MỤC LỤC MỤC LỤC 1 DANH SÁCH THÀNH VIÊN 2 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3 DANH MỤC BẢNG BIỂU 4 TÓM TẮT 5 1. Giới thiệu 6 1.1. Thị trường EU 6 1.2. Hiệp định EVFTA 7 1.3. Tổng quan xuất khẩu rau quả chế biến của Việt Nam 9 2. Tổng quan nghiên cứu 11 2.1. Các lý thuyết liên quan đến đánh giá tác động của FTA 11 2.2. Các nghiên cứu thực nghiệm về đánh giá tác động của FTA 14 3. Phương pháp nghiên cứu 16 3.1. Phương pháp phân tích dữ liệu 16 3.2. Phương pháp thu thập số liệu 16 4. Kết quả nghiên cứu 17 4.1. Tác động tạo lập thương mại 21 4.2. Tác động chuyển hướng thương mại 23 5. Kết luận và hàm ý 26 TÀI LIỆU THAM KHẢO 28 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT STT Ký hiệu chữ viết tắt Ý nghĩa 1 FTA Free Trade Agreement 2 EVFTA EuropeanVietnam Free Trade Agreement 3 UKFTA UKVietnam Free Trade Agreement 4 OLS Ordinary Least Squares 5 FEM Fixed Effects Model 6 REM Random Effects Model 7 MFN Most Favored Nation
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG VIỆN KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
=====***=====
CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
ĐỀ TÀI: TÁC ĐỘNG CỦA HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO VIỆT NAM – EU (EVFTA) ĐẾN XUẤT KHẨU RAU QUẢ CHẾ
BIẾN CỦA VIỆT NAM SANG EU
Nhóm thực hiện: Nhóm Lớp tín chỉ: TMA301 Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Thu Hằng
Hà Nội – T5/2023
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH SÁCH THÀNH VIÊN 2
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC BẢNG BIỂU 4
TÓM TẮT 5
1 Giới thiệu 6
1.1 Thị trường EU 6
1.2 Hiệp định EVFTA 7
1.3 Tổng quan xuất khẩu rau quả chế biến của Việt Nam 9
2 Tổng quan nghiên cứu 11
2.1 Các lý thuyết liên quan đến đánh giá tác động của FTA 11
2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm về đánh giá tác động của FTA 14
3 Phương pháp nghiên cứu 16
3.1 Phương pháp phân tích dữ liệu 16
3.2 Phương pháp thu thập số liệu 16
4 Kết quả nghiên cứu 17
4.1 Tác động tạo lập thương mại 21
4.2 Tác động chuyển hướng thương mại 23
5 Kết luận và hàm ý 26
TÀI LIỆU THAM KHẢO 28
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 FTA Free Trade Agreement
2 EVFTA European-Vietnam Free Trade Agreement
3 UKFTA UK-Vietnam Free Trade Agreement
4 OLS Ordinary Least Squares
5 FEM Fixed Effects Model
6 REM Random Effects Model
7 MFN Most Favored Nation
Trang 4Bảng 4: Giá trị tạo lập thương mại tính theo từng nhóm hàng
Bảng 5: Giá trị chuyển hướng thương mại của hàng rau quả chế biến Việt Nam xuất khẩu sang EU khi thuế quan được cắt giảm về 0%
Bảng 6: Một số nước tăng xuất khẩu các mặt hàng thuộc HS 20 sang EU
Bảng 7: Một số nước giảm xuất khẩu các mặt hàng thuộc HS 20 sang EU
Bảng 8: Tổng tác động từ EVFTA
Trang 5TÓM TẮT
Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) chính thức có hiệu lực
từ ngày 01/08/2020 là kết quả của sự nỗ lực và là bước tiến mới nhất của Việt Namtrong quá trình hội nhập quốc tế Hiệp định EVFTA được mong đợi sẽ tạo ra một đàthúc đẩy lớn cho xuất khẩu Việt Nam sang EU Rau quả chế biến là mặt hàng xuấtkhẩu chủ lực của Việt Nam cũng không tránh khỏi những tác động từ Hiệp định này.Nghiên cứu được nhóm tác giả thực hiện nhằm đánh giá tác động định lượng của Hiệpđịnh thương mại tự do Việt Nam - EU ( EVFTA) đến xuất khẩu mặt hàng rau quả chếbiến của Việt Nam sang thị trường EU Nghiên cứu vận dụng mô hình SMART với dữliệu về kim ngạch xuất khẩu rau quả chế biến và kịch bản thuế quan cắt giảm về 0%khi EVFTA có hiệu lực Với dữ liệu về kim ngạch xuất khẩu rau quả chế biến của 7nhóm hàng rau quả chế biến có mã HS 4 chữ số, dựa vào cơ sở dữ liệu về thương mại
và thuế quan giữa Việt Nam - EU và theo kịch bản thuế quan cắt giảm về 0% khiEVFTA có hiệu lực, kết quả phân tích cho thấy có sự gia tăng trong kim ngạch xuấtkhẩu rau quả chế biến Việt Nam sang thị trường EU khi EVFTA có hiệu lực Từ đó,nghiên cứu đề xuất một số hàm ý nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu rau quả chế biếncủa Việt Nam sang EU trong thời gian tới
Từ khóa: Tác động, EVFTA, rau quả chế biến, Việt Nam - EU
Trang 61 Giới thiệu
1.1 Thị trường EU
EU là thị trường nhập khẩu rau quả lớn nhất, chiếm tỷ trọng tới 45 - 50% lượngrau quả nhập khẩu của thế giới Rau quả là một ngành kinh tế nông nghiệp quan trọngcủa EU, chiếm 14% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp của EU Các sản phẩm rau quả
mà các nước EU có thể trồng được là các sản phẩm hàn đới và ôn đới, trong đó chiếm
tỷ trọng lớn nhất trong các sản phẩm rau là cà chua, cà rốt, bắp cải, hành, hạt tiêu vàcác sản phẩm quả là táo, cam, dưa hấu, đào, lê Từ đó, các sản phẩm rau quả chế biếncũng chủ yếu là chế biến từ các sản phẩm ôn và hàn đới này, trong đó phổ biến lànước ép củ quả, củ quả đóng hộp, đông lạnh hoặc sấy khô, và các loại mứt rau quả
Về thương mại rau quả, EU chủ yếu trao đổi thương mại trong nội khối EU dorau quả là các sản phẩm nhanh hỏng nên chủ yếu được trao đổi trong phạm vi địa lýgần và các nước EU cũng sản xuất đa dạng các sản phẩm đủ để có thể trao đổi thươngmại với nhau Tuy nhiên, do nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng EU vớinhững sản phẩm rau trái lạ (như hoa quả, rau gia vị nhiệt đới) và do thiếu hụt nguồncung cấp trong những thời điểm trái vụ, nên EU nhập khẩu một phần rau quả từ cácđối tác bên ngoài EU Trong nhiều năm qua, EU là khu vực nhập siêu rau quả lớn trênthế giới
Mặc dù EU có một ngành công nghiệp chế biến rau quả tương đối phát triển,khu vực này vẫn phải nhập khẩu một lượng lớn rau quả chế biến EU là nhà nhập khẩurau quả chế biến lớn nhất thế giới, chiếm hơn 40% tổng nhập khẩu rau quả chế biếncủa thế giới năm 2019 Trong giai đoạn 2014-2018, nhập khẩu rau quả chế biến của
EU tăng nhẹ khoảng 4%/năm, đạt gần 23 tỷ USD năm 2019
Nhập khẩu rau quả của Việt Nam từ thị trường EU tuy chỉ chiếm một phần nhỏ(khoảng 2%) trong tổng giá trị nhập khẩu rau quả của Việt Nam nhưng tăng trưởngliên tục trong 3 năm (2017-2019) Các nhóm quả và nhóm rau quả chế biến đều có xuhướng tăng trưởng, đặc biệt tăng mạnh vào năm 2019 Cụ thể nhóm rau quả chế biếntăng hơn 40% từ 14,7 triệu USD năm 2017 lên 23,1 triệu USD năm 2019 Về cơ cấunhập khẩu, nhóm rau quả chế biến chiếm tỷ trọng lớn nhất trong suốt giai đoạn 2017-2019
Trang 7Trong giai đoạn 2020-2022, triển vọng của ngành rau quả Việt Nam sang EU làrất tích cực Việt Nam đã ký kết Hiệp định Thương mại Việt Nam - Liên minh châu
Âu (EVFTA), mở ra cơ hội lớn cho các sản phẩm rau quả chế biến Việt Nam tiếp cậnthị trường EU theo mức thuế suất ưu đãi hoặc miễn thuế Điều này giúp sản phẩm rauquả chế biến của Việt Nam trong giai đoạn này cạnh tranh tốt hơn trên thị trường EU
Cụ thể theo số liệu của Eurostat, kim ngạch nhập khẩu hàng rau quả chế biến của Liênminh EU trong năm 2021 đạt xấp xỉ 22 tỷ EURO (24,84 tỷ USD) tăng 4,6% so vớinăm 2020 Tính chung năm 2021, kim ngạch nhập khẩu hàng rau quả chế biến của EUđạt 70,55 tỷ EURO (tương đương 79,72 tỷ USD), tăng 1% so với cùng kỳ năm 2020.Việt Nam là thị trường cung cấp hàng rau quả chế biến lớn thứ 59 cho EU trong năm
2022, đạt 74.000 tấn, trị giá 215 triệu USD, tăng 7,8% về lượng và tăng 35,3% về trịgiá so với cùng kỳ năm 2021 Trị giá tăng cao, do giá nhập khẩu bình quân từ ViệtNam đạt 2.723,1 EURO/tấn, tăng 25,5% so với cùng kỳ năm 2021
Mặc dù hoạt động sản xuất tại Việt Nam bị gián đoạn do các biện pháp giãncách xã hội nghiêm ngặt, tuy nhiên EU vẫn tăng nhập khẩu hàng rau quả chế biến từViệt Nam
1.2 Hiệp định EVFTA
Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (gọi tắt làEVFTA) là Hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới giữa Việt Nam và Liênminh châu Âu (EU) EVFTA được ký kết ngày 30/6/2019 và có hiệu lực từ ngày01/08/2020
Với phạm vi cam kết rộng, mức độ tự do hóa sâu và các cam kết tiêu chuẩncao, EVFTA được dự báo sẽ có tác động mạnh mẽ tới toàn bộ thể chế kinh tế cũngnhư hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam Rau quả là một trongnhững ngành kinh tế được dự báo sẽ được hưởng nhiều lợi ích từ EVFTA với những
cơ hội được mở ra cho cả xuất khẩu, nhập khẩu và thu hút đầu tư
Trong Hệ thống Hài hóa Mô tả và Mã hóa Hàng hóa (Hệ thống HS), các sảnphẩm rau quả nằm trong các Chương sau:
● Rau tươi và sơ chế thuộc Chương 07
● Quả tươi và sơ chế thuộc Chương 08
● Rau quả chế biến thuộc Chương 20
Trang 8Đối với các sản phẩm hàng hóa như các sản phẩm rau quả, cam kết quan trọngnhất trong các FTA là cam kết về thuế quan mà mỗi Bên áp dụng đối với sản phẩmnày Trong EVFTA cũng vậy, cam kết quan trọng nhất đối với các sản phẩm rau quảcủa Việt Nam là cam kết về thuế quan của Việt Nam đối với rau quả nhập khẩu từ EU
và cam kết về thuế quan của EU đối với rau quả nhập khẩu từ Việt Nam
Cam kết về thuế quan đối với các sản phẩm rau quả trong EVFTA được nêutại:
● Lời văn của Chương 2 - Đối xử quốc gia và mở cửa thị trường đối với hànghóa: Phần này bao gồm các quy tắc chung liên quan tới thuế quan, áp dụngchung cho cả EU và Việt Nam (tuy nhiên cũng có một số nội dung nêu cụthể chỉ áp dụng cho Việt Nam hoặc EU)
● Các Phụ lục 2-A của Chương 2 – Cắt giảm hoặc xóa bỏ thuế quan
Trong EVFTA, EU cam kết xóa bỏ thuế với các mặt hàng rau củ của Việt Namtheo 4 nhóm:
● Xóa bỏ tất cả các loại thuế quan ngay khi Hiệp định có hiệu lực với phầnlớn dòng thuế rau quả (514/547 dòng, tương đương 94% tổng số dòng)
● Xóa bỏ thuế tính theo tỷ lệ phần trăm trị giá hàng hóa (thuế suất X% giá trị
lô hàng) ngay sau khi Hiệp định có hiệu lực nhưng vẫn giữ thuế tuyệt đối(thuế X euro/đơn vị khối lượng) (kÝ hiệu là “A+EP”) với 24/547 dòng thuếrau quả (tương đương khoảng 4% số dòng thuế rau quả, chủ yếu là nhómtrái cây như cam, quÝt, chanh, nho, mơ, đào và nước nho ép) Chú ý:Thuế tuyệt đối trong các trường hợp này được xác định theo hệ thống giáđầu vào mà EU áp dụng theo Biểu thuế chung được quy định tại Quy tắcthực thi Ủy ban (EU) số 543/2011 ngày 07/06/2011 (Quy tắc này quy địnhchi tiết các quy tắc áp dụng Quy định Hội đồng (EC) số 1234/2007 đối vớihoa quả và rau và sản phẩm chế biến hoa quả và rau)
● Cắt giảm thuế dần về 75 EUR/tấn từ năm 2025 trở đi (R75) cho 01 dòngthuế có mã HS 08039010 - Chuối, trừ chuối lá, tươi
● Áp dụng hạn ngạch thuế quan với 3 loại sản phẩm rau quả là tỏi, ngô ngọt
và nấm, với mức thuế trong hạn ngạch là 0%
Trang 9Rau quả là một trong những nhóm sản phẩm mà EU vẫn duy trì mức thuế MFNcao EU thường áp thuế MFN cao đối với các sản phẩm nông nghiệp và thấp đối vớicác sản phẩm công nghiệp Mức thuế MFN trung bình của EU năm 2020 đối với cácsản phẩm rau quả là:
● 8,7% đối với các sản phẩm rau tươi và sơ chế Chương 07
● 6,67% đối với các sản phẩm quả tươi và sơ chế Chương 08
● 17,71% đối với các sản phẩm rau quả chế biến Chương 20
EU cũng đang cho hưởng thuế GSP đối với các sản phẩm rau quả đến từ một sốnước đang và kém phát triển (trong đó có Việt Nam) Mặc dù vậy, mức thuế GSPtrung bình của EU năm 2020 đối với các sản phẩm rau quả vẫn được đánh giá là tươngđối cao, cụ thể:
● 5,91% đối với các sản phẩm rau tươi và sơ chế Chương 07
● 4,49% đối với các sản phẩm quả tươi và sơ chế Chương 08
● 12,96% đối với các sản phẩm rau quả chế biến Chương 20
Trong EVFTA, Việt Nam cam kết về thuế quan với các sản phẩm rau quả của
EU theo 4 nhóm:
● Xóa bỏ thuế ngay khi Hiệp định có hiệu lực với 17/286 (tương đương 6%)dòng thuế rau quả - chủ yếu là rau củ làm giống (các dòng mà thuế MFNcủa EU đã là 0%)
● Cắt giảm và xóa bỏ thuế theo lộ trình 4 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lựcvới 8/286 (tương đương 3%) dòng thuế rau quả, chủ yếu là các loại trái câynhư cam, quÝt, chanh, táo, lê…
● Cắt giảm và xóa bỏ thuế theo lộ trình 6 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lựcvới 194/286 (tương đương 68%) dòng thuế rau quả
● Cắt giảm và xóa bỏ thuế theo lộ trình 8 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lựcvới 67/286 (tương đương 23%) dòng thuế rau quả, chủ yếu thuộc Chương
20 (các sản phẩm rau quả chế biến)
Đối với Việt Nam, rau quả cũng thuộc nhóm sản phẩm đang duy trì thuế MFNcao, đặc biệt là rau quả chế biến Do đó, mức cắt giảm thuế quan của Việt Nam trongEVFTA đối với các sản phẩm rau quả như trên là tương đối đáng kể
Trang 101.3 Tổng quan xuất khẩu rau quả chế biến của Việt Nam
Việt Nam bắt đầu xuất khẩu rau quả chế biến sang EU từ những năm 2000 vớicác sản phẩm chính như nước ép trái cây và rau củ đông lạnh Tuy nhiên, cho đến nay,xuất khẩu rau quả chế biến của Việt Nam sang EU chủ yếu là các loại trái cây sấy khô,hoa quả đóng hộp và nước ép trái cây Xuất khẩu rau quả chế biến của Việt Nam sang
EU là ngành xuất khẩu có sức tăng trưởng mạnh trong nhiều năm gần đây Đây là lĩnhvực sản xuất tiềm năng và đang được chú trọng phát triển bởi các doanh nghiệp vàchính phủ Việt Nam
Xuất khẩu rau quả chế biến của Việt Nam sang EU tăng đều trong giai đoạn2015-2019 Cụ thể, rau quả chế biến tăng gần gấp đôi từ 37 triệu USD năm 2015 lên
56 triệu USD năm 2019 Theo số liệu thống kê, kim ngạch xuất khẩu rau quả chế biếncủa Việt Nam sang EU khoảng 1,5 tỷ USD trong năm 2020, tăng trưởng khoảng 10%
so với năm 2019 Các sản phẩm chủ yếu được xuất khẩu từ Việt Nam sang EU là cácloại trái cây sấy khô, hoa quả đóng hộp và nước ép trái cây Theo số liệu thống kê củaTổng cục Hải quan, kim ngạch xuất khẩu hàng rau quả của Việt Nam sang Liên minh
EU trong năm 2021 đạt 172,64 triệu USD, tăng 7,6% so với cùng kỳ năm 2020 Tỷtrọng xuất khẩu hàng rau quả sang EU chiếm 5,3% tổng kim ngạch xuất khẩu toànngành trong năm 2021, cao hơn so với tỷ trọng 4,6% trong năm 2020 Ước tính, kimngạch xuất khẩu hàng rau quả của Việt Nam sang EU năm 2021 đạt 193,7 triệu USD,tăng 7,6% so với năm 2020 Đến năm 2022 xuất khẩu rau quả chế biến của Việt Namsang EU vẫn tăng trưởng mạnh, ước tính kim ngạch xuất khẩu năm 2022 vào khoảng
235 triệu USD
Một số loại sản phẩm rau quả chế biến của Việt Nam:
1 200989 Nước ép từ trái cây, rau chưa lên men và chưa pha
thêm đường hoặc chất tạo ngọt khác
2 200939 Nước ép từ 1 loại quả thuộc chi cam quýt, chưa lên
men và chưa pha thêm rượu, đã hoặc chưa pha thêm
Trang 11đường hoặc chất tạo ngọt khác, trị giá Brix > 20 ở 20
độ C
3 200110 Dưa chuột và dưa chuột ri, đã chế biến hoặc bảo
quản bằng giấm hoặc axit axetic
4 200899 Quả và các phần ăn được khác của cây đã chế biến
hoặc bảo quản bằng cách khác, đã hoặc chưa pha
thêm đường hay chất tạo ngọt khác
5 200820 Dứa đã chế biến hoặc bảo quản, đã hoặc chưa pha
thêm đường hay chất tạo ngọt khác
6 200580 Ngô ngọt “Zea Mays var Saccharata”, đã chế biến
hoặc bảo quản bằng cách khác trừ bảo quản bằnggiấm hoặc axit axetic, không đông lạnh
7 200410 Khoai tây đã chế biến hoặc bảo quản bằng cách khác
trừ bảo quản bằng giấm hoặc axit axetic, đã đông
lạnh
8 200490 Rau và hỗn hợp các loại rau đã chế biến hoặc bảo
quản bằng cách khác trừ bảo quản bằng giấm hoặc
axit axetic, đã đông lạnh
9 200799 Mứt, thạch trái cây, mứt từ quả thuộc chi cam quýt,
bột nghiền và bột nhão từ quả, thu được từ quá trìnhđun nấu, đã hoặc chưa pha thêm đường hay chất tạo
ngọt khác
10 200897 Hỗn hợp của quả, quả hạch (nuts) và các phần ăn
được khác của cây, đã chế biến hoặc bảo quản, đãhoặc chưa pha thêm đường hay chất tạo ngọt khác
Nguồn: ITC TradeMap
Trang 122 Tổng quan nghiên cứu
2.1 Các lý thuyết liên quan đến đánh giá tác động của FTA
Lý thuyết tạo lập thương mại và chuyển hướng thương mại
Viner (1950) chỉ ra rằng sự dịch chuyển thương mại trong các liên minh thuế quan
sẽ diễn ra theo hai hiệu ứng là hiệu ứng chuyển hướng thương mại và hiệu ứng tạo lậpthương mại, mức độ của các hiệu ứng sẽ phụ thuộc vào sự ưu đãi về mặt thuế quancác thành viên dành cho nhau Cụ thể, hiệu ứng tạo lập thương mại là hiệu ứng thúcđẩy xuất khẩu đối với nước xuất khẩu do hàng hóa từ nước đó vào thị trường nhậpkhẩu với giá cạnh tranh hơn so với hàng hóa từ thị trường nội địa của nước nhập khẩu.Hiệu ứng chuyển hướng thương mại là hiệu ứng làm tăng xuất khẩu đối với nước xuấtkhẩu và giảm nhập khẩu, khi các nước khác xuất khẩu cùng loại hàng hóa sang mộtnước Cơ sở của hiệu ứng chuyển hướng thương mại để tăng xuất khẩu là sản phẩmcủa nước xuất khẩu có tính cạnh tranh cao hơn so với sản phẩm của nước xuất khẩukhác trên cơ sở ưu đãi về thuế quan
Lý thuyết về tác động của thuế quan theo trường phái kinh tế học Tân cổ điển
Theo lý thuyết kinh tế Tân cổ điển (Neoclassical Economics) của Adam Smith(1776) và David Ricardo (1817), thuế quan đóng vai trò quan trọng trong việc hạn chếnhập khẩu và bảo hộ sản xuất trong nước, việc cắt giảm thuế quan sẽ thúc đẩy dòngchảy thương mại, từ đó hình thành khái niệm tự do hóa thương mại Sau này, Marshall
đã phát triển thêm các lý thuyết về tác động của thuế quan, chẳng hạn như thặng dưcủa nhà sản xuất, thặng dư của người tiêu dùng, thuế của chính phủ và tổn thất xã hộitổng thể
Lý thuyết về mô hình lực hấp dẫn trong thương mại
Mô hình lực hấp dẫn lần đầu tiên được ứng dụng trong các nghiên cứu về thươngmại quốc tế bởi Tinbergen (1962) Mô hình lực hấp dẫn sử dụng các biến đặc trưnggồm quy mô nền kinh tế và khoảng cách giữa các quốc gia đối tác thương mại Cáchtiếp cận này đòi hỏi cần có cơ sở dữ liệu rộng và phức tạp của các biến ảnh hưởngđến thương mại, trong đó bao gồm việc thực thi các FTA Plummer, Cheong,Hamanaka (2010) cho rằng các biến thể hiện các yếu tố trong mô hình chưa thể hiệnđược chiều rộng và chiều sâu của một FTA, mà chỉ đơn giản là yếu tố đó có tồn tại
Trang 13hay không, từ đó kết quả gia tăng thương mại có thể không chính xác vì các yếu tố cókhả năng tương quan với nhau.
Lý thuyết tác động về phúc lợi của thuế quan đối với nước nhỏ
Lý thuyết tác động của thuế quan đối với phúc lợi của nền kinh tế được phân tíchbởi Steven M Suranovic (2010) cho hai nhóm đối tượng là nước lớn và nước nhỏ có
sự đối nghịch Đối với một nước nhập khẩu nhỏ, khi áp thuế quan nhập khẩu, phúc lợicủa nền kinh tế sẽ bị giảm Đồng thời, mức thuế càng cao thì phúc lợi giảm càng lớn.Ngoài ra, thuế quan còn gây ra tác động phân phối lại thu nhập Nhà sản xuất và ngườinhận chi tiêu của Chính phủ được lợi, trong khi người tiêu dùng bị thiệt hại lớn nhất
Lý thuyết cân bằng cục bộ
Trong Principles of Economics, Marshall (1890) chỉ ra rằng trong điều kiện các yếu
tố khác không đổi (ceteris paribus) giá cân bằng được xác định tại điểm giao nhau củađường cầu và đường cung Bất kì sự dịch chuyển của đường cung hoặc đường cầu sẽđều làm thay đổi điểm cân bằng, từ đó ảnh hưởng tới mức giá cân bằng trên thịtrường Sau này, lý thuyết này được Viner (1950), Francois (1997), Cheong (2010),Bacchetta và cộng sự (2010) bổ sung, phát triển và hoàn thiện hơn thông qua việc
mở rộng thêm một số lý thuyết liên quan như lý thuyết tạo lập thương mại, chuyểnhướng thương mại, doanh thu thuế của chính phủ và phúc lợi xã hội
Lý thuyết cân bằng tổng thể
Lý thuyết cân bằng tổng thể tìm cách giải thích cung, cầu và giá của tổng thể mộtnền kinh tế với đặc điểm có sự tương tác qua lại giữa rất nhiều thị trường của rất nhiềumặt hàng Lý thuyết này chứng minh rằng giá cân bằng của các mặt hàng có tồn tại, vàkhi giá thị trường của tất cả các mặt hàng đạt tới trạng thái cân bằng thì nền kinh tế đạttrạng thái cân bằng tổng thể, theo Leontief Walras (1870) Dựa trên lý thuyết cân bằngtổng thể, mô hình cân bằng tổng thể được xây dựng để phân tích giá cả và thương mạigiữa hai thị trường quốc tế trong mối quan hệ mắt xích nhiều thị trường và nhiều mặthàng Mô hình cân bằng tổng thể được giải thích thông qua các biến nội sinh trong môhình như giá cả, sản lượng xuất khẩu, sản lượng nhập khẩu, thu nhập hộ gia đình… vàmột số biến ngoại sinh như các chỉ số co giãn, các tỷ trọng tham số… Mô hình cânbằng tổng thể có ưu điểm là cung cấp cơ sở thực nghiệm để đánh giá tác động củachính sách thương mại (chẳng hạn thông qua FTAs) Tuy nhiên, mô hình có một số
Trang 14nhược điểm như vẫn chưa nhận định được tác động của các rào cản phi thuế quan(SPS,TBT ), các vấn đề liên quan đến hải quan, các tiêu chuẩn kỹ thuật…
Lý thuyết về độ co giãn
Marshall (1890) chỉ ra rằng độ co dãn của cầu theo giá (Price Elasticity of Demand)thể hiện sự thay đổi của lượng cầu hàng hóa khi giá cả biến động với điều kiện cácyếu tố khác không đổi (ceteris paribus) Hệ số co dãn của cầu theo giá được đo bằng
tỷ số giữa phần trăm thay đổi trong lượng cầu so với phần trăm thay đổi trong mứcgiá
Lý thuyết về mô hình SMART
Mô hình cân bằng cục bộ SMART được xây dựng bởi Cơ Sở Dữ liệu và Phần mềm
về Thương mại của Ngân Hàng Thế giới (WITS) dựa trên các lý thuyết kinh tế.SMART được xây dựng trên các lý thuyết nền tảng gồm có lý thuyết cân bằng cục bộ,
lý thuyết cầu nhập khẩu và cung xuất khẩu, doanh thu thuế và phúc lợi xã hội, lýthuyết tạo lập, chuyển hướng thương mại, các lý thuyết và các thông số về độ co dãn,
sử dụng cơ sở dữ liệu liên quan đến thuế quan, thương mại để mô tả những tác độngcủa cắt giảm thuế quan lên thương mại Kết quả mô phỏng của SMART cho thấy tácđộng định lượng của một FTA hoặc một ưu đãi, sự thay đổi về mặt thuế quan đến xuấtnhập khẩu một ngành hàng
2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm về đánh giá tác động của FTA
Các nghiên cứu của Viner (1950), Cline (1978) và Krueger (1995) cho rằng tácđộng chuyển hướng thương mại và tạo lập thương mại trong các liên minh thuế quan
có thể mở rộng để đánh giá tác động của các Hiệp định Tự do Lý thuyết cân bằng cục
bộ cũng đã được Wylie (1995), Francois và Hall (1997), Bachetta và cộng sự (2012)
sử dụng và đi đến kết luận khẳng định rằng mô hình cân bằng cục bộ là một mô hìnhphù hợp để đánh giá tác động tiềm tàng của FTA
Nghiên cứu của Jean Marc Philip và nhóm cộng sự (2011) sử dụng kết hợp phươngpháp nghiên cứu định lượng và định tính để đánh giá tác động của Hiệp định EVFTAđến thương mại giữa Việt Nam và EU Đối với phương pháp nghiên cứu định lượng,nhóm tác giả sử dụng mô hình cân bằng tổng thể, kết quả cho thấy Việt Nam sẽ tăngthặng dư cán cân thương mại trong thời gian tới Đối với hoạt động nhập khẩu, lợi
Trang 15nhuận thu được sẽ lớn hơn phần thuế quan được cắt giảm Cụ thể, với mặt hàng chếphẩm từ rau củ quả hạt, kim ngạch được dự báo sẽ tăng 3% hàng năm.
Paul Baker (2015) đã sử dụng mô hình cân bằng tổng thể và mô hình cân bằng cục
bộ phân tích các tác động dự kiến phát sinh của Hiệp định EVFTA, áp dụng khungđánh giá tác động bền vững tiêu chuẩn với thời gian dự báo đến năm 2025 Việt Namđược dự báo sẽ tăng trưởng đáng kể nhờ dòng vốn chảy vào và tác động cải thiệnnăng suất lao động, với ước tính sẽ tạo ra thêm 7 - 8% GDP về tốc độ tăng trưởngkinh tế cho đến năm 2025
Frankel và Wei (1993), Deardoff (1998) và Kalirajan (2000), Urata và Okabe(2007) sử dụng mô hình lực hấp dẫn trong thương mại xây dựng được mô hình toánvới các biến độc lập mới như ngôn ngữ, chung biên giới… nhằm đánh giá tốt hơn tácđộng của FTA đối với thương mại Tuy nhiên, các tác động đó là tác động sau khiFTA đã có hiệu lực một thời gian, nhằm đánh giá xem việc tham gia FTA có đạt đượcnhững kỳ vọng đề ra hay không
Othieno và Shinyekwa (2011) chỉ ra sự lấn át của tác động tạo lập thương mại và sựgia tăng trong phúc lợi xã hội trong bài nghiên cứu của mình, sử dụng phân tích ex-ante đối với tác động của thuế quan trong liên minh thuế quan Đông Phi đến thươngmại của Uganda thông qua mô hình SMART-WITS Phương pháp tương tự cũng đãđược sử dụng trong nghiên cứu của Karingi và cộng sự (2005), bài nghiên cứu đã ápdụng mô hình SMART-WITS để phân tích tác động của Hiệp định đối tác kinh tế EU
- Châu Phi đối với các nước châu Phi Nghiên cứu này chỉ ra rằng Hiệp định đối táckinh tế EU - Châu Phi sẽ gây cản trở quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của các quốcgia bởi lẽ tác động chuyển hướng thương mại sẽ lấn át tác động tạo lập thương mại Ngoài ra, Hoàng và Ngân (2020), và nhiều nghiên cứu khác cũng đã thực hiện cácnhằm đánh giá tác động của Hiệp định EVFTA cũng như phân tích ngành nôngnghiệp của Việt Nam Tuy nhiên những nghiên cứu này tập trung phân tích tổng thểtác động của Hiệp định EVFTA lên nền kinh tế hoặc phân tích về ngành nông nghiệp
mà chưa xét tới những tác động của Hiệp định EVFTA, cụ thể hơn là hoạt động xuấtkhẩu từ thị trường EU trong khi Việt Nam còn phụ thuộc khá lớn vào nguồn cầu xuấtkhẩu từ thị trường này