tế, các đặc điểm văn hoá xã hội),các yếu tố ở nước đầu tư (như thay đổi chính sách kinh tế vĩ mô, các hoạt động thúc đẩyđầu tư ra nước ngoài của chính phủ, tiềm lực kinh tế, khoa học công nghệ) và các yếu tốthuộc môi trường quốc tế (như xu hướng đối thoại chính trị khu vực và thế giới, liên kếtkhu vực, tăng trưởng của TNCs và tốc độ toàn cầu hoá) Vậy, môi trường đầu tư quốc tếgồm 3 môi trường bộ phận, đó là: môi trường đầu tư ở nước nhận đầu tư (còn gọi là môitrường ĐTNN), môi trường đầu tư ở nước đi đầu tư và môi trường quốc tế Mối quan hệgiữa 3 môi trường được thể hiện ở Sơ đồ 1.1 Nếu từng yếu tố của từng môi trường bộphận thay đổi sẽ tác động đến quyết định đầu tư ra nước ngoài của chủ đầu tư, và từ đóảnh hưởng đến dòng chảy vốn đầu tư quốc tế
Trang 9Sơ đồ 1.1 Môi trường đầu tư quốc tế
tế, môi trường nước đi đầu tư) có ảnh hưởng đến hoạt động FDI
Ngoài những khái niệm trên, còn có các khái niệm môi trường đầu tư khác:
Môi trường đầu tư là hệ thống các yếu tố đặc thù của quốc gia đang định hình
ra những cơ hội để các doanh nghiệp đầu tư có hiệu quả [14]
Môi trường đầu tư là tổng hợp các yếu tố (điều kiện về pháp luật, kinh tế, chínhtrị - xã hội, các yếu tố về cơ sở hạ tầng, năng lực thị trường và cả các lợi thế của mộtquốc gia) có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư tại một quốcgia
Môi trường đầu tư là một tập hợp các yếu tố tác động tới các cơ hội, các ưu đãi,các lợi ích của các DN khi đầu tư mới, mở rộng sản xuất kinh doanh, có tác động chiphối tới hoạt động đầu tư thông qua chi phí, rủi ro và cạnh tranh
Ở các khái niệm sau, môi trường đầu tư bao gồm nhiều yếu tố như điều kiện tựnhiên, kinh tế, chính trị, xã hội, sự sẵn sàng và đồng thuận của chính phủ, chính quyềnmột quốc gia hay khu vực lãnh thổ trong quốc gia Tất cả các yếu tố riêng có của mộtquốc gia sẽ tạo ra những cơ hội đầu tư, có ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của DN, củanhà đầu tư Môi trường đầu tư có ảnh hưởng tới lợi ích của DN, có tác động tới hoạtđộng đầu tư tại quốc gia đó nhưng không đề cập tới lợi ích của các chủ thể khác và toàn
bộ nền kinh tế Rõ ràng, hoạt động đầu tư là của chủ đầu tư và do chủ đầu tư quyết địnhnhưng nó có tương tác với các chủ thể khác của nền kinh tế, từ đó có tác động tới tăngtrưởng và phát triển kinh tế
Môi
trường
quốc
tế
(dung
mô
Mô
i trườn
g đầ
u t
ư
ở nướ
c đ
i đầ
u tư
Môi
trường
đầu
tư
nước
ngoài
Trang 10Các khái niệm trên đều bao gồm hai phần: Phần một đề cập tới các yếu tố củamôi trường đầu tư, phần hai là ảnh hưởng của các yếu tố tới hoạt động đầu tư của ai.Tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu, mỗi khái niệm đều giới hạn phạm vi của từng phầnhoặc một trong hai phần đó Chẳng hạn, với khái niệm 1, môi trường đầu tư bao gồm 3môi trường bộ phận còn các khái niệm khác thì môi trường đầu tư chỉ đề cập trongphạm vi môi trường đầu tư của nước nhận đầu tư Với phần hai, khái niệm 1 và 2 chỉgiới hạn tới hoạt động đầu tư của nhà ĐTNN, các khái niệm khác đề cập tới hoạt độngđầu tư trong phạm vi một quốc gia, cả trong nước và nước ngoài Trong tất cả kháiniệm, chỉ duy nhất một khái niệm môi trường đầu tư đề cập tác động của môi trườngđầu tư tới cả các chủ thể khác của nền kinh tế như người lao động cũng như tới tăngtrưởng và phát triển kinh tế.
Tại Việt Nam, trong khi khả năng tích lũy vốn chưa đáp ứng nhu cầu vốn đầu tưcho phát triển thì việc tích cực thu hút nguồn vốn FDI là cần thiết Có nhiều yếu tố củamôi trường đầu tư ảnh hưởng tới dòng chảy vốn FDI, bao gồm: Môi trường đầu tư ởnước nhận đầu tư (còn gọi là môi trường ĐTNN), môi trường đầu tư ở nước đi đầu tư
và môi trường quốc tế Trong ba môi trường đầu tư thành phần, môi trường đầu tư củanước đi đầu tư và môi trường đầu tư quốc tế là chịu sự kiểm soát của nhà ĐTNN, chỉ cómôi trường ĐTNN là môi trường mà nước nhận đầu tư có thể chủ động kiểm soát, vàcải thiện khi muốn thu hút vốn FDI Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu môi trường đầu tưcủa nước tiếp nhận đầu tư và ảnh hưởng của nó tới thu hút vốn FDI Với phạm vi nghiêncứu của đề tài, các tác giả xin đưa ra khái niệm môi trường đầu tư như sau:
Môi trường đầu tư là tổng hoà các yếu tố của nước nhận đầu tư có ảnh hưởng tới hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, và phát triển kinh tế.
Trước hết, môi trường đầu tư là tổng hòa của các yếu tố của nước nhận đầu tư.Các yếu tố này có thể thuộc về các nhóm và các môi trường bộ phận nếu phân loại theocác tiêu chí khác nhau Các yếu tố của môi trường đầu tư gồm các yếu tố thuộc các môitrường tự nhiên, môi trường chính trị, pháp luật, môi trường kinh tế, môi trường văn hóa
xã hội Thứ hai, môi trường đầu tư ở khái niệm này chỉ đề cập đến môi trường đầu tưcủa nước tiếp nhận đầu tư, mà không đề cập đến các môi trường bên ngoài quốc gia mặc
dù các yếu tố của môi trường bên ngoài có ảnh hưởng tới sự thay đổi của các yếu tố củamôi trường đầu tư của nước nhận đầu tư Thứ ba, các yếu tố của môi trường đầu tư cótác động tới cả chu kỳ dự án ĐTNN, kể từ khi nhà ĐTNN bắt đầu tìm hiểu về môitrường đầu tư, nắm bắt cơ hội đầu tư để bắt đầu giai đoạn chuẩn bị đầu tư, lập dự án để
Môi
trường
quốc
tế
(dung
môi)
Trang 11đưa ra quyết định đầu tư, thực hiện đầu tư để có thể đưa các kết quả của quá trình thựchiện đầu tư vào vận hành, tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh và chấm dứt dự án.Hay, môi trường đầu tư là tổng hoà các yếu tố của nước nhận đầu tư có tác động tới chu
kỳ dự án FDI Một môi trường đầu tư tốt là môi trường đầu tư không chỉ cố gắng thu hútvốn ĐTNN mà còn tạo môi trường hoạt động tốt cho cả quá trình sản xuất kinh doanhcho đến khi nhà đầu tư chấm dứt hoạt động đầu tư Thứ tư, tác giả cũng muốn nhấnmạnh đến khái niệm môi trường đầu tư tốt Môi trường đầu tư tốt không chỉ mang lạihiệu quả cho chủ đầu tư mà còn cho nước nhận đầu tư Lợi nhuận được coi là mục tiêucuối cùng của các nhà đầu tư, tuy nhiên nếu môi trường đầu tư thuận lợi thì hoạt độngđầu tư có hiệu quả, ngược lại, nếu môi trường đầu tư có nhiều yếu tố không thuận lợi thì
có thể tạo ra các rào cản cho hoạt động đầu tư, và hiệu quả hoạt động đầu tư không cao
và nhà đầu tư sẽ chuyển hướng đầu tư nước khác Tuy nhiên, cần cân bằng lợi ích kinh
tế xã hội với lợi ích mà nhà đầu tư thu được Về mặt nguyên tắc, môi trường đầu tư tạođiều kiện cho DN đầu tư hiệu quả nhằm góp phần thực hiện các mục tiêu xã hội Nếu dự
án có lợi ích kinh tế xã hội thu được nhỏ hơn chi phí xã hội bỏ ra cho dự án đó thì dự
án ĐTNN đó không được chấp nhận đầu tư
Môi trường đầu tư tốt không chỉ mang lại lợi ích cho bản thân nhà đầu tư, mà cònmang lại lợi ích cho cả nền kinh tế Do đó, quá trình cải thiện môi trường đầu tư cần gắn
bó chặt chẽ với định hướng phát triển kinh tế xã hội, cần khẳng định rõ ràng là cải thiệnmôi trường đầu tư nhằm thu hút vốn ĐTNN cho phát triển kinh tế xã hội Thu hút vốnFDI nếu chỉ chú trọng tới lượng vốn không thì chưa đủ mà cần chú ý tới chất lượngFDI, tới định hướng thu hút FDI Vốn FDI cần thu hút có chọn lọc để góp phần tăngtrưởng và phát triển kinh tế bền vững
1.1.2 Đặc điểm của môi trường đầu tư
1.1.2.1 Môi trường đầu tư có tính tổng hợp
Môi trường đầu tư là tổng hòa của các yếu tố, các yếu tố không chỉ tác động tớimột nhà đầu tư mà tất cả các nhà đầu tư tại một địa phương nhất định, tác động tới cácđối tượng khác (người lao động, khách hàng, nhà cung cấp ) và tới toàn bộ nền kinh tế
Đó chính là tính tổng hợp của môi trường đầu tư, tổng hợp của các yếu tố cấu thành, tácđộng nên tất cả đối tượng Nhà đầu tư đánh giá môi trường đầu tư là một “gói” tổng thể.Bất kỳ sự thay đổi nào của môi trường đầu tư có ảnh hưởng tới hoạt động đầu tư, tạo ratrở ngại hay cơ hội cho nhà đầu tư Từng yếu tố thay đổi theo hướng tích cực nhưng vẫn
Trang 12có thể chưa giải quyết được những rào cản mà nhà đầu tư gặp phải bởi giữa các yếu tốcủa môi trường đầu tư có mối quan hệ tương tác với nhau Chẳng hạn, khả năng tiếp cậntín dụng sẽ vẫn là trở ngại đối với nhà đầu tư nếu quyền tài sản không đảm bảo, hoặcluật phá sản yếu kém.
Do đó, khi đánh giá môi trường đầu tư cần xem xét tổng hợp các yếu tố và mốiquan hệ giữa các yếu tố chứ không chỉ xem xét độc lập từng yếu tố Chính phủ quản lýtách bạch từng lĩnh vực, phân công trách nhiệm giữa các bộ, ngành nên khi đánh giá vàcải thiện môi trường đầu tư cần phối hợp giữa các bộ, ngành, các cấp Khi cải thiện môitrường đầu tư cần xem xét ảnh hưởng của quá trình cải thiện này tới các đối tượng khácnhau và cả nền kinh tế Các yếu tố của môi trường đầu tư khác nhau giữa các vùng, cácquốc gia Bản thân trong một vùng, quốc gia, các yếu tố cũng khác nhau giữa các thời
kỳ Sự khác nhau về môi trường đầu tư theo vùng, quốc gia và thời gian phụ thuộc vàoquá trình phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, trình độ phát triển kinh tế xã hội củatừng quốc gia, sự tác động của quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế và một
số yếu tố khách quan khác như điều kiện tự nhiên
1.1.2.2 Tính hai chiều của môi trường đầu tư
Các nhà đầu tư luôn hoạt động trong môi trường đầu tư nhất định Giữa chínhphủ, môi trường đầu tư và nhà đầu tư, có mối quan hệ tương tác với nhau Môi trườngđầu tư tạo cơ hội đầu tư, ảnh hưởng tới quá trình đầu tư thông qua tác động tới chi phí,tới rủi ro, rào cản cạnh tranh và từ đó tới lợi ích và hiệu quả của hoạt động đầu tư Nhàđầu tư khi quyết định đầu tư vào một địa điểm sẽ chịu ảnh hưởng của môi trường đầu tưtại đó dù nhà đầu tư có quyền đánh giá môi trường đầu tư và đưa ra quyết định đầu tư
Do đó, môi trường đâu tư sẽ ảnh hưởng tới quá trình ra quyết định đầu tư, bỏ vốn đầu tưbao nhiêu, bỏ vốn đầu tư vào đâu Hay, môi trường đầu tư có ảnh hưởng tới giá trị cũngnhư cơ cấu đầu tư của một quốc gia Ngược lại, nhà đầu tư khi thực hiện đầu tư sẽ ảnhhưởng tới môi trường đầu tư theo hai hướng tích cực và tiêu cực, như nâng cao trình độnghề nghiệp và quản lý của người lao động hoặc làm cạn kiệt nguồn tài nguyên thiênnhiên Trình độ công nghệ của quốc gia là yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư vàngược lại, đầu tư tác động đến quá trình phát triển khoa học và công nghệ của quốc giađó
Tính hai chiều của môi trường đầu tư còn thể hiện vai trò của nhà nước với quátrình cải thiện môi trường đầu tư Có những yếu tố của môi trường đầu tư chính phủ có
Trang 13ít ảnh hưởng như vị trí địa lý, thời tiết khí hậu, Chính phủ có tác động mạnh đến nhiềuyếu tố của môi trường đầu tư như chính trị, pháp luật, cơ sở hạ tầng Thông qua vai tròquản lý của mình, chính phủ đánh giá môi trường đầu tư, cả những đặc điểm của cácyếu tố có ít ảnh hưởng để cải thiện môi trường đầu tư Chính phủ có thể sử dụng nhiềukênh thông tin khác nhau để giới thiệu về môi trường đầu tư cũng như cơ hội đầu tư đếnnhà đầu tư Nhà đầu tư là chủ thể ra quyết định và thực hiện đầu tư Nếu nhà đầu tưkhông biết về môi trường đầu tư thì không bỏ vốn đầu tư, quốc gia không thu hút đượcvốn đầu tư Ngược lại, chính phủ cần nhận thông tin từ nhà đầu tư phản ánh những trởngại gặp phải để chính phủ có cách thức xử lý
1.1.2.3 Môi trường đầu tư có tính động
Môi trường đầu tư có tính động hay luôn vận động, thay đổi do các yếu tố cấuthành môi trường đầu tư luôn vận động biến đổi theo thời gian Các yếu tố của môitrường đầu tư cũng như sự vận động của chúng có ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư nóichung và hoạt động ĐTNN nói riêng theo chu kỳ dự án đầu tư, từ quá trình đưa ra quyếtđịnh đầu tư, chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư, ảnh hưởng tới chi phí, lợi ích và hiệu quảcủa hoạt động đầu tư Căn cứ nhu cầu về vốn đầu tư để đáp ứng mục tiêu tăng trưởng vàphát triển bền vững, các nước đều cố gắng hoàn thiện môi trường đầu tư, hay thay đổicác yếu tố của môi trường đầu tư, làm môi trường đầu tư thuận lợi cho quá trình vậnđộng của vốn Hơn nữa, bản thân hoạt động đầu tư cũng ảnh hưởng đến các yếu tố củamôi trường đầu tư, như thay đổi về công nghệ, về cơ sở hạ tầng Chính vì môi trườngđầu tư luôn vận động nên các nhà đầu tư cần tiên liệu được sự thay đổi của môi trườngđầu tư nói chung và từng yếu tố của môi trường đầu tư trên toàn cầu và của từng quốcgia để đưa ra quyết định lựa chọn địa điểm bỏ vốn, quy mô đầu tư và ngành đầu tưnhằm thu được hiệu quả cao nhât Khi nghiên cứu và đánh giá môi trường đầu tư phảiđứng trên quan điểm động, các yếu tố của môi trường đầu tư phải được nhìn nhận trongtrạng thái vừa vận động vừa tác động qua lại lẫn nhau, tạo thành những động lực chínhcho sự phát triển và hoàn thiện môi trường đầu tư
Muốn thu hút được vốn đầu tư thì môi trường đầu tư cần phải ổn định, gồm ổnđịnh môi trường chính trị, pháp luật; ổn định môi trường kinh tế và văn hóa xã hội đểđồng vốn nhà đầu tư bỏ ra được bảo toàn và có khả năng sinh lời Khi môi trường đầu tư
ổn định, nhà đầu tư không gặp phải những rủi ro trong quá trình đầu tư do các yếu tốcủa môi trường đầu tư tạo ra Tính vận động của môi trường đầu tư không mâu thuẫn
Trang 14với yêu cầu này Sự ổn định của môi trường đầu tư cần gắn với nhu cầu phát triển kinh
tế xã hội, gắn với sự hoàn thiện môi trường đầu tư để thu hút tốt các nguồn vốn đầu tư.Hay, cần đảm bảo sự ổn định, tính tiên liệu trong sự thay đổi, trong quá trình vận độngcủa môi trường đầu tư để môi trường đầu tư mang lại lợi ích cho tất cả các đối tượng(cho người dân, cho nền kinh tế và bản thân các nhà đầu tư)
1.1.2.4 Môi trường đầu tư có tính mở
Môi trường đầu tư có tính mở thể hiện sự thay đổi các yếu tố của môi trường đầu
tư còn chịu ảnh hưởng của môi trường đầu tư ở cấp độ cao hơn Sự vận động các yếu tốcủa môi trường đầu tư cấp tỉnh chịu tác động của môi trường đầu tư quốc gia, và đếnlượt mình sự biến đổi các yếu tố của môi trường đầu tư quốc gia chịu ảnh hưởng bởimôi trường đầu tư quốc tế trong điều kiện mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế diễn rangày càng sâu rộng Chính vì môi trường đầu tư có tính mở nên Chính phủ cần chú ýthuộc tính thích nghi với môi trường đầu tư quốc tế, cần chú ý tới quản lý thay đổi trongquá trình cải thiện môi trường đầu tư quốc gia Chẳng hạn, quá trình hội nhập kinh tếquốc tế sẽ đòi hỏi môi trường đầu tư quốc gia phải thay đổi như việc thay đổi hệ thốngpháp luật cho phù hợp với quy định của WTO khi các quốc gia gia nhập WTO
1.2.2.5 Môi trường đầu tư có tính hệ thống
Môi trường đầu tư có tính hệ thống vì môi trường đầu tư là tổng hòa của các yếu
tố có tác động qua lại với nhau và chịu tác động của môi trường đầu tư quốc tế Tuynhiên, môi trường đầu tư của một quốc gia là một hệ thống đặc biệt vì bản thân nó baogồm nhiều hệ thống nhỏ hơn Môi trường đầu tư quốc gia gồm môi trường đầu tư củacác tỉnh thành phố nếu phân theo vùng; gồm môi trường đầu tư các ngành; môi trường
tự nhiên, môi trường chính trị, môi trường kinh tế, môi trường văn hóa xã hội Trong hệthống môi trường đầu tư luôn luôn diễn ra những biến đổi đa dạng, những quá trìnhchuyển hoá vô tận của các yếu tố cấu thành Những quá trình đó có nguồn gốc sâu xa từcác mối liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau giữa các yếu tố, giữa hệ thống với môi trường.Kết quả là bản thân hệ thống cũng luôn luôn nằm trong sự vận động, biến đổi và pháttriển liên tục Khi các yếu tố của môi trường đầu tư thay đổi sẽ thay đổi trạng thái của
hệ thống Do đó, để thu hút vốn ĐTNN, chính phủ cần có cách tiếp cận hệ thống, tìm ranhững yếu tố ảnh hưởng tới tính hấp dẫn của môi trường đầu tư, tới chi phí, rủi ro và tớirào cản cạnh tranh để cải thiện Hơn nữa, chính phủ cần quản lý hoạt động đầu tư mộtcách hệ thống, thống nhất và không có sự chồng chéo của hệ thống văn bản pháp luật,
Trang 15của các bộ phận quản lý làm mất thời gian và chi phí của chủ đầu tư Môi trường đầu tưcũng như bất kỳ hệ thống nào cũng mang tính mở, tính cân bằng động
1.1.3 Phân loại môi trường đầu tư
Môi trường đầu tư bao gồm nhiều yếu tố cấu thành có tác động đến hoạt độngđầu tư của DN, tới các chủ thể khác và cả nền kinh tế như là một tổng thể Các yếu tốđược xếp vào các nhóm khác nhau theo các tiêu chí khác nhau như theo chủ thể tácđộng, phương thức tác động đến hoạt động đầu tư, theo trình tự tác động đến chu kỳ dự
án đầu tư…
1.1.3.1 Theo chức năng quản lý Nhà nước
Theo cách phân loại này, các yếu tố của môi trường đầu tư được chia thành 2nhóm sau:
- Nhóm chính phủ có ảnh hưởng mạnh, như: Sự ổn định chính trị và kinh tế;chính sách kinh tế xã hội và chính sách FDI; luật và văn bản dưới luật liên quan đến đầu
tư như luật đầu tư, các luật thuế, luật doanh nghiệp, luật đấu thầu, luật xây dựng, ; bộmáy hành chính; cơ sở hạ tầng; hiệu lực thực thi hợp đồng
- Nhóm chính phủ ít có ảnh hưởng: Giá nguồn lực đầu vào do thị trường quyếtđịnh, đặc điểm tự nhiên của quốc gia, khoảng cách tới các thị trường đầu ra và đầu vào,các công nghệ cụ thể, thiên tai, uy tín của nhà cung cấp, quy mô thị trường
Trong các yếu tố của môi trường đầu tư, các yếu tố thuộc về điều kiện tự nhiênnhư tài nguyên thiên nhiên, thời tiết, khí hậu, vị trí địa lý là các yếu tố mà chính phủ có
ít ảnh hưởng Điều kiện tự nhiên lại có ảnh hưởng lớn tới hoạt động đầu tư vào lĩnh vựcnông nghiệp, hay khai thác tài nguyên, đến việc tiếp cận thị trường Tuy nhiên, một sốhạn chế do nhóm yếu tố chính phủ ít có ảnh hưởng có thể được khắc phục hoặc xóa bỏbằng những thay đổi lớn đối với các yếu tố mà chính phủ có tác động mạnh Chẳng hạn,khoảng cách về địa lý có thể khắc phục khi phát triển công nghệ thông tin, thương mạiđiện tử, và phát triển cơ sở hạ tầng giao thông Từng yếu tố của môi trường đầu tư vàtính tổng hợp của môi trường đầu tư sẽ có ảnh hưởng tới quyết định của nhà đầu tư (đầu
tư bao nhiêu, vào lĩnh vào nào, ở đâu, và bao giờ)
Theo cách phân loại này chính phủ có thể chủ động cải thiện môi trường đầu tưthông qua những tác động nhóm yếu tố mà chính phủ có ảnh hưởng mạnh, khắc phụcđiểm yếu của các yếu tố mà chính phủ ít ảnh hưởng để tạo ra một môi trường đầu tư tốthơn Sự thay đổi của những yếu tố chính phủ có tính quyết định theo chiều hướng tích
Trang 16cực đối với thu hút FDI cũng như tác động của FDI đến nền kinh tế sẽ đánh giá hiệu lựcquản lý của chính phủ.
1.1.3.2 Theo kênh tác động của các nhân tố đến hoạt động đầu tư
Theo cách phân loại này các nhân tố của môi trường FDI được chia thành 3nhóm nhân tố:
- Các nhân tố tác động tới chi phí: Những nhân tố này làm chi phí thực hiện đầu
tư và tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh của DN có thể tăng lên hoặc giảm đi,như: Thuế, tình trạng tham nhũng, quan liêu, chi phí tài chính, chi phí cơ sở hạ tầng, chiphí lao động, chi phí đầu vào, khoản cách tới các thị trường đầu ra, đầu vào, tính hiệuquả nhờ quy mô
- Các nhân tố tác động tới rủi ro: Sự tiên liệu chính sách, sự ổn định kinh tế,quyền sở hữu, sung công, hiệu lực thưc thi hợp đồng, uy tín của nhà cung cấp
- Các nhân tố tác động tới cạnh tranh: Rào cản đối với sự gia nhập và rút khỏi thịtrường, chính sách và luật cạnh tranh, thị trường tài chính, cơ sở hạ tầng, quy mô thịtrường
1.1.3.3 Theo các yếu tố cấu thành
Căn cứ vào yếu tố cấu thành thì môi trường đầu tư tổng thể gồm các môi trườngđầu tư bộ phận sau: Môi trường tự nhiên, Môi trường chính trị, Môi trường pháp luật,Môi trường kinh tế, Môi trường văn hoá, xã hội
1.1.3.5 Theo giai đoạn hình thành và hoạt động đầu tư
Môi trường ĐTNN gồm các yếu tố của giai đoạn thành lập, hoạt động và giải thểhay phá sản DN có vốn đầu tư nước ngoài Cụ thể là:
- Nhóm yếu tố tiếp cận thị trường đầu tư: Thủ tục thành lập và cấp giấy phép đầu
tư, xuất nhập cảnh, cư trú, đi lại, lĩnh vực đầu tư được phép hoạt động, nguồn nhân lực
- Nhóm yếu tố liên quan đến quá trình hoạt động: Thuế, xuất nhập khẩu, đất đai,lao động, ngoại hối, chuyển tiền
Trang 17- Nhóm yếu tố liên quan đến quá trình kết thúc hoạt động đầu tư: Các yếu tố phásản hoặc giải thể
Theo giai đoạn hình thành, thực hiện của hoạt động đầu tư, môi trường FDI baogồm các nhân tố của giai đoạn: Thành lập, hoạt động và giải thể hay phá sản DN FDI.Môi trường FDI theo cách tiếp cận này được quan niệm là: “Tổng thể các yếu tố, chínhsách của nước tiếp nhận đầu tư có tác động trực tiếp hay gián tiếp đến quá trình thànhlập, hoạt động và giải thể hay phá sản của DN nước đi đầu tư” Các yếu tố này bao gồmchính sách của một quốc gia đối với FDI, cơ sở vật chất, trình độ lao động và tình hình
an ninh chính trị… ở nước tiếp nhận đầu tư
Khi nhà đầu tư quyết định tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh tại nước tiếpnhận đầu tư thì vấn đề đầu tiên họ sẽ gặp phải đó là thủ tục thành lập và cấp phép đầu
tư, xuất nhập cảnh, cư trú, đi lại, lĩnh vực đầu tư được phép hoạt động, nguồn nhânlực… đây được coi là “nhóm yếu tố tiếp cận thị trường đầu tư” Sau khi thành lập, nhàđầu tư tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh sẽ gặp phải các yếu tố có liên quan đếnthuế, xuất nhập khẩu, đất đai, lao động, ngoại hối, chuyển tiền…đây được gọi là “nhómyếu tố liên quan đến quá trình hoạt động” Sau khi tiến hành hoạt động trong một thờigian nhất định nếu nhà đầu tư không muốn tiếp tục kinh doanh hoặc bị phá sản thì sẽliên quan đến các yếu tố: phá sản, giải thể… đây được coi là “nhóm yếu tố liên quan đếnquá trình kết thúc hoạt động đầu tư”
1.1.3.6 Theo căn cứ vào nguyên nhân tạo ra dòng chảy vốn đầu tư
Nguyên nhân tạo ra dòng chảy vốn đầu tư giữa các quốc gia là do các yếu tố đẩy
và yếu tố kéo Yếu tố đẩy là các yếu tố của nước đi đầu tư như thay đổi chính sách kinh
tế vĩ mô, các hoạt động thúc đẩy đầu tư ra nước ngoài của chính phủ, tiềm lực kinh tế,khoa học công nghệ, quy mô thị trường, …Yếu tố kéo là yếu tố thuộc về nước nhận đầu
tư như tình hình chính trị, chính sách, pháp luật, vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, trình độphát triển kinh tế, các đặc điểm văn hoá xã hội Sự khác biệt về yếu tố kéo giữa cácquốc gia, làm cho lượng vốn thu hút giữa các quốc gia sẽ khác nhau
Trang 18- Môi trường mềm bao gồm hệ thống các dịch vụ hành chính, dịch vụ pháp lýliên quan đến hoạt động đầu tư (đặc biệt các vấn đề liên quan đến chế độ đối xử và giảiquyết các tranh chấp, khiếu nại); hệ thống các dịch vụ tài chính - ngân hàng, kế toán vàkiểm toán
1.2 CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ
FDI ảnh hưởng đến tăng trưởng và phát triển kinh tế như thế nào phụ thuộc phầnlớn vào loại và lượng FDI Những yếu tố thuộc môi trường đầu tư ảnh hưởng đến thuhút FDI Vai trò của các yếu tố này đối với việc thu hút FDI cũng thay đổi theo thờigian Các yếu tố của môi trường đầu tư như quy mô thị trường, tăng trưởng kinh tế, ổnđịnh chính trị, chất lượng lao động, chi phí lao động, chất lượng cơ sở hạ tầng, ưu đãithuế và thuế quan, độ mở của chính sách chính phủ, hiệu quả của bộ máy hành chính ảnh hưởng đến tính hấp dẫn của môi trường đầu tư, từ đó có tác động tới ý định và hành
vi của nhà ĐTNN và tác động tới dòng chảy vốn ĐTNN vào các nước đang phát triển
1.2.1 Môi trường tự nhiên
Môi trường tự nhiên gồm những yếu tố tự nhiên như vị trí địa lý, địa hình, khíhậu, tài nguyên thiên nhiên,…của một vùng nhất định Các yếu tố của môi trường tựnhiên có ảnh hưởng đến việc lựa chọn lĩnh vực để đầu tư và khả năng sinh lời của dự án.Đây là một trong những nhân tố có ảnh hưởng đến cơ cấu đầu tư theo ngành tại mộtvùng nhất định Nếu quốc gia có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú có thể thu hútvốn đầu tư phát triển ngành khai thác khoáng sản Quốc gia có nguồn nguyên vật liệuđầu vào phong phú sẽ thu hút các nhà đầu tư, giảm chi phí và giá thành sản phẩm
Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên là những ưu đãi vốn có của một quốc gia, mộtvùng lãnh thổ Ưu thế địa lý của một quốc gia còn thể hiện ở chỗ quốc gia đó có nằmtrong khu vực phát triển kinh tế năng động không, có các tuyến giao thông quốc tếkhông, tại đó có kiểm soát được vùng rộng lớn không Quốc gia có vị trí như vậy đượchưởng lợi từ các dòng thông tin, các trào lưu phát triển mới, thuận lợi cho việc chuchuyển vốn, vận chuyển hàng hoá Với nhà đầu tư, các ưu đãi tự nhiên là những nơi có
cơ hội làm ăn nhiều hơn, mức sinh lời cao hơn
Chính tài nguyên thiên nhiên là lợi thế sẵn có so với vùng khác, quốc gia khác, là
cơ sở để xây dựng định hướng phát triển ngành của một vùng, một quốc gia Nhiềunước phát triển trên thế giới đều dựa vào ưu thế về vị trí địa lý và nguồn tài nguyênthiên nhiên Tuy nhiên, cũng có những nước nghèo tài nguyên như Nhật Bản nhưng lại
Trang 19có sức mạnh kinh tế Do đó, tài nguyên thiên nhiên tuy quan trọng nhưng không phải làyếu tố sống còn để phát triển kinh tế.
1.2.2 Môi trường chính trị
Sự ổn định của môi trường đầu tư là điều kiện cần cho quyết định bỏ vốn củahoạt động đầu tư Nhà ĐTNN chỉ bỏ vốn khi quốc gia có môi trường đầu tư ổn định, antoàn cho sự vận động của số vốn mà họ bỏ ra Ổn định chính trị là yếu tố quan trọnghàng đầu đối với sự thu hút ĐTNN bởi nó đảm bảo việc thực hiện các cam kết của chínhphủ trong các vấn đề sở hữu vốn đầu tư, hoạch định các chính sách ưu tiên, định hướngphát triển đầu tư của một nước, ổn định chính trị sẽ tạo ra sự ổn định về kinh tế xã hội
và giảm bớt độ rủi ro cho các nhà đầu tư nhất là các nhà ĐTNN Đó là việc ban hànhcác luật lệ, chính sách, chế độ liên quan đến hoạt động ĐTNN, tạo ra sự phát triển ổnđịnh của nền kinh tế, ổn định xã hội
Tình hình chính trị không ổn định sẽ dẫn tới đường lối phát triển không nhấtquán và chính sách bất ổn định Chính phủ đương thời cam kết không quốc hữu hoá tàisản, vốn của người nước ngoài nhưng chính phủ mới chưa chắc đã thống nhất với quanđiểm này và tiến hành những thay đổi khiến quyền sở hữu vốn của nhà đầu tư nướcngoài bị đe doạ Hoặc ở một số nước, khi chính phủ mới lên lãnh đạo sẽ thay đổi địnhhướng đầu tư của nước chủ nhà (thay đổi lĩnh vực khuyến khích, chiến lược xuất nhậpkhẩu…) khiến các nhà đầu tư ở trong tình trạng rút lui không được mà tiến hành tiếpcũng không xong và phải chấp nhận thua lỗ
1.2.3 Môi trường pháp luật
Để điều chỉnh hành vi kinh doanh của các nhà đầu tư, các quốc gia đều có một hệthống luật quy định về hoạt động đầu tư; quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư; bảo đảmquyền, lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư; khuyến khích và ưu đãi đầu tư; quản lý nhànước về đầu tư Môi trường pháp lý đối với hoạt động ĐTNN bao gồm toàn bộ các vănbản quy phạm pháp luật có liên quan đến hoạt động đầu tư, từ hiến pháp cơ bản đến cácđạo luật cụ thể Nhà nước giữ một vai trò quan trọng xây dựng hệ thống pháp luật và tạolập môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi Hệ thống các chính sách và những quy địnhcủa nhà nước liên quan đến hoạt động đầu tư kinh doanh gồm chính sách tài chính,chính sách thu nhập, chính sách tiền tệ, chính sách xuất nhập khẩu, chính sách phát triểnkinh tế nhiều thành phần Chính sách kinh tế thể hiện quan điểm định hướng phát triểnkinh tế của nhà nước thông qua các chủ trương và hành động cụ thể Nhà nước điềuhành và quản lý kinh tế, giám sát hoạt động của các DN và nhà đầu tư trên phương diện
Trang 20quản lý nhà nước về kinh tế Các chính sách thể hiện ưu đãi, khuyến khích đối với một
số lĩnh vực nào đó, đồng thời các chính sách sẽ là những chế tài để kiểm soát các lĩnhvực đó
Quá trình đầu tư bao gồm nhiều hoạt động khác nhau, sử dụng nguồn lực lớn,thời gian tiến hành các hoạt động dài nên môi trường pháp luật ổn định và có hiệu lực làmột yếu tố quan trọng để quản lý và thực hiện đầu tư một cách có hiệu quả Những điều
mà các nhà đầu tư quan tâm trong nội dung của hệ thống luật là: Thứ nhất, có sự đảmbảo pháp lý đối với quyền sở hữu tài sản tư nhân và môi trường cạnh tranh lành mạnh;Hai là, qui chế pháp lý của việc phân chia lợi nhuận, quyền chuyển lợi nhuận ra nướcngoài đối với các hình thức vận động cụ thể của vốn nước ngoài tại nước sở tại; Ba là,các qui định về thu thuế, mức thuế các loại, giá và thời hạn thuê đất; Bốn là, quản lýNhà nước đối với hoạt động đầu tư Nếu như các qui định về mặt pháp lý đảm bảo antoàn về vốn của nhà đầu tư không bị quốc hữu hóa khi hoạt động đầu tư đó khôngphương hại đến an ninh quốc gia, và việc di chuyển lợi nhuận về nước dễ dàng thì khảnăng hấp dẫn và thu hút vốn ĐTNN càng cao
1.2.4 Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế của một quốc gia phản ánh trình độ phát triển kinh tế của mộtquốc gia đó, và có ảnh hưởng nhiều đến việc thu hút và hiệu quả sử dụng vốn FDI củanhà đầu tư Trình độ phát triển kinh tế được thể hiện qua các nội dung như tăng trưởngkinh tế, cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực, lạm phát, lãi suất, tỷ giá hối đoái, GDP/ đầungười, hệ thống tài chính
1.2.4.1 Tăng trưởng kinh tế
Năng lực tăng trưởng kinh tế ảnh hưởng đến triển vọng thu hút các nguồn vốnđầu tư một cách hiệu quả (cả trong nước và nước ngoài) Tăng trưởng kinh tế cao, vàbền vững chứng tỏ các chủ thể trong nền kinh tế hoạt động có hiệu quả, từ đó tăng khảnăng tích lũy của nền kinh tế nên quy mô vốn đầu tư trong nước tăng lên Ngoài ra, triểnvọng tăng trưởng cao là tín hiệu để thu hút vốn ĐTNN, tốc độ tăng trưởng cao cho thấyhiệu quả sử dụng vốn của quốc gia đó là cao làm cho dòng vốn ĐTNN sẽ chảy từ nơi cóhiệu quả thấp đến nơi có hiệu quả cao Năng lực tăng trưởng kinh tế cao cũng cho thấyquốc gia đó đã tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi Tăng trưởng kinh tế cao đồng nghĩasức mua tăng lên do đó tạo thuận lợi cho việc tiêu thụ hàng hoá và thu hút nhà đầu tư
1.2.4.2 Quy mô thị trường
Trang 21Một quốc gia có dân số đông, thị trường rộng lớn có sức hấp dẫn không thểcưỡng lại đối với nhà ĐTNN Quy mô thị trường càng lớn thì càng hấp dẫn nhà ĐTNN,đặc biệt là nhà đầu tư có chính sách tìm kiếm thị trường Chẳng hạn, Trung quốc là mộttrong những quốc gia thu hút được lượng vốn FDI lớn nhất trên thế giới bởi một lợi thế
mà các quốc gia khác khó có được là với quy mô dân số lớn, hơn 1,3 tỷ người
1.2.4.3 Nguồn lao động
Một trong những yếu tố xã hội quan trọng của môi trường đầu tư là nguồn nhânlực và giá cả sức lao động Nhà đầu tư sẽ chọn khu vực có thể đáp ứng được cả về sốlượng, chất lượng và giá cả sức lao động Chất lượng lao động là một lợi thế cạnh tranhđối với các nhà đầu tư vào lĩnh vực có hàm lượng công nghệ cao hay có sử dụng nhiềucông nghệ hiện đại Ngoài ra yếu tố văn hoá cũng ảnh hưởng tới yếu tố lao động như sựcần cù, tính kỷ luật, ý thức trong lao động… Chất lượng lao động có ảnh hưởng tới thuhút vốn ĐTNN, tới cơ cấu ĐTNN, tới đầu tư vào lĩnh vực cụ thể Nếu chất lượng laođộng cao và chi phí lao động thấp thì môi trường đầu tư càng hấp dẫn, làm giảm chi phí,tăng lợi nhuận Tuy nhiên để có lực lượng lao động tốt thì lại phụ thuộc vào hệ thốnggiáo dục, đào tạo, chất lượng đào tạo nghề…
1.2.4.4 Cơ sở hạ tầng
Hệ thống cơ sở hạ tầng bao gồm hệ thống năng lượng, cấp thoát nước, mạng lướigiao thông, hệ thống thông tin liên lạc Trình độ của các nhân tố này cũng phản ánhtrình độ phát triển kinh tế của một quốc gia, tạo ra môi trường cho hoạt động đầu tư Cơ
sở hạ tầng có ảnh hưởng quyết định đến hiệu quả sản xuất kinh doanh, đến tốc độ chuchuyển đồng vốn Đây là vấn đề quan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư trước khi raquyết định đầu tư Cơ sở hạ tầng tốt là một trong các yếu tố quan trọng giúp giảm chiphí sản xuất kinh doanh của các nhà đầu tư Khi cơ sở hạ tầng thiếu thốn, lạc hậu sẽ ảnhhưởng tới chi phí đầu tư và tạo ra rào cản cho hoạt động đầu tư Chất lượng dịch vụ cơ
sở hạ tầng kém ảnh hưởng trực tiếp tới sự vận hành các hoạt động sản xuất và kinhdoanh cũng như đời sống của các nhà ĐTNN, khiến tăng chi phí sản xuất, chất lượngsản phẩm không cao Nhà đầu tư chỉ đầu tư ở nơi có cơ sở hạ tầng tốt và thuận lợi, đủkhả năng phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các nhà đầu tư Đặc biệt vớingành logistics thì cơ sở hạ tầng có ý nghĩa quyết định đối với chi phí và lợi nhuận
Hệ thống cung cấp năng lượng và nước sạch đảm bảo cho việc sản xuất quy
mô lớn và liên tục Các dịch vụ này không đáp ứng được nhu cầu sản xuất liên tục sẽgây rất nhiều trở ngại cho nhà đầu tư
Trang 22 Mạng lưới giao thông góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế Nó phục vụcho việc cung ứng vật liệu, tiêu thụ sản phẩm Quan trọng nhất là các đầu mối giaothông tiếp giáp với thế giới như cảng biển, cảng hàng không Các tuyến đường giaothông trọng yếu là cầu nối sự giao lưu phát triển kinh tế giữa các địa phương của mộtquốc gia Một mạng lưới giao thông đa phương tiện và hiện đại sẽ giúp các nhà đầu tưgiảm được hao phí chuyên chở không cần thiết, giảm chi phí vận chuyển.
Hệ thống thông tin liên lạc là nhân tố quan trọng hàng đầu trong bối cảnhbùng nổ thông tin như hiện nay, khi mà thông tin về tất cả các biến động trên thị trường
ở mọi nơi được truyền tải liên tục trên thế giới Thông tin liên lạc chậm trễ sẽ đánh mất
cơ hội làm ăn Môi trường đầu tư hấp dẫn dưới con mắt của nhà đầu tư là môi trường có
hệ thống thông tin liên lạc tốt và cước phí rẻ
1.2.5 Môi trường văn hóa, xã hội
Môi trường văn hóa, xã hội gồm các yếu tố về ngôn ngữ, tôn giáo, phong tục tậpquán, đạo đức, thị hiếu thẩm mĩ, hệ thống giáo dục, … tác động không nhỏ tới việc lựachọn lĩnh vực đầu tư, tới các hoạt động sản xuất kinh doanh
Yếu tố ngôn ngữ, văn hóa, phong tục tập quán ảnh hưởng lớn đến hoạt động sảnxuất kinh doanh, như các thiết kế sản phẩm (màu sắc, kiểu dáng), hình thức quảng cáo,thói quen tiêu dùng Trong một số trường hợp, sự bất đồng về ngôn ngữ và văn hoá đãmang lại những hậu quả không lường trong kinh doanh Chẳng hạn, người dân TrungQuốc đặc biệt có cảm tình với màu đỏ nên khi quảng cáo sản phẩm, các nhà ĐTNNcũng tăng thêm lượng màu này
Trình độ phát triển giáo dục đào tạo sẽ quyết định chất lượng lao động Việc đàotạo lao động không đáp ứng nhu cầu của DN sẽ làm tăng chi phí đào lại của DN, ảnhhưởng tới việc thu hút vốn đầu tư vào những lĩnh vực nhất định Yếu tố văn hóa củangười lao động gồm cách thức suy nghĩ, phong tục tập quán, giá trị nhân sinh quan, kỷluật lao động… cũng phản ánh chất lượng lao động
1.3 TÁC ĐỘNG CỦA MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ ĐẾN THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ
Để đưa ra quyết định đầu tư, nhà ĐTNN đầu tư sẽ tìm hiểu về môi trường đầu tưcủa nước sở tại theo các yếu tố cấu thành môi trường đầu tư Nhà ĐTNN sẽ xem xét tất
cả các yếu tố của môi trường đầu tư như chính trị, pháp luật, kinh tế, văn hoá, xã hộichứ không chỉ chú trọng đến yếu tố kinh tế của môi trường đầu tư Chỉ khi môi trườngđầu tư đảm bảo khả năng sinh lợi và an toàn thì nhà đầu tư nước ngoài mới lập dự án vàtriển khai dự án đầu tư, ngược lại họ sẽ từ bỏ ý định đầu tư
Trang 23Quy trình đầu tư trực tiếp nước ngoài bắt đầu từ bước đánh giá môi trường đầu
tư, đây là bước tạo tiền đề và có tính chất quyết định cho các giai đoạn sau Rõ ràng, bêncạnh các yếu tố như xu hướng vận động của vốn FDI, sự thay đổi sâu sắc trong lĩnhvực đầu tư trên thế giới, chiến lược đầu tư phát triển của các công ty đa quốc gia thìmôi trường đầu tư của nước nhận đầu tư có ảnh hưởng đến việc thu hút FDI NhàĐTNN chỉ bỏ vốn nếu môi trường đầu tư tạo điều kiện thuận lợi cho khả năng sinh lờicủa đồng vốn Khả năng sinh lời của vốn lại chịu ảnh hưởng của chi phí, rủi ro và ràocản cạnh tranh gắn với từng cơ hội đầu tư Môi trường đầu tư có ảnh hưởng đến dòngchảy FDI thông qua tác động của môi trường đầu tư đến chi phí, rủi ro và rào cản cạnhtranh của cơ hội đầu tư Chi phí, rủi ro và rào cản cạnh tranh phi lý bị giảm trừ sẽ tạo cơhội và động lực cho DN đầu tư
1.3.1 Chi phí đầu tư
Chí phí là một vế của công thức xác định hiệu quả đầu tư Nếu chi phí đầu tưcao, hiệu quả đầu tư sẽ giảm Nhà đầu tư không bỏ vốn vào những cơ hội đầu tư khôngmang lại hiệu quả và chỉ muốn bỏ vốn vào các cơ hội đầu tư có hiệu quả cao Vậy, nếuchi phí đầu tư càng cao thì lượng vốn nhà đầu tư bỏ ra sẽ ngày càng giảm Môi trườngđầu tư có ảnh hưởng đến chi phí đầu tư, ảnh hưởng đến khả năng sinh lời, và tới lượngvốn và cơ cấu vốn đầu tư
Chi phí đầu tư bao gồm chi phí chính thức, chi phí không chính thức và thời gian
để giải quyết các thủ tục hành chính Một quốc gia muốn thu hút vốn đầu tư thì phảigiảm chi phí đầu tư, nhất là chi phí bất hợp lý và thời gian không cần thiết Nếu muốnthu hút vốn đầu tư vào một ngành hay một vùng thì quốc gia đó cần phải giảm chi phíđầu tư vào ngành đó, vùng đó Ví dụ, thuế là một khoản chi phí của DN, giảm thuế sẽlàm giảm chi phí của DN sẽ khuyến khích DN đầu tư Chính sách ưu đãi thuế đượcnhiều chính phủ áp dụng để thu hút vốn đầu tư nói chung và vốn đầu tư vào một sốngành, vùng cần khuyến khích đầu tư Hay để giảm chi phí vận chuyển, chính phủ sửdụng ngân sách để đầu tư tạo mới và nâng cấp cơ sở hạ tầng
Ngoài chi phí chính thức, nhà đầu tư còn chú ý tới thời gian để thực hiện các quyđịnh, thực hiện các thủ tục hành chính và chi phí không chính thức Thời gian càng kéodài thì nhà đầu tư càng phải chịu nhiều chi phí, biến cơ hội đầu tư trở thành không hiệuquả hoặc mất cơ hội kinh doanh do sự chậm trễ Chính sự không chuyên nghiệp củacông chức giải quyết thủ tục hành chính, sự không tận tâm, quan liêu, cửa quyền gắn vớitình trạng tham nhũng, và thiếu vắng công nghệ hiện đại để giải quyết thủ tục hành
Trang 24chính làm tăng thời gian, gây ra sự trì trệ trong giải quyết thủ tục hành chính Theo Báocáo Môi trường đầu tư tốt hơn cho mọi người, chi phí trong việc đảm bảo hiệu lực hợpđồng, cơ sở hạ tầng không thỏa đáng, tội phạm, tham nhũng, và việc điều tiết có thể lênđến hơn 25% doanh số hoặc hơn ba lần so với mức mà DN thực sử phải trả dưới dạngthuế Do chi phí phi chính thức còn tồn tại phổ biến ở các quốc gia, thậm chí cao hơnnhiều so với chi phí chính thức ở một số quốc gia nên nhà đầu tư sẽ xem xét đầy đủ cáckhoản chi phí đầu tư của môi trường đầu tư khi quyết định đầu tư vào một quốc gia.
Để xem xét chi phí cũng như thời gian của môi trường đầu tư, nhà đầu tư cũng
có thể tham khảo một số chỉ số mà tổ chức quốc tế đánh giá như: Xếp hạng kinh doanhcủa Ngân hàng thế giới, chỉ số nhận thức tham nhũng của tổ chức Minh bạch quốc tế.Chẳng hạn, thời gian và chi phí để bắt đầu kinh doanh, chấm dứt kinh doanh và nhiềuchỉ số khác có sự khác biệt lớn giữa các nước Sự khác biệt về chỉ số này giữa các nướcmột mặt phản ánh sự khác biệt về môi trường đầu tư giữa các nước đồng thời cho thấychính phủ các nước vẫn còn có thể tiếp tục cải thiện được môi trường đầu tư cho tốthơn Vậy, năng lực quản lý của chính phủ có ảnh hưởng mạnh tới chi phí đầu tư, có thểlàm tăng cơ hội đầu tư hoặc biến nhiều cơ hội đầu tư thành không hiệu quả
1.3.2 Rủi ro đầu tư
Đầu tư là việc sử dụng các nguồn lực ngày hôm nay để tiến hành các hoạt độngnhằm thu được kết quả có lợi cho người đầu tư trong tương lai Một đặc điểm của hoạtđộng đầu tư là có tính rủi ro, nhà đầu tư bỏ vốn ra hôm nay có thể không thu được kếtquả như mong muốn trong tương lai Khi quyết định đầu tư, thì nhà đầu tư phải chấpnhận rủi ro Nhà đầu tư phải dự tính các loại rủi ro có thể xảy ra, xác suất xảy ra rủi ro,mức độ thiệt hại nếu rủi ro xảy ra từ đó tính toán hiệu quả của hoạt động đầu tư trongtrường hợp có rủi ro và đưa ra các biện pháp phòng chống và giảm rủi ro Khi tính đếnrủi ro, nhà đầu tư xem xét rủi ro xảy ra có thể làm giảm doanh thu hoặc tăng chi phíhoặc cả hai Hoặc nhà đầu tư sẽ đòi hỏi tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư cao hơn nếu rủi rocao Dù trường hợp nào thì khi nhà đầu tư đánh giá là có rủi ro cao thì hiệu quả đầu tư
dự tính sẽ giảm đi và do đó lượng vốn đầu tư sẽ giảm
Theo tính chất của biến cố xảy ra, rủi ro gồm rủi ro hệ thống và rủi ro phi hệthống Trong 2 loại rủi ro thì rủi ro hệ thống liên quan đến sự vận động của toàn bộ thịtrường do đó còn gọi là rủi ro không thể phân tán Nguyên nhân gây ro rủi ro hệ thống là
do sự thay đổi của các yếu tố vĩ mô làm ảnh hưởng đến toàn bộ thị trường Rủi ro hệthống gồm có rủi ro gây ra của môi trường tự nhiên (hạn hán, bão lụt), rủi ro chính trị
Trang 25(biến động chính trị), rủi ro pháp luật (sự thay đổi quy định pháp luật), rủi ro kinh tế (rủi
ro lãi suất, rủi ro lạm pháp, rủi ro tỷ giá hối đoái) Trong các loại rủi ro hệ thống trên thìrủi ro về môi trường tự nhiên là khó dự đoán nhất, còn sự thay đổi các yếu tố vĩ mô khácchịu sự tác động của chính phủ Môi trường đầu tư không đứng yên mà luôn vận động,các yếu tố của môi trường đầu tư luôn thay đổi Nếu nhà đầu tư tin rằng những thay đổicủa các yếu tố mà chính phủ có ảnh hưởng không gây bất lợi cho nhà đầu tư thì nhà đầu
tư sẽ mạnh dạn bỏ vốn ngay ngày hôm nay chứ không chờ đến tương lai, ngược lạikhông đầu tư hoặc chuyển khoản đầu tư sang quốc gia khác
Theo Báo cáo Môi trường Đầu tư tốt hơn cho mọi người, sự bất định của chínhsách, sự không ổn định kinh tế vĩ mô, và những quy định tùy tiện có thể làm giảm độnglực đầu tư DN tại quốc gia đang phát triển cho rằng rủi ro liên quan đến đến chính sách
là mối quan ngại chính Việc tăng cường khả năng tiên liệu của chính sách có thể làmtăng suất sinh lời của các khoản đầu tư mới lên hơn 30% Có thể thấy, rủi ro do môitrường đầu tư gây ra có ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả đầu tư Do đó, nhà đầu tư sẽđòi hỏi tỷ suất sinh lợi cao hơn ở các nước có rủi ro cao, việc sàng lọc cơ hội đầu tư sẽcẩn trọng hơn làm vốn đầu tư ở những nước rủi ro cao giảm đi
Trong các loại rủi ro hệ thống, chính phủ có ảnh hưởng mạnh tới rủi ro chính trị,pháp luật và kinh tế và có ít ảnh hưởng hơn tới rủi ro tự nhiên Tuy vậy, chính phủ cóthể dự báo thời tiết, khí hậu để đưa ra các biện pháp ứng phó kịp thời hoặc đầu tư xâydựng cơ sở hạ tầng để hạn chế rủi ro do môi trường tự nhiên gây ra
Ngay bản thân DN có thể dựa vào thông tin dự báo để chuẩn bị phương án đềphòng rủi ro tự nhiên Do đó, chính phủ có vai trò quan trọng trong việc giảm rủi ro đầu
tư để môi trường đầu tư vận động ổn định
1.3.3 Rào cản cạnh tranh
Môi trường đầu tư còn tạo ra các rào cản cạnh tranh cho các nhà đầu tư Thứnhất, rào cản cạnh tranh tạo ra do nhà đầu tư bị hạn chế tham gia vào thị trường Thứhai, nhà đầu tư gặp khó khăn khi rút lui khỏi thị trường Cuối cùng, nhà đầu tư khônghiểu biết đầy đủ và kịp thời các thông tin thị trường Việc nhà đầu tư bị hạn chế thamgia thị trường sẽ làm giảm vốn đầu tư Chi phí đầu tư và rủi ro đầu tư cao cũng ảnhhưởng tới việc tham gia thị trường của nhà đầu tư hay chi phí đầu tư và rủi ro đầu tư cao
là rào cản của việc gia nhập thị trường Việc tốn nhiều thời gian và chi phí để rút luikhỏi thị trường thì sẽ không khuyến khích được họ đầu tư vì đồng vốn không được lưuchuyển dễ dàng Thông tin thị trường không rõ ràng, đầy đủ khiến nhà đầu tư bỏ lỡ cơ
Trang 26hội đầu tư, không dự đoán được các chi phí và lợi ích của hoạt động đầu tư, làm tăng rủi
ro đầu tư, từ đó ảnh hưởng tới việc ra quyết định, tới hiệu quả đầu tư Việc cung cấpthông tin kém công khai, minh bạch sẽ tác động tiêu cực tới thu hút vốn đầu tư cũng nhưhiệu quả đầu tư
Bản thân những DN đang hoạt động hiệu quả tại thị trường thì muốn duy trì ràocản cạnh tranh, không muốn gặp phải sự cạnh tranh gay gắt làm suy giảm lợi nhuận của
họ Tuy nhiên, rào cản cạnh tranh sẽ khiến nhiều nhà đầu tư khác không có cơ hội thamgia vào thị trường, làm giảm hiệu quả kinh tế xã hội của một quốc gia, không khuyếnkhích áp dụng công nghệ mới, tăng năng suất lao động, ảnh hưởng tới lợi nhuận của họ
Giảm rào cản cạnh tranh sẽ khuyến khích việc bỏ vốn đầu tư Chính sách bảo hộnhững ngành công nghiệp non trẻ sẽ ảnh hưởng tới thu hút vốn ĐTNN vào những ngành
đó Bên cạnh đó, vị trí địa lý, khoảng cách tới thị trường, quy mô thị trường, điều kiện
tự nhiên khác, điều kiện cơ sở hạ tầng cũng ảnh hưởng tới sự gia nhập, rút lui khỏi thịtrường Những yếu tố tạo ra rào cản cạnh tranh có thể được giảm bớt nếu chính phủ đầu
tư có chiến lược đầu tư hợp lý cho cơ sở hạ tầng, phát triển công nghệ thông tin để rútngắn khoảng cách phát triển giữa các vùng miền, giảm bớt chi phí thông tin liên lạc, vậnchuyển Hơn nữa, chính phủ giảm bớt rào cản cạnh tranh bằng các quy định điều tiết sựgia nhập và rút lui khỏi thị trường, những quy định điều tiết cạnh tranh Chính việc giảmrào cản gia nhập và rút lui thị trường làm nhiều DN mới với cách thức quản lý tốt, côngnghệ mới, hoạt động hiệu quả được thành lập; còn những DN không thể cạnh tranhđược, hiệu quả kém phải rút lui làm hiệu quả chung của nền kinh tế tăng lên, góp phầntăng trưởng kinh tế, tăng năng suất lao động Ngược lại, hiệu quả đầu tư tăng lên thì khảnăng tích lũy của nền kinh tế tăng, tạo nguồn vốn đầu tư dồi dào cho sự phát triển kinh
tế Tóm lại, việc giảm rào cản cạnh tranh có tác động tích cực làm tăng vốn đầu tư vàhiệu quả đầu tư của cả nền kinh tế
1.4 NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUÁ TRÌNH CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ
1.4.1 Nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia
Nhiều lý thuyết kinh tế đã thể hiện vai trò của đầu tư đối với tăng trưởng kinh tế.Các quốc gia coi đầu tư là chìa khóa cho tăng trưởng và phát triển kinh tế nên tích cựcthu hút đầu tư Để thu hút được các nguồn vốn đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế, đặcbiệt là nguồn vốn ĐTNN thì quốc gia đó buộc phải hoàn thiện môi trường đầu tư từ việccải cách các thể chế kinh tế, hoàn thiện hệ thống pháp luật, phát triển cơ sở hạ tầng,
Trang 27nâng cao trình độ người lao động để giảm chi phí, rủi ro và rào cản cạnh tranh để từ đótăng hiệu quả đầu tư.
Chính nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia tạo ra sự cạnh tranh gaygắt giữa các quốc gia để thu hút dòng FDI và là động lực cho quá trình cải thiện môitrường đầu tư Quốc gia nào có môi trường đầu tư an toàn, tạo thuận lợi cho quá trình
bỏ vốn và tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ thu hút được nhiều vốn đầu
tư Chính phủ các nước ngày càng tích cực chủ động cải thiện môi trường đầu tư đểtăng cường thu hút vốn ĐTNN Môi trường đầu tư thay đổi và chịu sự chi phối củaChính phủ nước tiếp nhận đầu tư thông qua các yếu tố mà Chính phủ có tác động mạnh
1.4.2 Xu hướng tự do hóa, toàn cầu hóa
Các quốc gia đều nhận thấy vai trò của tự do hóa chính sách đầu tư và thươngmại đối với phát triển kinh tế, đã ngày càng mở cửa thị trường thông qua việc nỗ lực kýkết các các hiệp định đầu tư song phương, đa biên, hiệp định tránh đánh thuế 2 lần; vàthông qua việc gia nhập các tổ chức thương mại khu vực và quốc tế Việc kí kết các hiệpđịnh đầu tư với nước ngoài là cơ sở pháp lý quan trọng hàng đầu để đảm bảo tin tưởngcho các nhà đầu tư khi đầu tư ở nước ngoài Các hiệp định ký kết với các điều khoảnliên quan đến đầu tư sẽ ảnh hưởng đến các quy định và chính sách đầu tư với các nhàĐTNN hay ảnh hưởng đến sự thay đổi các yếu tố của môi trường đầu tư cho phù hợpvới hiệp định Chính sự đảm bảo về mặt pháp lý làm cho rủi ro đầu tư giảm đi, nhàĐTNN mạnh dạn bỏ vốn đầu tư Hiệp định tránh đánh thuế 2 lần với nước đầu tư vớinước ngoài cũng tạo sức hấp dẫn cho các nhà đầu tư bởi họ chỉ chịu một lần thuế ở nướcnhận đầu tư mà thôi Ngoài ra, điều kiện khi gia nhập tổ chức thương mại khu vực vàquốc tế cũng như lộ trình mở cửa thị trường sau khi gia nhập đã buộc các quốc gia phảicải thiện môi trường đầu tư, bắt đầu từ hệ thống luật Vậy có thể thấy xu hướng toàn cầuhóa đã ảnh hưởng đến quá trình cải thiện môi trường đầu tư toàn cầu gồm: hệ thống thểchế và môi trường pháp lý cho hoạt động ĐTNN ở các cấp độ quốc gia, khu vực và toàncầu (hay ở cấp độ song phương, đa phương); quy mô thị trường hàng hóa và dịch vụđược mở rộng do các chính sách tự do hoá thương mại đã xoá bỏ rào cản giữa các nước;làm thay đổi lợi thế so sánh giữa các quốc gia, giữa nước đi đầu tư và nước nhận đầu tư(các yếu tố đẩy và hút) như vốn, lao động, nguyên nhiên vật liệu, tài nguyên thiên nhiên,công nghệ
1.4.3 Xu hướng phát triển khoa học và công nghệ trên thế giới
Trang 28Nếu các yếu tố đầu vào của sản xuất không thay đổi thì trình độ khoa học côngnghệ nâng lên sẽ làm tăng năng suất lao động Do đó, sự phát triển của khoa học côngnghệ trên thế giới sẽ ảnh hưởng đến việc sử dụng các yếu tố đầu vào khác, không chỉ làlao động để tạo ra giá trị gia tăng lớn cho nhà đầu tư và nền kinh tế Các nước đầu tưthường là các nước phát triển, có tích lũy lớn, và trình độ khoa học công nghệ cao.Nước nhận đầu tư thường phải thay đổi cơ sở hạ tầng phù hợp, và thay đổi các yếu tốvào khác để có thể đón được dòng vốn đầu tư này.
1.4.4 Các công ty xuyên quốc gia
Phần lớn hoạt động ĐTNN được thực hiện bởi các TNCs nên tốc độ tăng trưởngcủa các TNCs ảnh hưởng đến động thái của dòng FDI TNCs bao gồm công ty mẹ vàcác công ty con ở các nước trên thế giới Công ty mẹ là công ty kiểm soát toàn bộ tàisản của mình tại nước sở hữu Có 3 dạng công ty con: Dạng thứ nhất là công ty phụthuộc - hơn 50% tài sản do chủ đầu tư ở công ty mẹ nắm quyền sở hữu, họ có quyền chỉđịnh hoặc bãi nhiệm các thành viên bộ máy tổ chức và điều hành của công ty con Dạngthứ hai là công ty liên kết, chủ đầu tư của công ty mẹ chỉ nắm một tỷ lệ nhỏ tài sản và cóquyền hạn ít hơn so với dạng thứ nhất Dạng công ty con thứ ba là dạng công ty conhoạt động với 100% tài sản thuộc sở hữu của công ty mẹ, trường hợp này công ty mẹ cótoàn quyền đối với công ty con
Làn sóng sáp nhập của các TNCs từ những năm 80 đã hình thành các công tykhổng lồ có mặt trên khắp các châu lục, chiếm thị phần quan trọng trên thị trường thếgiới, hoạt động trên nhiều lĩnh vực hơn, tổ chức có hiệu quả hơn và được vi tính hoá cao
độ hơn Các chuyên gia kinh tế phương Tây cho rằng việc sáp nhập các công ty có tácdụng tích cực trong việc phát triển kinh doanh theo qui luật thị trường, đưa nhanh tiến
bộ khoa học công nghệ vào thực tiễn, hạn chế các rủi ro kinh doanh Làn sóng sáp nhậpgia tăng góp phần làm cho ĐTNN đạt kỉ lục Với làn sóng sáp nhập gia tăng cùng với xuhướng đầu tư vào khoa học công nghệ và dịch vụ của các TNCs cho thấy các nước đangphát triển vừa đứng trước cơ hội tiếp cận dòng FDI đổ vào khu vực này và được chuyểngiao công nghệ; song cũng đứng trước thách thức là nguồn nhân lực chưa đủ để hấp thụdòng FDI này Do đó, nước nhận đầu tư cần phải phát triển hệ thống giáo dục và đào tạo
để nâng cao trình độ của người lao động, có tinh thần và thái độ làm việc nghiêm túc
1.4.5 Chính sách và khả năng của nhà đầu tư nước ngoài
Khi thu hút vốn ĐTNN, nước nhận đầu tư cần biết được chính sách của nhàĐTNN Nhà đầu tư có thể lựa chọn một trong những chính sách: Đầu tư định hướng thị
Trang 29trường, Đầu tư định hướng chi phí, và Đầu tư định hướng nguồn nguyên liệu [12] Nướcnhận đầu tư cần biết rõ lợi thế so sánh của nước mình cũng như những hạn chế của môitrường đầu tư để cải thiện các yếu tố của môi trường đầu tư phù hợp với chính sách củanhà đầu tư đồng thời thực hiện được định phát kinh tế của mình Ngoài ra, nước nhậnđầu tư cần tìm hiểu khả năng của các nhà ĐTNN (như lợi thế về công nghệ, vốn, quảnlý ) để đưa chiến lược thu hút vốn đầu tư chọn lọc, định hướng nhà đầu tư để tạo ra giátrị gia tăng lớn cho nền kinh tế Để thực hiện chiến lược thu hút vốn đầu tư định hướngnhà đầu tư thì nước nhận đầu tư cần phải thay đổi các nguồn lực của quốc gia, các yếu
tố của môi trường đầu tư nước mình cho phù hợp với khả năng của nhà ĐTNN
Trang 30CHƯƠNG 2 MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ VỚI VIỆC THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ
TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM
2.1 QUÁ TRÌNH HOÀN THIỆN MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ TẠI VIỆT NAM TỪ KHI THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐỔI MỚI, MỞ CỬA
2.1.1 Môi trường tự nhiên
Việt Nam có vị trí địa lý thuận lợi thu hút các nhà ĐTNN Việt Nam là quốc gianằm trên bán đảo Đông Dương, ven biển Thái Bình Dương Diện tích đất liền là331.690 km2 Khoảng cách giữa hai điểm cực nam và bắc là 1.650 km, khoảng cáchĐông -Tây tối đa: 600 km (Bắc Bộ), 400 km (Nam Bộ) và tối thiểu: 50 km (QuảngBình, Trung Bộ) Việt Nam có đường biên giới trên đất liền dài 4550 km, tiếp giáp vớiTrung Quốc ở phía Bắc, với Lào và Căm-pu-chia ở phía Tây; phía Đông giáp biểnĐông Việt Nam ở vị trí trung tâm khu vực Đông Nam Á, thuộc khu vực kinh tế năngđộng của thế giới nên có tiềm năng liên kết với nhịp độ phát triển của khu vực, có khảnăng kết nối với những nước có nền công nghiệp cao như: Nhật Bản, Singapore, TháiLan Do đó, Việt Nam có thể trở thành đầu mối giao lưu trung chuyển hàng hải, rấtthuận lợi về giao thông đường biển với các châu lục khác Vị trí địa lý là một lợi thế củaViệt Nam so với các nước trong khu vực trong việc thu hút FDI
Việt Nam có một mạng lưới sông ngòi dày đặc, tổng chiều dài các con sông là41.000 km với tổng lưu lượng gần 300 tỷ m3 nước và 3.100 km kênh rạch Hai sông lớnnhất là sông Hồng và sông Mê Kông, chảy qua hai vùng đồng bằng Sông Hồng, và đồngbằng sông Cửu Long Sông Hồng dài 1.149 km trong đó 510 km chảy trên lãnh thổ ViệtNam, Sông Mê kông (Cửu Long) dài 4.220 km trong đó 220 km chảy trên lãnh thổ ViệtNam Hệ thống sông ngòi tạo điều kiện phát triển giao thông đường thủy
Việt Nam có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, như: Thiếc, kẽm, bạc,vàng, angtimoan, đá quí, than đá Thềm lục địa của Việt Nam có nhiều dầu mỏ, khí Đây
là điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư phát triển công nghiệp khai khoáng, dự án dầukhí và lọc dầu Đất ở Việt Nam rất đa dạng, có độ phì cao, thuận lợi cho phát triểnnông, lâm nghiệp
Trang 31Theo kết quả điều tra, điều kiện tự nhiên của Việt Nam hầu như không gây trởngại hoặc rất ít đối với hoạt động ĐTNN Nhiều DN FDI đánh giá vị trí địa lý và thờitiết khí hậu không gây trở ngại (44% và 35%) Rõ ràng, điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng
ít nhiều đến mọi dự án, nhưng đây là yếu tố bản thân nhà đầu tư chấp nhận khi quyếtđịnh đầu tư vào Việt Nam và chính phủ ít tác động nhất Ngoài ra, các yếu tố khác đượcđánh giá ít trở ngại như cung cấp nước, viễn thông, quy định về lao động, giải quyếttranh chấp và chi phí lao động
Những yếu tố các DN có vốn FDI đánh giá có mức độ trở ngại cao là thủ tụchành chính, môi trường vĩ mô thiếu ổn định, chính sách không ổn định, trình độ laođộng, tình trạng tham nhũng, khả năng tiếp cận nguồn vốn, giao thông, chi phí vàchất lượng nguyên vật liệu
2.1.2 Môi trường chính trị
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam, Việt Nam được xếp vào mộttrong những nước có tình hình chính trị ổn định nhất thế giới Ổn định chính trị là cơ sởcho ổn định kinh tế xã hội, tạo thuận lợi để Việt Nam trở thành đích đến an toàn của cácnhà ĐTNN
Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn coi trọng mối quan hệ về chính trị với cácnước trên thế giới Việt Nam tích cực, chủ động tăng cường mở rộng quan hệ ngoạigiao, hợp tác trên các lĩnh vực kinh tế, y tế, giáo dục, khoa học công nghệ và an ninhquốc phòng Năm 1992, Việt Nam ký các hiệp định hợp tác kinh tế - thương mại với
EU, mở đường cho quan hệ hợp tác phát triển kinh tế giữa Việt Nam với các nước pháttriển của Liên minh Châu Âu Tháng 10/1993, Việt Nam chính thức nối lại quan hệ tíndụng với ba tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế là: Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàngThế giới (WB), và Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) Ngày 03/02/1995, Mỹ dỡ bỏcấm vận kinh tế với Việt Nam Năm 1995, 3 sự kiện ngoại giao lớn: Bình thường hóaquan hệ với Mỹ vào ngày 11/7/1995; Ký hiệp định khung hợp tác với Liên minh châu
Âu vào 11/7/1995; Trở thành thành viên chính thức của hiệp hội các nước Đông Nam Á(ASEAN) vào ngày 28/7/1995 và bắt đầu thực hiện chương trình ưu đãi thuế quan cóhiệu lực chung (CEPT) từ 1/1/1996 Chính sự kiện này tạo điều kiện thuận lợi cho hoạtđộng ngoại thương với các nước trong khu vực và với Mỹ, mở cửa thị trường xuất khẩu,tạo thuận lợi cho thu hút vốn FDI Tháng 11 năm 1998, Việt Nam chính thức trở thànhthành viên của APEC Năm 2001, Hiệp ước thương mại song phương Việt - Mỹ được
Trang 32ký kết, thúc đẩy quan hệ buôn bán thương mại với Mỹ Năm 2003, Việt Nam tham gia
khu vực mậu dịch tự do AFTA của ASEAN Vào ngày 7/11/2006, Việt Nam ký hiệp
ước và chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO vào ngày 11/1/2007 và cóquan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR) vào năm 2007 Việc Mỹ thực hiệnquan hệ PNTR với Việt Nam đã có ảnh hưởng tích cực đến môi trường đầu tư của ViệtNam Những rủi ro về xuất khẩu hàng hóa được giảm thiểu và rủi ro cạnh tranh quốc tếđược điều chỉnh theo xu hướng an toàn hơn cho các DN Việt Nam Tóm lại, Việt Nam
đã tích cực thiết lập quan hệ hợp tác về thương mại và đầu tư với nhiều quốc gia, trong
đó có những đối tác lớn và quan trọng như Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc Bêncạnh đó, nhiều sự kiện ngoại giao lớn đã Việt Nam tổ chức thành công trong những nămgần đây Việt Nam đã tổ chức rất thành công hội nghị cấp cao Á - Âu (ASEM 5) vào haingày 8-9/10/2004 Hội nghị đã đi tới thống nhất được nhiều vấn đề về kinh tế, thươngmại song và đa phương, nhiều hợp đồng thương mại được ký kết Uy tín của Việt Nam
đã được nâng lên trên trường quốc tế Năm 2006, Việt Nam tổ chức thành công hội nghịcấp cao APEC, tác động tích cực đến quá trình gia nhập WTO, thúc đẩy Hoa Kỳ thôngqua Quy chế PNTR với Việt Nam Nhờ đó, Việt Nam được các nước Châu Á nhất trígiới thiệu ứng cử ghế Uỷ viên không thường trực Hội đồng Bảo an LHQ nhiệm kỳ2008-2009 Năm 2006 có thể nói là năm thắng lợi rực rỡ về công tác đối ngoại của ViệtNam, là cột mốc đánh dấu tiến trình hội nhập của Việt Nam với khu vực và thế giới,nâng cao đáng kể vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế Trong những năm gần đây,chúng ta tiếp tục thực hiện chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ kinh
tế đối ngoại và đã đạt được những kết quả rất tích cực Trong khuôn khổ đa phương,Việt Nam đã cùng các nước ASEAN ký kết và triển khai thực hiện các hiệp định FTAslà: Hiệp định Khu vực Thương mại Tự do ASEAN (AFTA), Hiệp định Thương mại Tự
do ASEAN - Trung Quốc (ACFTA), Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN - Hàn Quốc(AKFTA), Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN - Nhật Bản (AJFTA), Khu vực Mậudịch Tự do ASEAN-Ấn Độ (AIFTA), Khu vực thương mại tự do giữa các nước ASEANvới Australia và New Zealand (AANZFTA) Trong khuôn khổ song phương, Việt Namcũng đã ký kết: Hiệp định đối tác kinh tế giữa Việt Nam và Nhật Bản (EPA), Hiệp địnhthương mại tự do với Hàn Quốc (VKFTA), với Chi Lê (VCFTA), với Liên minh hảiquan gồm Nga, Bê-la-rút và Ca-dắc-xtan (VCUFTA), với Liên minh Kinh tế Á - Âu vàcác nước thành viên (VN-EAEU FTA) Ngoài ra, một số hiệp định FTA cũng đã đượcViệt Nam và các nước đối tác ký tuyên bố chính thức kết thúc đàm phán như: Hiệp định
Trang 33Thương mại tự do (FTA) giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA), Hiệp địnhđối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) Đặc biệt, năm 2015 đánh dấuCộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) chính thức được thành lập Việc hội nhập kinh tếquốc tế, mở rộng quan hệ thương mại với các nước, các tổ chức là cơ hội để đưa ViệtNam trở thành quốc gia có nền kinh tế phát triển và đây cũng là xu hướng tất yếu Quátrình hội nhập của Việt Nam vào nền kinh tế thế giới trong thời gian qua đã góp phầnthúc đẩy hoạt động xuất khẩu, mở rộng thị trường, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tiếpthu được khoa học kỹ thuật tiên tiến của thế giới…góp phần không nhỏ vào tăng trưởngkinh tế.
Chính việc tăng cường quan hệ ngoại giao với các nước và tổ chức quốc tế cũngnhư việc Việt Nam tổ chức thành công các sự kiện, Việt Nam được các nước và nhàĐTNN đánh giá rất cao về môi trường chính trị, làm các nhà đầu tư yên tâm đầu tư tạiViệt Nam, có ảnh hưởng tích cực tới thu hút vốn FDI
2.1.3 Môi trường chính sách, pháp luật
Từ khi thực hiện chính sách đổi mới mở cửa, hệ thống chính sách và pháp luật
về hoạt động đầu tư nói chung và FDI nói riêng đã và đang được hoàn thiện Đối vớihoạt động FDI, những quy định liên quan đến khuyến khích, bảo hộ đầu tư, thành lập, tổchức, quản lý hoạt động DN FDI đã được quy định trong Luật đầu tư nước ngoài đượcQuốc hội khóa VIII, kỳ họp thứ 2 thông qua vào ngày 31/12/1987 và được sửa đổi bổsung 4 lần vào các năm 1990, 1992, 1996 và 2000 Ngày 29/12/2005, Luật đầu tư chung
đã được Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 8 thông qua và có liệu lực thi hành từ ngày01/7/2006 Luật đầu tư chung thay thế cho Luật đầu tư nước ngoài năm 1996, Luật sửađổi, bổ sung một số điều của Luật đầu tư nước ngoài năm 2000 và Luật khuyến khíchđầu tư trong nước năm 1998
Ngoài Luật ĐTNN, các luật chuyên ngành như: Luật các tổ chức tín dụng, LuậtBảo hiểm, Luật Giáo dục, Luật Giáo dục đại học, Luật Giáo dục nghề nghiệp, Pháp lệnh
về viễn thông, Luật Dầu khí, Luật Khoáng sản cũng có những điều khoản áp dụng chonhà ĐTNN như hình thức đầu tư, phạm vi, chính sách khuyến khích, thủ tục đầu tư.Qua những lần sửa đổi, bổ sung thì các luật áp dụng cho các thành phần kinh tế khácnhau cũng nhích lại gần nhau hơn, như Luật ĐTNN sửa đổi năm 2000 đã mở rộng lĩnhvực đầu tư, hình thức đầu tư, tự chủ hơn trong quản lý hoạt động DN FDI; chính sáchhai giá giữa đối tượng trong nước và nước ngoài hầu như đã xóa bỏ Hơn nữa, Việt Nam
Trang 34đang tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, nên hệ thống pháp luật nước ta cũng phải điềuchỉnh phù hợp với lộ trình thực hiện các cam kết quốc tế, như AFTA, BTA và đáp ứngyêu cầu gia nhập WTO;
Nhằm tạo ra môi trường pháp luật về đầu tư bình đẳng, không phân biệt đối xửgiữa các nhà đầu tư, đơn giản hoá thủ tục đầu tư, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc
tế, ngày 29/11/2005, Luật đầu tư và Luật doanh nghiệp đã được Quốc hội khoá XI, kỳhọp thứ 8 thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2006 Luật đầu tư 2005 thaythế cho Luật ĐTNN và Luật khuyến khích đầu tư trong nước năm 1998 Luật doanhnghiệp 2005 thay thế Luật doanh nghiệp năm 1999; Luật doanh nghiệp nhà nước năm
2003, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 166 của Luật này; các quy định về tổchức quản lý và hoạt động của DN tại Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm
1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Namnăm 2000 Luật ĐT 2005 gồm 10 chương: Những quy định chung, bảo đảm đầu tư,quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư, hình thức đầu tư, lĩnh vực, địa bàn đầu tư, ưu đãi và
hỗ trợ đầu tư, hoạt động đầu tư trực tiếp, đầu tư, kinh doanh vốn nhà nước, đầu tư ranước ngoài, quản lý nhà nước về đầu tư và điều khoản thi hành Luật doanh nghiệp 2005gồm 10 chương, 89 điều: Những quy định chung, Thành lập và đăng ký kinh doanh,công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, DN tư nhân, nhómcông ty, tổ chức lại, giải thể và phá sản DN, quản lý nhà nước đối với DN và điều khoảnthi hành
Không như Luật ĐTNN 1996 và sửa đổi năm 2000, Luật đầu tư chung chỉ tậptrung vào bảo đảm đầu tư và chính sách khuyến khích đầu tư, không đề cập tới vấn đềthành lập và tổ chức quản lý DN thuộc mọi thành phần kinh tế Nhà đầu tư được đầu tưvào các lĩnh vực và ngành, nghề mà pháp luật không cấm; được tự chủ và quyết địnhhoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật Việt Nam Nhà nước đối xử bình đẳng vớicác nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế, giữa đầu tư trong nước và ĐTNN; côngnhận và bảo hộ quyền sở hữu tài sản, vốn đầu tư, thu nhập và các quyền, lợi ích hợppháp khác của nhà đầu tư; khuyến khích và có chính sách ưu đãi đối với đầu tư vào cáclĩnh vực, địa bàn ưu đãi đầu tư Nhà nước cam kết thực hiện các điều ước quốc tế liênquan đến đầu tư mà Việt Nam là thành viên Luật đầu tư cũng đưa ra danh mục ưu đãiđầu tư, danh mục cấm đầu tư, danh mục đầu tư Tuy nhiên, Việt Nam có thể thay đổinhững danh mục này căn cứ vào yêu cầu phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kỳ
Trang 35Đối với nhà ĐTNN, các lĩnh vực đầu tư có điều kiện còn bao gồm các lĩnh vực đầu tưtheo lộ trình thực hiện cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên Về chế độ ưu đãi đầu
tư, Nhà nước thực hiện các ưu đãi cho các nhà đầu tư vì lợi ích quốc gia theo chính sáchtrong từng thời gian đối với một số ngành, lĩnh vực Các ưu đãi áp dụng như nhau giữacác nhà đầu tư, không tạo ra sự bất bình đẳng, không trái với các cam kết quốc tế Nhàđầu tư được hưởng những ưu đãi; được chuyển lỗ tối đa 5 năm; được khấu hao nhanh tàisản cố định và được miễn, giảm tiền thuê đất, tiền sử dụng đất, thuế sử dụng đất đối với
dự án đầu tư vào lĩnh vực, địa bàn ưu đãi đầu tư Bên cạnh đó, nhà đầu tư được hỗ trợchuyển giao công nghệ, hỗ trợ đào tạo, hỗ trợ và khuyến khích phát triển dịch vụ đầu tư,
hỗ trợ đầu tư kết cấu hạ tầng đến chân công trình
Luật đầu tư năm 2005 phân cấp triệt để việc cấp Giấy chứng nhận đầu tư(GCNĐT) cũng như quản lý đầu tư cho UBND tỉnh và các Ban quản lý Khu Côngnghiệp, Khu chế xuất, Khu Công nghệ cao và Khu kinh tế Thủ tướng Chính phủ chỉchấp thuận về nguyên tắc đối với một số dự án quan trọng chưa có trong quy hoạch,hoặc chưa có quy hoạch Việc phân cấp mạnh cho UBND tỉnh và Ban quản lý đã tạođiều kiện cho các Bộ, ngành quản lý nhà nước tập trung thực hiện chức năng hoạch địnhchính sách, dự báo, kiểm tra, giám sát; còn UBND tỉnh và Ban quản lý thực hiện đượctrách nhiệm quản lý hoạt động đầu tư trong nước và ĐTNN trên địa bàn Ngoài ra, Bộ
Kế hoạch và Đầu tư đã phối hợp với các Bộ, ngành liên quan tổ chức tập huấn, trao đổinghiệp vụ và hỗ trợ các địa phương tổ chức hội nghị, hội thảo vận động xúc tiến, xâydựng danh mục dự án kêu gọi đầu tư, ban hành văn bản hướng dẫn về ĐTNN tại địabàn Việc phân cấp quản lý đầu tư đã đơn giản thủ tục đầu tư, góp phần thu hút ĐTNNvào Việt Nam
Luật Doanh nghiệp quy định về thành lập, tổ chức quản lý nội bộ, giải thể theocác loại hình DN Đối với DN liên doanh với nước ngoài, nguyên tắc nhất trí của Hộiđồng quản trị về những vấn đề quan trọng nhất của DN như quy định tổng giám đốc,phó tổng giám đốc thứ nhất phải là người Việt Nam; bổ nhiệm kế toán trưởng bị xóa
bỏ hoàn toàn
Để tạo ra môi trường kinh doanh bình đẳng giữa các loại hình DN, giữa cácthành phần kinh tế, nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan đến hoạt độngđầu tư kinh doanh (như về sử dụng đất đai, về tín dụng, thuế, thương mại, về hợp tác,
Trang 36cạnh tranh, phá sản ) phải chỉnh sửa Trong giai đoạn này, Việt Nam ban hành nhiềuvăn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư.
Luật đầu tư chung, Luật doanh nghiệp cùng với văn bản pháp quy khác đã tạo ra
sự thay đổi lớn về môi trường đầu tư, được các chuyên gia kinh tế và các tổ chức kinh
tế, tài chính thế giới đánh giá đánh giá cao Việc tạo ra hành lang pháp lý chung cho cácnhà đầu tư cũng như sự kiện Việt Nam gia nhập WTO là sự đảm bảo chắc chắn về mặtpháp lý cho hoạt động ĐTNN, đánh vào tâm lý của nhà ĐTNN, làm cho dòng vốn FDIchảy mạnh vào Việt Nam từ năm 2006 đến nay Khung pháp luật, chính sách đầu tư đãgóp phần đáng kể trong việc tạo ra làn sóng thứ hai về ĐTNN vào Việt Nam kể từ năm
2006 tới 2008
Tuy Luật đầu tư và Luật doanh nghiệp ban hành năm 2005 và có hiệu lực vàongày 01/07/2006 nhưng đến tháng 9 năm 2006 Nghị định hướng dẫn thi hành các Luậtnày mới được ban hành Sự chậm chễ trong việc ban hành văn bản pháp quy hướng dẫnđầu tư gây ra sự lúng túng của các chính quyền địa phương trong quản lý hoạt động đầutư
Để tiếp tục cải cách cho phù hợp với những cam kết quốc tế, năm 2014 Quốc hội
đã thông qua Luật Đầu tư mới bổ sung và sửa đổi số 67/2014/QH13 ngày 26/11/2014
và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/07/2015 Luật Đầu tư 2014 với 7 chương, 76 điều quiđịnh về hoạt động của nhà đầu tư kinh doanh tại Việt Nam cũng như qui định về việcđầu tư kinh doanh từ Việt Nam ra nước ngoài Luật Đầu tư 2014 đã thể hiện nhiều điểmmới và khác biệt so với qui định của Luật Đầu tư 2005 Cụ thể là: Trước đây theo LuậtĐầu tư 2005, lĩnh vực cấm đầu tư mang tính chất chung chung, không rõ ràng như:phương hại đến quốc phòng, an ninh, quốc gia… nhưng theo Luật mới chỉ cấm hoạtđộng đầu tư kinh doanh được liệt kê tại Luật Đây là quy định tiến bộ, khẳng định “Nhàđầu tư có quyền thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong những ngành nghề màpháp luật không cấm” Luật mới cũng đã liệt cụ thể 267 ngành nghề đầu tư kinh doanh
có điều kiện Quy định này giúp nhà đầu tư tìm hiểu luôn được các ngành nghề kinhdoanh có điều kiện thay vì trước đây phải tìm hiểu qua các văn bản chuyên ngành Quyđịnh này cũng tránh được cách hiểu khác nhau của người thi hành, áp dụng luật Luậtmới cũng đã rút ngắn thời gian cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư Với các dự án đầu
tư thuộc diện quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Uỷ bannhân dân cấp tỉnh: 5 ngày làm việc, còn các dự án khác thì 15 ngày làm việc Luật mới
Trang 37cũng đã thu hẹp phạm vi áp dụng cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với nhà đầu
tư nước ngoài Theo Luật Đầu tư 2005 tất cả các dự án có vốn nước ngoài không xácđịnh tỷ lệ của nhà đầu tư nước của doanh nghiệp vẫn phải cấp Giấy chứng nhận đầu tư.Nay theo Luật Đầu tư 2014 qui định đối với các dự án nhà đầu tư nước ngoài hoặcdoanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài góp vốn 51% vốn điều lệ mới phải xin Giấychứng nhận đăng ký đầu tư đối với dự án của nhà đầu tư nước ngoài Đây thực sự là mộtbước mở nhằm góp phần thu hút, khuyến khích đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoàiđầu tư tại Việt Nam
Bảng 2.1 Tổng hợp các văn bản pháp luật liên quan đến đầu tư nước ngoài Giai đoạn Luật Pháp lệnh Nghị quyết Nghị định Chỉ thị Thông tư
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Nhìn chung, hệ thống chính sách và pháp luật về hoạt động đầu tư nói chung vàFDI nói riêng đã và đang được hoàn thiện Tuy nhiên, theo kết quả điều tra, hệ thốngpháp luật và chính sách vẫn bị nhà đầu tư đánh giá có điểm trở ngại cao trong các yếu tốcủa môi trường đầu tư
Trong các yếu tố của môi trường pháp luật, cơ hội tham vấn bày tỏ ý kiến trongquá trình xây luật, tính có thể dự đoán của luật lệ, quy định và tính nhất quán là nhữngyếu tố nhiều DN FDI đánh giá hiệu quả thấp Cơ hội tham vấn bày tỏ ý kiến trong quátrình xây luật, và tính nhất quán giữa văn bản pháp luật có ảnh hưởng tới tính khả thicủa văn bản pháp luật ban hành Hơn nữa, cơ hội tham vấn bày tỏ ý kiến trong quá trìnhxây luật, tính có thể dự đoán của luật lệ, quy định có ảnh hưởng tới kế hoạch, chiến lượcđầu tư, kinh doanh và rủi ro đầu tư của DN FDI Chính 3 yếu tố này có ảnh hưởng tớiquyết định bỏ vốn đầu tư và hiệu quả đầu tư của DN FDI Đa số các DN FDI điều tracho rằng tính phổ cập, rõ ràng, đầy đủ của văn bản pháp luật có ảnh hưởng tới quyếtđịnh bỏ vốn đầu tư vào Việt nam Vậy, môi trường pháp luật đã từng bước được cảithiện nhưng nhà ĐTNN đánh giá vẫn là yếu tố gây trở ngại lớn đến thu hút và sử dụngvốn FDI, đặc biệt là tính minh bạch của môi trường pháp luật Có những Luật đã đượcban hành và có hiệu lực nhưng Nghị định và Thông tư hướng dẫn ban hành chậm làmảnh hưởng tới quá trình thực hiện các thủ tục xin phép đầu tư cũng như quá trình vậnhành doanh nghiệp trong quá trình hoạt động, chẳng hạn Luật Bảo vệ môi trường đượcthông qua vào ngày 23/6/2014, có hiệu lực ngày 1/1/2015 nhưng phải chờ đến ngày
Trang 38xin đăng ký, xác nhận kế hoạch bảo vệ môi trường của các cơ sở kinh doanh mới đềukhông được xử lý với lý do chưa có văn bản hướng dẫn.
2.1.4 Thủ tục hành chính
Ngay từ khi bắt đầu thực hiện chính sách đổi mới, mở cửa, Ðảng và Nhà nướcViệt Nam đã quan tâm đến việc cải cách thủ tục hành chính Nghị quyết Đại hội VI đãchủ trương thực hiện một cuộc cải cách lớn về bộ máy Nhà nước Bộ máy Nhà nước đãđược sắp xếp lại nhưng còn quá cồng kềnh Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế xãhội đến năm 2000 được thông qua tại Đại hội VII, mong muốn cải cách hành chínhnhằm “xây dựng một hệ thống hành chính và quản lý nhà nước thông suốt, có đủ quyềnlực, năng lực, hiệu quả” Bộ máy Nhà nước được sắp xếp lại lần thứ hai kể từ Đại hội
VI Năm 1994, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 38/CP về cải cách một bước thủ tụchành chính trong việc giải quyết công việc của công dân và tổ chức Nghị quyết Hộinghị Trung ương 8 khóa VII lần đầu tiên đề cập tới 3 nội dung chủ yếu của cải cáchhành chính nhà nước, gồm: cải cách thể chế nền hành chính, tổ chức bộ máy và xâydựng đội ngũ cán bộ, công chức Nghị quyết Đại hội Đảng VIII đặt ra yêu cầu cải cáchhành chính đồng bộ, dựa trên cơ sở pháp luật Nghị quyết cũng đề cập tới 4 nội dung bổsung quan trọng về định hướng cải cách, đó là: phân định rõ quyền và trách nhiệm củatừng cấp hành chính; tiếp tục nghiên cứu cụ thể hóa việc phân cấp quản lý nhà nướcgiữa cơ quan của chính phủ với chính quyền tỉnh, thành phố; đổi mới chế độ công chức,công vụ; thành lập Tòa án hành chính và thực hiện xã hội hóa với một số hoạt độngthuộc lĩnh vực dịch vụ công Nghị quyết hội nghị Trung ương 3 khóa VIII chú trọng đếnnhiệm vụ xây dựng đội ngũ công chức có phẩm chất, năng lực, được sắp xếp điều độngtheo nhu cầu và lợi ích của đất nước Đến Đại hội IX cũng đưa ra giải pháp về cải cáchhành chính, như: phân công, phân cấp; tách cơ quan hành chính công quyền với tổ chức
sự nghiệp, dịch vụ công; tách chức năng quản lý nhà nước với điều hành hoạt động sảnxuất kinh doanh; xây dựng đội ngũ công chức trong sạch, có năng lực; chống quan liêu,tham nhũng Nghị quyết Đại hội Đảng X cũng tiếp tục thực hiện cải cách thủ tục hànhchính
Chính phủ đã ban hành Chương trình Tổng thể cải cách nền hành chính giai đoạn2001-2010 Chương trình này thể hiện nỗ lực của Chính phủ trong cải cách hành chính.Mục tiêu của chương trình là xây dựng “một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vữngmạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hoá hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc của
Trang 39nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng; và xây dựng đội ngũcông chức có phẩm chất và năng lực đáp ứng được công cuộc xây dựng và phát triểncủa đất nước” Chương trình đã lần đầu đưa ra 4 nội dung cải cách: cải cách thể chế, cảicách cơ cấu tổ chức, đội ngũ cán bộ công chức và cải cách tài chính công Bằng hànhđộng, ngay trong năm 2002, Chính phủ đã thực hiện một số cải cách về môi trườngpháp luật, bao gồm: sửa đổi Hiến pháp và Luật Tổ chức chính phủ nhằm sắp xếp lại cơcấu tổ chức cán bộ; ban hành Nghị định số 86/2002/NĐ-CP về việc quy định chứcnăng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ, cơ quan ngang bộ thay thế Nghịđịnh 15/CP; Nghị định số 12/CP quy định các tỉnh được cơ cấu bộ máy cấp huyện;Nghị định số 10/2002/NĐ- CP về chế độ tài chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu;Nghị định số 59/2002/NĐ-CP về việc bãi bỏ một số giấy phép và thay thế một số giấyphép bằng phương thức quản lý khác do Chính Phủ ban hành; Quyết định 74/QĐ về quyhoạch tổng thể công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức cho giai đoạn 2001-2005.
Về cải cách thể chế, chính phủ đã rà soát lại tất cả các văn bản quy phạm pháp luật vàthực hiện bãi bỏ, chỉnh sửa, và ban hành văn bản quy phạm pháp luật mới nên chấtlượng của văn bản đã được nâng lên Ví dụ, Thành phố Hồ Chí Minh có tỷ lệ văn bảnsai soát giảm dần, năm 1998 tỷ lệ sai soát là 40%, năm 1999 là 51%, năm 2001 chỉ còn17,8%, năm 2002 là 16%, từ năm 2003 đến năm 2005 còn 9% Thủ tục hành chính từngbước đơn giản hóa và các thủ tục hành chính không cần thiết được bãi bỏ Mặc dù, sốthủ tục hành chính sau 2 năm thực hiện Luật DN được rà soát chỉ là 400, có đến 160 thủtục được loại bỏ hoặc thay thế với quy trình đăng ký đơn giản hơn
Một điểm quan trọng về cải cách thể chế và thủ tục hành chính, nhiều địaphương đã áp dụng cơ chế “một cửa” để giải quyết thủ tục hành chính Thành phố HồChí Minh là địa phương đi đầu trong cải cách thủ tục hành chính Từ năm 1996, thànhphố Hồ Chí Minh là địa phương đầu tiên trong cả nước đã thực hiện thí điểm cải cáchhành chính theo mô hình “một cửa, một dấu” Tuy nhiên, cơ chế một cửa chỉ được thựchiện ở một cơ quan giải quyết thủ tục hành chính, còn về phía nhà đầu tư vẫn chưa phải
là một cửa trong giải quyết thủ tục hành chính vì nhà đầu tư phải tiếp xúc với nhiều cơquan, nhiều cửa Để khắc phục hạn chế này, một số địa phương trong cả nước đã thíđiểm mô hình “một cửa liên thông” như Hồ Chí Minh, Hà Nội Đến năm 2007, Hà Nội
có 4 mô hình “một cửa liên thông”: cấp phép quảng cáo do Sở VHTT làm đầu mối;thẩm định dự án có sử dụng đất do Sở Tài nguyên Môi trường và Nhà đất làm đầu mối;thủ tục đầu tư xây dựng cơ bản và thủ tục đăng ký kinh doanh-cấp con dấu, cấp mã số
Trang 40thuế do Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì Cả 4 mô hình này đều đã được nhà đầu tư đánhgiá là có cải thiện Thời gian và chi phí của nhà đầu tư được giảm đi, mô hình liên thônggiải quyết thủ tục hành chính đã giảm thời gian cho chủ đầu tư từ 1-2 năm xuống chỉcòn 5-6 tháng; giảm từ 15 xuống còn 4 đầu mối thủ tục 6 tháng đầu năm 2007, SởKHĐT đã giải quyết 16.000 hồ sơ, tăng 4.000 hồ sơ so với cùng kỳ năm 2006 Để cóđược kết quả đó là do tác phong làm việc của công chức đã thay đổi theo hướng phục vụDN; và sự phối hợp giữa các quận, huyện với các sở, ngành Tuy nhiên, cơ chế “mộtcửa liên thông” vẫn chưa thật sự thông do chưa có chế tài cụ thể xử lý cán bộ, cơ quangây ắc tắt trong giải quyết thủ tục hành chính, do sự phức tạp của chính các quy định vềthủ tục hành chính, do thiếu số lượng và hạn chế về trình độ cán bộ Theo Giám đốc Sở
Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội Triệu Đình Phúc, việc trả lời hồ sơ theo cơ chế “một cửaliên thông” của các cơ quan liên quan chậm 10-15 ngày là bình thường
Về cải cách cơ cấu tổ chức, năm 8/2002, giảm số lượng các cơ quan trựcthuộc chính phủ từ 23 xuống còn 13 và số lượng cơ quan ngang bộ tăng thêm 3 bộthành 26 bộ Các địa phương cũng củng cố, sắp xếp lại bộ máy chính quyền địa phương.Tuy nhiên, cơ cấu tổ chức còn nhiều tồn tại: chức năng, nhiệm vụ giữa các ngành cònchồng chéo, mối quan hệ giữa các ngành các cấp chưa chặt chẽ, đồng bộ Về cán bộcông chức, việc đào tạo cán bộ công chức cũng đã được chú trọng nhưng còn chưa cótính hệ thống, còn thụ động Trình độ, phong cách làm việc của công chức còn hạn chế,thiếu chuyên nghiệp Tình trạng nhũng nhiễu, tham nhũng vẫn còn tồn tại
Về cải cách tài chính công, bên cạnh thực hiện Nghị định số 10/2002/NĐ- CP,nhiều địa phương trong cả nước đã thí điểm khoán biến chế nhằm tăng cường khai thácnguồn thu, tăng thu nhập cho cho công chức nhằm tăng hiệu quả công việc, tăng hiệuquả giải quyết thủ tục hành chính Thành phố Hồ Chí Minh là địa phương đầu tiên đượcthí điểm thực hiện khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính từ năm 2000 Kinhphí được tiết kiệm của khối sở ngành năm 2003 - 2004 là 12 tỷ đồng (18,8%) và củakhối quận, huyện là 42,7 tỷ đồng (23,59%)
Tiếp tục chủ trương cải cách hành chính, ngày 10/1/2007, Chính phủ đã banhành Quyết định số 30 phê duyệt Ðề án đơn giản hóa thủ tục hành chính trên các lĩnhvực quản lý nhà nước giai đoạn 2007 - 2010 (còn gọi là Ðề án 30) “Ðề án 30 được triểnkhai nhằm bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ, đơn giản, công khai, minh bạch của thủ tụchành chính; tạo sự thuận lợi cho cá nhân, tổ chức và DN trong tiếp cận và thực hiện thủ