2 BỘ TƯ PHÁP ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI MÔN HỌC BẢO HỘ QUỐC TẾ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ ĐỀ TÀI Trình bày hiểu biết của anh chị về Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh Châu Âu (EVFTA) Những cơ hội, thá.
Trang 1ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
MÔN HỌC: BẢO HỘ QUỐC TẾ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ
ĐỀ TÀI: Trình bày hiểu biết của anh chị về Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh Châu Âu (EVFTA) Những cơ hội, thách thức, kiến nghị và đề xuất
khi Việt Nam tham gia Hiệp định này
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
Mã sinh viên:
Lớp:
Hà Nội, Tháng 11/2022
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
NỘI DUNG 4
I Một số vấn đề lý luận chung về tự do hóa thương mại 4
II Một số hiểu biết về Hiệp định thương mại tự do VN - Liên minh Châu Âu 5
1 Lịch sử hình thành Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh Châu Âu (EVFTA) 5
2 Một số nội dung nổi bật trong Hiệp định EVFTA 6
3 Tầm quan trọng của EVFTA 9
4 So sánh Hiệp định này với các hiệp định thương mại khác 10
III Thách thức và cơ hội khi VN tham gia Hiệp định EVFTA 12
1 Thách thức của Việt Nam khi tham gia Hiệp định tự do thương mại Việt Nam - Liên minh Châu Âu 12
2 Những cơ hội khi Việt Nam tham gia Hiệp định EVFTA 15
D Đề xuất khi Việt Nam tham gia EVFTA 21
1 Về góc độ quốc gia: 22
2 Về góc độ doanh nghiệp: 22
3 Đề xuất riêng về lĩnh vực sở hữu trí tuệ 23
KẾT LUẬN 26
Trang 3
MỞ ĐẦU
Hội nhập là xu thế tất yếu, không quốc gia nào có thể nằm ngoài xu thế này Với phươngchâm hội nhập quốc tế sâu rộng, Việt Nam ngày càng tích cực tham gia vào các hợp tác songphương và đa phương để tiếp cận các thị trường nước ngoài phục vụ mục tiêu xây dựng và pháttriển đất nước Kể từ khi chính thức có hiệu lực vào ngày 1-8-2021, Hiệp định thương mại tự doViệt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA) đã thúc đẩy mạnh mẽ các hoạt động kinh tế, thươngmại, chính trị của Việt Nam Sau hơn một năm thực thi Hiệp định, kim ngạch thương mại xuấtnhập khẩu giữa Việt Nam - EU đã tăng 18% Việt Nam xuất siêu sang EU hơn 11 tỷ USD, trong
đó bao gồm nhiều mặt hàng thế mạnh như dệt may, da giày, nông thủy sản Việt Nam đã tậndụng tốt lợi thế ở cả mảng nhập khẩu và xuất khẩu
Tuy nhiên, bên cạnh những lợi thế đã được tận dụng tốt, Việt Nam còn phải đối mặt với một
số khó khăn trong quá trình thực thi Hiệp định, như những quy định liên quan đến nguồn gốcxuất xứ, thực thi pháp luật, sở hữu trí tuệ và tiêu chuẩn môi trường , những vấn đề này sẽ mangđến thách thức nhất định cho sự phát triển kinh tế và xã hội của Việt Nam Do đó, bài viết dướiđây sẽ nêu ra một số nội dung về Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh Châu Âu(EVFTA) cũng như nêu ra một số cơ hội, thách thức và đề xuất kiến nghị với cơ quan quản lýnhà nước, cơ quan hoạch định chính sách khi Việt Nam tham gia Hiệp định này
Trang 4NỘI DUNG
I Một số vấn đề lý luận chung về tự do hóa thương mại
Việc buôn bán, trao đổi hàng hoá và tiền tệ là hoạt động đã xảy ra từ lâu Dù vậy, trướcChiến tranh thế giới thứ 2, hiệp định thương mại giữa các quốc gia còn tồn tại nhiều hạn chế vớinhiều rào cản thương như đánh thuế cao lên các mặt hàng xuất khẩu, nhập khẩu Lợi ích của việcthương mại tự do chưa thực sự được công nhận, các quốc gia đã “tự cô lập” chính mình Ngàynay với sự phát triển mạnh mẽ của toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế, tự do hoá thương mại là một
điều hiển nhiên và tất yếu trong dòng chảy nền kinh tế thị trường WTO cho rằng tự do hoá
thương mại là quá trình dỡ bỏ mọi rào cản đối với thương mại, bao gồm thuế quan và phi thuế quan, trước hết nhằm đạt được sự đối xử công bằng giữa hàng hoá và dịch vụ sản xuất trong nước với hàng hoá và dịch vụ nhập khẩu từ nước ngoài, giữa các nhà sản xuất trong nước với những nhà sản xuất nước ngoài, và sau cùng là đạt được chế độ tự do thương mại 1 Như vậy, cóthể hiểu ngắn rằng tự do hoá thương mại là loại bỏ hoặc giảm bớt các rào cản thương mại nhưthuế quan, hạn ngạch, … trong quá trình trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia Dù tự do hoáthương mại đang là xu thế toàn cầu, vẫn còn nhiều quốc gia thực hiện chính sách bảo hộ thươngmại Đã có rất nhiều học thuyết kinh tế khác nhau ra đời phân tích, giải thích và có những quanđiểm bổ trợ hoặc thậm chí là khác nhau, đối lập
Châu Âu vào thế kỷ XV với học thuyết đầu tiên xuất hiện: Chủ nghĩa trọng thương Tư
tưởng trọng thương sùng bái sức mạnh của đồng tiền, hay chính là vàng bạc - thứ mà các nhàkinh tế học trọng thương cho rằng đây là thước đo sự giàu có của một quốc gia Để giàu có hơn,các quốc gia cần sản xuất càng nhiều hàng hoá càng tốt và giảm tối thiểu sự phụ thuộc vào hànghoá nhập khẩu từ nước ngoài Sau này chủ nghĩa này sụp đổ và có sự thay đổi về quan điểm, dẫuvậy đây vẫn là lý luận kinh tế đầu tiên của giai cấp tư sản, cho thấy sự nghiên cứu về ngoạithương, bứt phá so với tư tưởng phong kiến lúc bấy giờ với nền kinh tế tự cung, tự cấp
Trong sách Sự giàu có của một quốc gia (Wealth of Nations) của mình, Adam Smith đã cho
rằng “Quan điểm lý luận của chủ nghĩa trọng thương là ngây thơ “và cho ra đời tư tưởng so sánh
lợi thế tuyệt đối Ông lập luận mỗi nước lại có một thế mạnh khác nhau ở các lĩnh vực cụ thể.
1 Bùi Hồng Cường (2016) Tự do hóa thương mại trong khuôn khổ cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) và tác động tới thương mại quốc tế của Việt Nam Luận án tiến sỹ, Đại học Quốc gia Hà Nội, Việt Nam
Trang 5Do vậy họ nên tập trung vào thế mạnh của mình để sản xuất và xuất khẩu, sau đó trao đổi hànghoá cho nhau - sự to do trao đổi giữa các quốc gia Lý thuyết của Smith về so sánh tuyệt đối đãthuyết phục hầu hết giới kinh tế Ông còn cho rằng việc một quốc gia cố gắng sản xuất một sảnphẩm vốn có thể được sản xuất một cách rẻ hơn ở các nước khác là một hành vi không năng suất.Đây cũng chính là một lỗ hổng giữa các quốc gia phát triển và các quốc gia chưa phát triển Nhằm khắc phục hạn chế đó của lý thuyết lợi thế tuyệt đối và dựa vào lý luận cơ sở của
Adam Smith, David Ricardo đã đưa ra lý thuyết lợi thế so sánh tương đối Lợi thế tuyệt đối của
các quốc gia là không nhiều, phần lớn họ đều trao đổi hàng hoá không chỉ là loại mặt hàng họ cólợi thế tuyệt đối mà còn cả những loại hàng hoá với lợi thế tương đối Theo đó cả hai quốc gia sẽlợi từ thương mại quốc tế; dù có quốc gia này kém hơn quốc gia khác trong việc sản xuất cả hailoại hàng hoá
Các học thuyết trên vẫn có giá trị tới tận bây giờ, thậm chí các cuộc tranh luận về tự dothương mại hay bảo hộ kinh tế vẫn còn diễn ra một cách sôi nổi Nói tóm lại, tự do thương mại làmột điều tất yếu mà bất kỳ quốc gia nào cần có Việc dỡ bỏ các chướng ngại vật sẽ giúp lưuthông quá trình trao đổi và tạo ra càng nhiều của cải vật chất cho các quốc gia.2
II Một số hiểu biết về Hiệp định thương mại tự do VN - Liên minh
Châu Âu
1 Lịch sử hình thành Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh Châu Âu (EVFTA)
Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) là một FTA thế hệ mới giữa Việt Nam và
27 nước thành viên EU EVFTA, cùng với Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ Xuyên TháiBình Dương (CPTPP), là hai FTA có phạm vi cam kết rộng và mức độ cam kết cao nhất của ViệtNam từ trước tới nay
Ngày 02/12/2015, dưới sự chứng kiến của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam và Chủ tịch Ủy banChâu Âu, Bộ trưởng Bộ Công Thương Việt Nam và Cao ủy Thương mại EU đã ký
Tuyên bố về việc chính thức kết thúc đàm phán Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam vàLiên minh Châu Âu (Hiệp định EVFTA) Đến ngày 01/02/2016, văn bản hiệp định được chínhthức công bố Vào ngày 26/06/2018, một bước đi mới của EVFTA được thống nhất Theo đó,
2 Nguyễn Xuân Thiên, Lý thuyết lợi thế so sánh và gợi ý đối với Việt Nam trong bối cảnh phát triển hiện tại.
Trang 6EVFTA được tách làm hai Hiệp định là Hiệp định Thương mại (EVFTA) và Hiệp định Bảo hộĐầu tư (EVIPA), đồng thời chính thức kết thúc quá trình rà soát pháp lý đối với Hiệp địnhEVFTA Tháng 08/2018, quá trình rà soát pháp lý đối với EVIPA cũng được hoàn tất
Hai Hiệp định được ký kết ngày 30/06/2019 EVFTA và EVIPA được phê chuẩn bởi Nghị việnchâu Âu vào ngày 12/2/2020, và được Quốc hội Việt Nam phê chuẩn vào ngày 8/6/2020 Ngày30/3/2020, Hội đồng châu Âu cũng đã thông qua EVFTA Đối với EVFTA, do đã hoàn tất thủtục phê chuẩn, Hiệp định này đã chính thức có hiệu lực từ ngày 1/8/2020 Đối với EVIPA, vềphía EU, Hiệp định sẽ còn phải được sự phê chuẩn tiếp bởi Nghị viện của tất cả 27 nước thànhviên EU mới có hiệu lực.3
2 Một số nội dung nổi bật trong Hiệp định EVFTA
Các lĩnh vực cụ thể a Thương mại hàng hóa
Đối với xuất khẩu của Việt Nam, ngay khi Hiệp định có hiệu lực, EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩuđối với khoảng 85,6% số dòng thuế, tương đương 70,3% kim ngạch xuất khẩu của Việt Namsang EU Sau 07 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với99,2% số dòng thuế, tương đương 99,7% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam Đối với khoảng0,3% kim ngạch xuất khẩu còn lại, EU cam kết dành cho Việt Nam hạn ngạch thuế quan với thuếnhập khẩu trong hạn ngạch là 0%
Về thuế xuất khẩu, Việt Nam cam kết xóa bỏ phần lớn thuế xuất khẩu sau lộ trình nhất định; chỉbảo lưu thuế xuất khẩu đối với một số sản phẩm quan trọng, trong đó có dầu thô và than đá Các nội dung khác liên quan tới thương mại hàng hóa: Việt Nam và EU cũng thống nhất các nộidung liên quan tới thủ tục hải quan, SPS, TBT, phòng vệ thương mại, v.v, tạo khuôn khổ pháp lý
để hai bên hợp tác, tạo thuận lợi cho xuất khẩu, nhập khẩu của các doanh nghiệp
b Thương mại dịch vụ và đầu tư
Cam kết của Việt Nam và EU về thương mại dịch vụ đầu tư nhằm tạo ra một môi trường đầu tưcởi mở, thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp hai bên Cam kết của Việt Nam có đi xahơn cam kết trong WTO Cam kết của EU cao hơn trong cam kết trong WTO và tương đươngvới mức cam kết cao nhất của EU trong những Hiệp định FTA gần đây của EU
3 Trung tâm WTO và Hội nhập - VCCI, “Việt Nam - EU (EVFTA)”, evfta/
Trang 7https://trungtamwto.vn/fta/199-vietnam eu-Các lĩnh vực mà Việt Nam cam kết thuận lợi cho các nhà đầu tư EU gồm một số dịch vụ chuyênmôn, dịch vụ tài chính, dịch vụ viễn thông, dịch vụ vận tải, dịch vụ phân phối Hai bên cũng đưa
ra cam kết về đối xử quốc gia trong lĩnh vực đầu tư, đồng thời thảo luận về nội dung giải quyếttranh chấp giữa nhà đầu tư và nhà nước
EVFTA dành riêng một Chương gồm 63 Điều, 2 Phụ lục (12-A và 12-B) cam kết về
SHTT, trong đó có các điều khoản liên quan tới điều kiện bảo hộ các đối tượng quyền SHTT nhưbản quyền tác giả, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, thông tin bí mật,giống cây trồng; nguyên tắc bảo hộ quyền SHTT; phạm vi quyền SHTT; thực thi quyền SHTT
Về cơ bản, các quy định về nguyên tắc tối huệ quốc trong Hiệp định này đảm bảo dành cho các
tổ chức, cá nhân của EU cũng như Việt Nam hưởng những lợi ích về tiêu chuẩn bảo hộ cao đốivới các đối tượng quyền SHTT theo Hiệp định của WTO về các khía cạnh liên quan tới thươngmại của quyền SHTT (TRIPs) Có thể nói, các cam kết về SHTT trong EVFTA mang tính toàndiện hơn, phạm vi các vấn đề điều chỉnh đa dạng, bao trùm nhiều lĩnh vực hơn so với trước đây
- Về quy định chung, theo EVFTA, các chính sách, quy định liên quan tới SHTT phải đượcminh bạch hóa hơn nữa, như phải công bố trên internet các quy định của pháp luật, các thủtục, quy trình, quyết định liên quan đến xác lập và thực thi quyền
Trang 8định về việc công nhận và bảo hộ 169 chỉ dẫn địa lý (rượu vang, rượu mạnh và các mặthàng nông sản khác) của EU với mức bảo hộ cao - vốn chỉ dành riêng cho rượu vang,rượu mạnh và 39 chỉ dẫn địa lý của Việt Nam cho các sản phẩm khác nhau (Điều 12.25).Đối với nhãn hiệu, độc quyền có thể bị chấm dứt hiệu lực nếu sau ngày đăng ký, nhãnhiệu trở thành tên gọi chung của hàng hóa hoặc dịch vụ được đăng ký (Điều 12.22) Đốivới kiểu dáng công nghiệp, hình dáng của toàn bộ sản phẩm hoặc của một phần sản phẩm
có thể tách rời và/hoặc không thể tách rời của bộ phận sản phẩm đều có khả năng đượcbảo hộ nếu pháp luật quốc gia cho phép (Điều 12.35), miễn là nhìn thấy được trong quátrình sử dụng thông thường (sử dụng bởi người sử dụng cuối cùng, không bao gồm việcbảo trì, cung cấp dịch vụ hoặc sửa chữa)
- Về chế độ thực thi quyền SHTT, EVFTA đòi hỏi các hành vi xâm phạm quyền SHTT phảiđược xử lý bằng các biện pháp dân sự, hành chính và hình sự Trong đó, đối với kiểm soátbiên giới, Hiệp định này yêu cầu cơ quan hải quan chủ động kiểm soát hàng hóa nhậpkhẩu, xuất khẩu bị nghi ngờ xâm phạm quyền SHTT trên cơ sở kỹ thuật phân tích rủi ro
mà không cần phải có yêu cầu của chủ thể quyền SHTT (Điều 12.59), giúp các cơ quanhải quan chủ động hơn trong hoạt động kiểm tra, giám sát chứ không chỉ phát hiện, xácđịnh hàng hóa xâm phạm và phối hợp với chủ thể quyền như quy định hiện nay EVFTAcũng quy định rằng cơ quan tư pháp có quyền yêu cầu bên thua kiện phải trả cho bênthắng kiện các chi phí tòa án và phí thuê luật sư hợp lý, hoặc các chi phí khác theo quyđịnh của pháp luật (Điều 12.52)
- Việc thực hiện nghiêm túc các cam kết về SHTT trong EVFTA sẽ góp phần thúc đẩy đổimới, chuyển giao và phổ biến công nghệ, bảo đảm sự cân bằng lợi ích giữa chủ thể quyềnSHTT và xã hội, tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chứađựng tài sản trí tuệ, phát triển kinh tế Việt Nam theo hướng bền vững và toàn diện Vì vậy,trong thời gian tới, Việt Nam cần tiếp tục nỗ lực trong việc hoàn thiện thể chế bảo hộSHTT, cải thiện hiệu suất và chất lượng xác
lập quyền SHTT, nâng cao hiệu lực bảo vệ quyền SHTT và nhận thức của công chúng vềSHTT.4
4 https://vjst.vn/vn/tin-tuc/4120/mot-so-van-de-so-huu-tri-tue-trong-hiep-dinh-evfta.aspx
Trang 9e Các nội dung khác
Hiệp định EVFTA cũng bao gồm các Chương liên quan tới cạnh tranh, doanh nghiệp nhà nước,phát triển bền vững, hợp tác và xây dựng năng lực, pháp lý-thể chế Các nội dung này phù hợpvới hệ thống pháp luật của Việt Nam, tạo khuôn khổ pháp lý để hai bên tăng cường hợp tác, thúcđẩy sự phát triển của thương mại và đầu tư giữa hai Bên
Ràng buộc pháp lý đối với Việt Nam
Để EU có thể thông qua EVFTA, Việt Nam phải chấp nhận tất cả tám Tiêu chuẩn cơ bản
(công ước) của Tổ chức Lao động thế giới (ILO) liên quan đến quyền của người lao động Ngày14.6.2019, Quốc hội Việt Nam thông qua Công ước số 98 của Tổ chức Lao động Quốc tế vềQuyền tổ chức và thương lượng tập thể: bảo vệ người lao động và cán bộ công đoàn không bịphân biệt đối xử tại nơi làm việc, đảm bảo cho các tổ chức đại diện của người lao động và người
sử dụng lao động không bị can thiệp hoặc chi phối từ bên còn lại; và yêu cầu nhà nước cần có cácbiện pháp về pháp luật và thiết chế nhằm thúc đẩy thương lượng tập thể
Ngày 20 tháng 11 năm 2019 Quốc hội Việt Nam đã sửa đổi Luật lao động, cho phép thành lậpcông đoàn độc lập trên phương diện cơ sở mà không phải liên kết với Tổng Liên đoàn Lao độngViệt Nam, sẽ có hiệu lực vào ngày 1.1.2021 Erwin Schweisshelm, cựu giám đốc của QuỹFriedrich-Ebert ở Việt Nam cho việc này là phá vỡ điều cấm của một hệ thống Leninist và phảiđợi xem nó được thi hành như thế nào trên thực tế Trong nội dung hiệp định, có cho phép thànhlập các tổ chức công đoàn cơ sở, rồi đến năm 2023, thì Việt Nam sẽ ký công ước cuối cùng củaILO (Tổ chức Lao động Quốc tế), là Công ước 87, cho phép thành lập công đoàn từ cấp cơ sởđến cấp toàn quốc
Ngày 8 tháng 6 năm 2020, Quốc Hội Việt Nam phê chuẩn Công ước 105, công ước thứ 7 về laođộng Như vậy, cho tới nay Việt Nam đã phê chuẩn 7 trong số 8 tiêu chuẩn này, còn thiếu tiêuchuẩn 87 (tự do hiệp hội và Bảo vệ quyền lập hội).5
3 Tầm quan trọng của EVFTA
Đến nay, Việt Nam đã ký kết 12 Hiệp định thương mại tự do (FTA), trong đó có nhiều FTA thế
hệ mới, nhưng EVFTA có nhiều khác biệt, có vai trò rất quan trọng với nền kinh tế Việt Nam Vàkhi Việt Nam đạt được một trình độ nhất định, hiệp định này sẽ giúp sản phẩm, dịch vụ của ViệtNam cạnh tranh được ở châu Âu, tham gia chuỗi giá trị Hiệp định này sẽ tạo ra tiếng vang, đột
5 phap-ly-doi-voi-viet-nam.aspx
Trang 10https://luatminhkhue.vn/noi-dung-hiep-dinh-thuong-mai-tu-do-lien-minh-chau-au-viet-nam-evfta-varang-buoc-phá, tạo nền tảng cho sự phát triển và tiến bộ xã hội, đồng thời giúp hoàn thiện khuôn khổ pháp
lý và thể chế EVFTA cũng sẽ củng cố vị thế của Việt Nam và đưa nước này trở thành một quốcgia có trách nhiệm hơn
Bằng những cam kết cạnh tranh toàn diện, Hiệp định EVFTA tạo ra khuôn khổ pháp lý và cơ chếcho phép các công ty thực hiện các hoạt động kinh doanh, thương mại và đầu tư tại các nướcthành viên một cách công bằng, bình đẳng và không phân biệt đối xử Các cam kết cạnh tranhcủa EVFTA tạo ra môi trường cạnh tranh hiệu quả cho tất cả các bên tham gia sản xuất và kinhdoanh trên thị trường, thúc đẩy hiệu quả kinh tế và phúc lợi của người tiêu dùng Mặt khác, chínhsách cạnh tranh và các cam kết pháp lý trong EVFTA là công cụ pháp lý hữu hiệu để bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của các công ty trên lãnh thổ của các quốc gia thành viên.6
Trong sự bùng phát của đại dịch COVID-19 và những diễn biến phức tạp đã ảnh hưởng xấu đếnhoạt động thương mại và đầu tư không chỉ ở Việt Nam mà trên toàn cầu, dẫn đến suy giảmthương mại toàn cầu, nhiều thị trường đã thắt chặt các hàng rào phi thuế quan trong nước, do đóviệc thực hiện Hiệp định EVFTA là rất quan trọng để bù đắp sự giảm sút của nền kinh tế, tạo cơhội thị trường đa dạng hơn cho các doanh nghiệp và giúp các doanh nghiệp lấy lại đà tăng trưởngsau đại dịch Ngoài ra, đây là cơ hội cho các công ty tham gia vào các chuỗi cung ứng mới đểthay thế các chuỗi cung ứng truyền thống đã bị gián đoạn hoặc ngừng hoạt động do sự bùng phátCOVID-19.7
4 So sánh Hiệp định này với các hiệp định thương mại khác
Sự khác biệt chủ yếu giữa EVFTA và các hiệp định thương mại khác là hiệp định này toàn diệnhơn khi xét về cải cách thể chế Các hiệp định thương mại trước đó và việc tham gia vào WTO đaphần mang tính chất là những cam kết có ý nghĩa rỡ bỏ các rào cản, chú trọng vào việc mở cửathị trường trao đổi hàng hóa hay mở cửa thị trường Việt Nam cho doanh nghiệp nước ngoài Xét
về thương mại hàng hóa, tiến trình này được minh họa bằng việc giảm thuế Trên phương diệngia nhập thị trường của các nhà đầu tư nước ngoài, mục tiêu là tạo ra sân chơi bình đẳng cho cảdoanh nghiệp trong nước và nước ngoài trên cơ sở từng ngành
6 Nhật Anh (2022), “Hiệp định EVFTA tạo môi trường cạnh tranh thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp”, Bộ Công Thương Việt Nam, 19/05/2022
7 A.N (2021), “EVFTA: Đòn bẩy thúc đẩy thương mại hai chiều”, Đảng Cộng sản Việt Nam, 28/12/2021
Trang 11Kết quả của nó là tạo ra tăng trưởng cho thị trường Việt Nam bằng việc nhanh chóng mở rộngxuất khẩu, đầu tiên là các hàng hóa chưa qua chế biến (các loại nông sản hàng hóa như lúa gạo,thủy sản và cà phê) và sau đó là các sản phẩm chế tạo (dệt may, nội thất và đồ điện tử) Quá trìnhchuyển đổi từ một quốc gia với lực lượng lao động nông nghiệp tay nghề thấp sang tay nghề caomang lại lợi ích cho nền kinh tế Việt Nam - mở ra nhiều lĩnh vực mới cho thương mại và đầu tư.EVFTA chính là bước tiếp theo của tiến trình này
Cơ hội mang tính chất quyết định đối với các công ty Việt Nam chính là sự bảo hộ dành cho hoạtđộng kinh doanh của họ và cả các doanh nghiệp nước ngoài Các cam kết của
EVFTA sẽ chuẩn hóa các quy định thương mại của Việt Nam với các quy định quốc tế bằngnhiều cách Việc chuyển đổi luật pháp như vậy sẽ tăng cường bảo đảm cho hoạt động đầu tư lâudài
Sự chuyển biến mạnh mẽ này có được từ việc làm rõ những quy định trong trao đổi thương mại
và trong việc tăng cường bảo đảm đầu tư, ví dụ như một hệ thống giải quyết tranh chấp sửa đổi
và quyền sở hữu trí tuệ
Do là quốc gia có nền nông nghiệp độc đáo và nhiều sản phẩm truyền thống, riêng khía cạnh nàycủa hiệp định sẽ giúp đảm bảo và thúc đẩy đầu tư vào Việt Nam Những tiến trình này tác độnglên toàn bộ phạm vi của hoạt động thương mại
Sở hữu trí tuệ, thuế, thông quan, và giải quyết tranh chấp công bằng sẽ khuyến khích các doanhnghiệp đa quốc gia cân nhắc và có khả năng mở rộng hoạt động kinh doanh tại Việt Nam
Hiệp định này sẽ mang lại lợi ích cho cả đôi bên đối với doanh nghiệp Việt Nam Không chỉ cóhoạt động kinh tế tăng cường từ các dự án đầu tư nước ngoài lớn hơn, mà các sản phẩm của các
dự án này sẽ tiếp cận được tới nhu cầu của người tiêu dùng Châu Âu mà trước kia chưa tiếp cậnđược Các quy định sức khỏe và an toàn rõ ràng liên quan tới xuất khẩu thực phẩm sẽ giúp doanhnghiệp Việt Nam ở mọi mức quy mô nắm được quá trình chính xác và vốn đầu tư cần có để tiếpcận thị trường Châu Âu.8
Sự khác biệt mức độ bảo hộ sở hữu trí tuệ giữa CPTPP và EVFTA
Cả 2 Hiệp định đều có mực độ bảo hộ cao đối với lĩnh vực sở hữu trí tuệ trên cơ sở hiệp địnhTRIPS của WTO Về mức độ cam kết cụ thể, có một số điểm khác biệt chính như:
8 Giới thiệu EVFTA là gì? Hiệp định thương mại tự do Việt Nam, http://thuvien.hlu.edu.vn › BaoCaoNghienCuu
Trang 12- Hiệp định EVFTA: về sáng chế, Hiệp định yêu cầu phải có cơ chế bù đắp thỏa đáng
cho trường hợp thời gian khai thác bằng sáng chế đã có hiệu lực bị rút ngắn vì chậm trễtrong khâu xử lý đơn xin cấp phép lưu hành thuốc Về kiểu dáng công nghiệp, thời hạnbảo hộ ít nhất 15 năm Về chỉ dẫn địa lý, chỉ áp dụng đối với các chỉ dẫn địa lý về rượuvang, sản phẩm nông nghiệp và thực phẩm Việt Nam cam kết công nhận và bảo hộ 169chỉ dẫn địa lý của EU (chủ yếu là chỉ dẫn địa lý dùng cho rượu và thực phẩm), và EUcông nhận và bảo hộ 39 chỉ dẫn địa lý của Việt Nam
- Hiệp định CPTPP: Về sáng chế, cam kết về đền bù thời gian khai thác bằng sáng
chế do chậm trễ trong khâu xử lý đơn xin cấp phép lưu hành thuốc đã được tạm hoãn Vềkiểu dáng công nghiệp, thời hạn bảo hộ là 10 năm Về chỉ dẫn địa lý, Hiệp định CPTPPkhông yêu cầu các bên phải bảo hộ là 10 năm Về chỉ dẫn địa lý, Hiệp định CPTPP khôngyêu cầu các bên phải bảo hộ cho một danh sách các chỉ dẫn địa lý nhất định như Hiệp địnhEVFTA Thay vào đó, các bên có thể bảo hộ chỉ dẫn địa lý qua hệ thống nhãn hiệu hoặcmột hệ thống riêng Về biện pháp thực thi, Hiệp định CPTPP có yêu cầu xử lý hình sự đốivới một số hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, trong khi EVFTA không yêu cầu chế tàihình sự
III Thách thức và cơ hội khi VN tham gia Hiệp định EVFTA
1 Thách thức của Việt Nam khi tham gia Hiệp định tự do thương mại Việt Nam - Liên minh Châu Âu
Thứ nhất, Việt Nam phải đối mặt với áp lực cạnh tranh hàng hóa trong nước do hàng hóa
chất lượng cao từ Châu Âu được mở rộng vào thị trường Việt Nam Hàng hóa của EU sẽ giảmgiá mạnh do không phải chịu thuế nhập khẩu, dẫn đến những cạnh tranh về giá sản phẩm ngaytrên thị trường nước nhà
Thứ hai, về nền tảng của các doanh nghiệp, EU có thể dễ dàng thành lập các doanh nghiệp
100% vốn nước ngoài hoạt động ở Việt Nam và tham gia vào các lĩnh vực hiện nay mà Việt Namchưa hề có thế mạnh, hoặc mới chỉ đang trong giai đoạn phát triển ban đầu
Thứ ba, về tiến bộ khoa học - kỹ thuật: EVFTA được coi là cơ hội, ngược lại cũng nêu lên
nhiều thách thức lớn cho rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam khi mà Việt Nam sở hữu chủ yếu làdoanh nghiệp nhỏ và vừa, vốn ít, không đủ sức để thay đổi công nghệ một cách nhanh chóng
Trang 13Thứ tư, về quy tắc xuất xứ, nguyên liệu: Việt Nam gặp khó khăn trong việc đảm bảo quy
tắc xuất xứ của EVFTA EU có thu nhập đầu người cao, mức sống cao, dẫn đến việc thị trườngnơi đây vô cùng khó tính, đòi hỏi chất lượng hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam phải đáp ứng cáctiêu chuẩn của các quốc gia EU
Thứ năm, về nguy cơ đối với các biện pháp phòng vệ thương mại: Nhiều doanh nghiệp ở
thị trường nhập khẩu có xu hướng sử dụng nhiều hơn các biện pháp chống bán phá giá, chống trợcấp hay tự vệ để bảo vệ ngành sản xuất nội địa, dẫn đến hệ quả Việt Nam sẽ có thể lúng túng vềmặt pháp lý
Thứ sáu, về nguy cơ trong nhận diện thương hiệu: Các mặt hàng của Việt Nam chưa có sự
thu hút trong lĩnh vực quảng bá, độ nhận diện thương hiệu chưa cao, hiệu quả của công tác PR,xúc tiến thương mại tương đối hạn chế nên đây cũng là một thách thức không hề nhỏ
Thứ bảy, về việc sử dụng lao động: Ở Việt Nam, các doanh nghiệp vẫn tồn tại vướng mắc
khi áp dụng các tiêu chuẩn lao động Những vướng mắc phổ biến có thể kể đến như: người laođộng làm thêm quá số giờ quy định, quy định về nghỉ tuần, nghỉ lễ, môi trường làm việc, vệ sinh
an toàn lao động, quyền tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đầy
đủ…
Thứ chín, về vấn đề bảo vệ môi trường: Việt Nam còn thiếu kinh nghiệm trong vấn đề
thực hiện các nghĩa vụ về môi trường trong khuôn khổ các ràng buộc và điều chỉnh thương mại
Từ thực trạng trên đã và đang đặt ra những thách thức không nhỏ cho Việt Nam 9
Đặc biệt, về phương diện sở hữu trí tuệ, Việt Nam khi tham gia Hiệp định tự dothương mại Việt Nam - Liên minh Châu Âu mang những thách thức cụ thể sau:
Hiện nay, pháp luật Việt Nam quy định việc thực thi quyền SHTT bằng các biện pháp dân
sự, hình sự và hành chính Nhưng thực tế chỉ rằng, việc thực thi bảo hộ quyền SHTT chưa thật sựhiệu quả Hầu như chỉ có biện pháp hành chính là được áp dụng chủ yếu Tuy nhiên, hiệu quả cácbiện pháp hành chính cũng tương đối hạn chế do có nhiều lực lượng tham gia như hải quan,thanh tra chuyên ngành, quản lý thị trường và công an kinh tế, nhưng không xác định rõ ràng cơquan nào làm đầu mối và chưa có sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa các cơ quan với nhau
9 Tham khảo từ cách nguồn: ThS Tô Lê Nguyên Khoa, Phân tích những cơ hội và thách thức khi Việt Nam gia nhập
Hiệp định EVFTA; Phan Linh, Tác động của các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đến việc phát triển công nghiệp vật liệu của Việt Nam; Nguyễn Thanh Nga, Lê Thị Bích Ngọc, EVFTA: Cơ hội, thách thức và những giải pháp cho Việt Nam trong thời gian tới.