1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

G4A4 vận dụng lý thuyết đầu tư trực tiếp nước ngoài để giải thích nguồn gốc của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào việt nam liên hệ với honda việt nam

21 416 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 39,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI là một hoạt động kinh doanh quốc tế dựa trên cơ sở của quá trình dịch chuyển tư bản giữa các quốc gia, chủ yếu do các pháp nhân hoặc thể nhân th

Trang 1

A VẬN DỤNG LÝ THUYẾT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐỂ GIẢI THÍCH NGUỒN GỐC CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM

I Lý thuyết đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)

1 Khái niệm, nguồn gốc, bản chất và vai trò của FDI

a Khái niệm

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một hoạt động kinh doanh quốc tế dựa trên cơ

sở của quá trình dịch chuyển tư bản giữa các quốc gia, chủ yếu do các pháp nhân hoặc thể nhân thực hiện theo những hình thức nhất định trong đó chủ đầu tư tham gia trực tiếp vào quá trình điều hành, quản lý và sử dụng vốn đầu tư

Xuất hiện vào cuối thế kỷ 19, FDI nhanh chóng khẳng định được vị trí của mình trong hệ thống các quan hệ kinh tế quốc tế Đến nay khi FDI đã trở thành xu hướngcủa thời đại thì cũng là một nhân tố quan trọng góp phần đẩy mạnh lợi thế so sánh của các nước và mang lại quyền lợi cho cả đôi bên

b Nguồn gốc và bản chất của FDI

FDI ra đời muộn hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại khác vài ba thập kỷ nhưng FDI nhanh chóng xác lập vị trí của mình trong quan hệ kinh tế quốc tế FDI trở thành một xu thế tất yếu của lịch sử, một nhu cầu không thể thiếu của mọi nước trên thế giới kể cả những nước đang phát triển, những nước công nghiệp mới hay những nước trong khối OPEC và những nước phát triển cao

Bản chất của FDI là:

- Có sự thiết lập về quyền sở hữu về tư bản của công ty một nước ở một nước khác

- Có sự kết hợp quyền sở hữu với quyền quản lí các nguồn vốn đã được đầu tư

- Có kèm theo quyền chuyển giao công nghệ và kỹ năng quản lí

- Có liên quan đến việc mở rộng thị trường của các công ty đa quốc gia Gắn liền với sự phát triển của thị trường tài chính quốc tế và thương mại quốc tế

c Vai trò của FDI

Hoạt động FDI có tính hai mặt với nước đầu tư cũng như nước tiếp nhận đầu tư, đều có tác động tiêu cực và tác động tích cực

Trang 2

Đối với nước đi đầu tư( nước chủ nhà) FDI có tác động chủ yếu sau:

Tác động tích cực

Do chủ đầu tư là người nước ngoài, là người trực tiếp điều hành và quản lí vốn nên

họ có trách nhiệm cao, thường đưa ra những quyết định có lợi cho họ Vì thế họ đảm bảo hiệu quả của vốn FDI Đầu tư nước ngoài mở rộng được thị trường tiêu thụ sản phẩm nguyên liệu, công nghệ và thiết bị trong khu vực mà họ đầu tư cũng như trên thế giới Do khai thác được nguồn tài nguyên thiên nhiên và lao động rẻ, thị trường tiêu thụ rộng lớn nên có thể mở rộng quy mô, khai thác được lợi thế kinh

tế của quy mô từ đó có thể nâng cao năng suất, giảm giá thành sản phẩm Đồng thời chủ đầu tư cũng tránh được các hàng rào bảo hộ mậu dịch và phí mậu dịch củanước tiếp nhận đầu tư thông qua FDI

Tác động tiêu cực

Khi các doanh nghiệp thực hiện việc đầu tư ra nước ngoài thì trong nước sẽ mất đi khoản vốn đầu tư, khó khăn hơn trong việc tìm nguồn vốn phát triển cũng như giải quyết việc làm Điều này có thể dẫn tới nguy cơ suy thoái kinh tế trong nước, vì thế mà nước chủ nhà không đưa ra những chính sách khuyến khích cho việc đầu tư

ra nước ngoài Đầu tư ra nước ngoài thì doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với nhiều rủi

ro hơn trong môi trường mới về chính trị, sự xung đột vũ trang của các tổ chức trong các quốc gia hay những tranh chấp nội bộ của quốc gia hay đơn thuần chỉ là

sự thay đổi trong chính sách và pháp luật của quốc gia tiếp nhận… Tất cả những điều đó đều khiến cho các doanh nghiệp có thể rời vào tình trạng mất tài sản cơ sở

hạ tầng Do vậy mà họ thường phải đầu tư vào các nước ổn định về chính trị cũng như trong chính sách và môi trường kinh tế

Đối với nước tiếp nhận đầu tư thì hoạt động FDI có tác động:

Tác động tích cực

- Nhờ nguồn vốn FDI đầu tư, các doanh nghiệp tiếp nhận nguồn vốn có điều kiện tốt để khai thác tốt nhất các lợi thế về tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lí Bởi các nước tiếp nhận thì thường là nước đang phát triển có tài nguyên dồi dào, song không biết cách khai thác

- Tạo điều kiện để khai thác được nguồn vốn từ bên ngoài do không quy định mức vốn góp tối đa mà chỉ quyết định mức vốn góp tối thiểu cho nhà đầu tư

- Có cơ hội tiếp cận kỹ thuật công nghệ hiện đại và học hỏi kinh nghiệm quản lí kinh doanh của họ

Trang 3

- Tạo điều kiện để tạo việc làm, tăng tốc độ tăng trưởng của đối tượng bỏ vốn cũngnhư tăng kim ngạch xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế, qua đó nâng cao đời sống nhân dân.

- Khuyến khích doanh nghiêp trong nước tăng năng lực kinh doanh, cải tiến công nghệ mới nâng cao năng suất chất lượng giảm giá thành sản phẩm do phải cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài, đồng thời thông qua hợp tác với nước ngoài cóthể mở rộng thị trường thông qua tiếp cận với bạn hàng của đối tác đầu tư

Tác động tiêu cực

- Nếu không có quy hoạch cụ thể và khoa học, có thể dẫn đến đầu tư tràn lan kém hiệu quả, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác bừa bãi, gây ô nhiễm môi trường nghiệm trọng

- Môi trường chính trị trong nước có thể bị ảnh hưởng, các chính sách trong nước

có thể bị thay đổi do khi đầu tư vào thì các nhà đầu tư thường có các biện pháp vậnđộng quan chức địa phương theo hướng có lợi cho mình

- Các lĩnh vực và địa bàn đầu tư phụ thuộc vào sự lựa chọn của nhà đầu tư nước ngoài mà không theo ý muốn của nước tiếp nhận Do vậy việc bố trí cơ cấu đầu tư

sẽ gặp khó khăn sẽ tạo ra sự phát triển mất cân đối giữa các vùng

- Giảm số lượng doanh nghiệp trong nước do quá trình cạnh tranh khiến nhiều doanh nghiệp trong nước bị phá sản Ảnh hưởng tới cán cân thanh toán quốc tế do

sự di chuyển của các luồng vốn cũng như luồng hàng hoá ra vào trong nước

- Ngày này hầu hết việc đầu tư là của các công ty đa quốc gia vì thế các nước tiếp nhận thường bị thua thiệt, thất thu thuế hay các liên doanh sẽ phải chuyển thành doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài do các vấn đề chuyển nhượng giá nội bộ của các công ty này

2 Một số lý thuyết của FDI

2.1 Lý thuyết về lợi nhuận cận biên:

Năm 1960 Mac Dougall đã đề xuất một mô hình lý thuyết, phát triển từ những lý thuyết chuẩn của Hescher Ohlin - Samuaelson về sự vận động vốn Ông cho rằng luồng vốn đầu tư sẽ chuyển từ nước lãi suất thấp sang nước có lãi suất cao cho đến khi đạt được trạng thái cân bằng (lãi suất hai nước bằng nhau) Sau đầu tư, cả hai nước trên đều thu được lợi nhuận và làm cho sản lượng chung của thế giới tăng lên

so với trước khi đầu tư Lý thuyết này được các nhà kinh tế thừa nhận những năm

1950 Nhưng sau đó, tình hình trở nên thiếu ổn định, tỷ suất đầu tư của Mỹ giảm đi

Trang 4

đến mức thấp hơn tỷ suất trong nước, nhưng FDI của Mỹ ra nước ngoài vẫn tăng liên tục Mô hình trên không giải thích được hiện tượng vì sao một số nước đồng thời có dòng vốn chảy vào, có dòng vốn chảy ra; không đưa ra được sự giải thích đầy đủ về FDI Do vậy, lý thuyết lợi nhuận cận biên chỉ có thể được coi là bước khởi đầu hữu hiệu để nghiên cứu FDI.

2.2 Lý thuyết chu kỳ sản phẩm (Vernon, 1966):

Lý thuyết chu kỳ sản phẩm do nhà kinh tế học Vernon đề xuất vào năm 1966 Theo

lý thuyết này thì bất kỳ một công nghệ sản phẩm mới nào đều tiến triển theo 3 giai đoạn: (1) Giai đoạn phát minh và giới thiệu; (2) Giai đoạn phát triển qui trình và đi tới chín muồi; (3) Giai đoạn chín muồi hay được tiêu chuẩn hoá Trong mỗi giai đoạn này các nền kinh tế khác nhau có lợi thế so sánh trong việc sản xuất những thành phần khác nhau của sản phẩm Quá trình phát triển kinh tế, nó được chuyển dịch từ nền kinh tế này sang nền kinh tế khác

2.3 Lý thuyết về quyền lực thị trường

Lý luận cho rằng FDI tồn tại do những hành vi đặc biệt của độc quyền nhóm trên phạm vi quốc tế như phản ứng độc quyền nhóm, hiệu quả kinh tế bên trong do quy

mô sản xuất và sự liên kết đầu tư nước ngoài theo chiều rộng Tất cả những hành vinày đều nhằm hạn chế cạnh tranh mở rộng thị trường và ngăn không cho đối thủ khác xâm nhập vào ngành

FDI theo chiều dọc tồn tại khi các công ty xâm nhập vào nước khác và sản xuất cácsản phẩm trung gian, sau đó các sản phẩm này được xuất ngược trở lại và được sảnxuất với tư cách là đầu vào cho sản xuất của chủ nhà hay tiêu thụ những sản phẩm

đã hoàn thành cho những người tiêu thụ cuối cùng

2.4 Những lý thuyết dựa trên sự không hoàn hảo của thị trường

2.4.1 Tổ chức công nghiệp (hay còn gọi là lý thuyết thị trường độc quyền):

Lý thuyết tổ chức công nghiệp do Stephen Hymer và Charles Kindleberger nêu ra Theo lý thuyết nay, sự phát triển và thành công của hình thức đầu tư liên kết theo chiều dọc phụ thuộc vào 3 yếu tố: (1) quá trình liên kết theo chiều dọc các giai đoạn khác nhau của hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm giảm bớt chi phí sản xuất; (2) việc sản xuất và khai thác kỹ thuật mới; (3) cơ hội mở rộng hoạt động ra đầu tư nước ngoài có thể tiến hành được do những tiến bộ trong ngành giao thông

và thông tin liên lạc Chiến lược liên kết chiều dọc của các công ty đa quốc gia là đặt các công đoạn sản xuất ở những vị trí khác nhau trên phạm vi toàn cầu, nhằm tận dụng lợi thế so sánh ở các nền kinh tế khác nhau, hạ thấp giá thành sản phẩm

Trang 5

thông qua sản xuất hàng loạt và chuyên môn hoá, tăng khả năng cạnh tranh của công ty trên thị trường Cách tiếp cận của Hymer đã được các nhà kinh tế Graham

và Krugman sử dụng (1989) để giải thích cho sự tăng lên của FDI vào nước Mỹ trong những năm gần đây ( khi mà họ đã đánh mất những lợi thế đã có cách đây 20năm) Giả thuyết của tổ chức công nghiệp chưa phải là giả thuyết hoàn chỉnh về FDI Nó không trả lời được câu hỏi: vì sao công ty lại sử dụng hình thức FDI chứ không phải là hình thức sản xuất trong nước rồi xuất khẩu sản phẩm hoặc hình thức cấp giấy phép hoặc bán những kỹ năng đặc biệt của nó cho các công ty nước

sở tại

2.4.2 Giả thuyết nội hoá:

2.5 Lý thuyết chiết trung hay mô hình OLI:

Theo Dunning một công ty dự định tham gia vào các hoạt động FDI cần có 3 lợi thế: (1) Lợi thế về sở hữu (Ownership advantages - viết tắt là lợi thế O - bao gồm lợi thế về tài sản, lợi thế về tối thiểu hoá chi phí giao dịch); (2) Lợi thế về khu vực (Locational advantages - viết tắt là lợi thế L - bao gồm: tài nguyên của đất nước, qui mô và sự tăng trưởng của thị trường, sự phát triển chính sách của Chính phủ)

và (3) Lợi thế về nội hoá (Internalisation advantages - viết tắt là lợi thế I - bao gồm: giảm chi phí ký kết, kiểm soát và thực hiện hợp đồng; tránh được sự thiếu thông tin dẫn đến chi phí cao cho các công ty; tránh được chi phí thực hiện các bảnquyền phát minh, sáng chế) Theo lý thuyết chiết trung thì cả 3 điều kiện kể trên đều phải được thoả mãn trước khi có FDI Lý thuyết cho rằng: những nhân tố

“đẩy” bắt nguồn từ lợi thế O và I, còn lợi thế L tạo ra nhân tố “kéo” đối với FDI Những lợi thế này không cố định mà biến đổi theo thời gian, không gian và sự pháttriển nên luồng vào FDI ở từng nước, từng khu vực, từng thời kỳ khác nhau Sự khác nhau này còn bắt nguồn từ việc các nước này đang ở bước nào của quá trình phát triển và được Dunning phát hiện vào năm 1979

2.6 Lý thuyết về các bước phát triển của đầu tư (Investment Development Path - IDP):

Theo lý thuyết này, quá trình phát triển của các nước được chia ra thành 5 giai đoạn:

Giai đoạn 1: lợi thế L của một nước ít hấp dẫn, luồng vào FDI không đáng kể do hạn chế của thị trường trong nước: thu nhập thấp, cơ sở hạ tầng lạc hậu, giáo dục yếu kém, lao động không có kỹ năng… và hiếm khi thấy luồng ra FDI

Giai đoạn 2: luồng vào của FDI bắt đầu tăng do lợi thế L đã hấp dẫn các nhà đầu tư: sức mua trong nước bắt đầu tăng, cơ sở hạ tầng đã được cải thiện … FDI trong

Trang 6

bước này chủ yếu là đầu tư vào sản xuất để thay thế nhập khẩu và những ngành khai thác tài nguyên thiên nhiên hoặc sản xuất ra nguyên vật liệu, sản phẩm sơ chế.Luồng ra của FDI trong giai đoạn này không đáng kể.

Giai đoạn 3: luồng vào của FDI bắt đầu giảm và luồng ra lại bắt đầu tăng Khả năng kỹ thuật của nước sở tại đã tiến tới sản xuất sản phẩm được tiêu chuẩn hoá Mặt khác lợi thế về lao động giảm dần, nên phải chuyển đầu tư sang những nước

có lợi thế tương đương đối về lao động nhằm tìm kiếm thị trường hoặc giành những tài sản chiến lược để bảo vệ lợi thế O Trong giai đoạn này, luồng vào của FDI tập trung vào những ngành thay thế nhập khẩu có hiệu quả

Giai đoạn 4: lợi thế O của các công ty trong nước tăng lên Những công nghệ sử dụng nhiều lao động dần dần được thay thế bởi công nghệ sử dụng nhiều vốn Mặt khác chi phí vốn trở nên rẻ hơn chi phí lao động Kết quả là, lợi thế L của đất nước

sẽ chuyển sang các tài sản FDI từ các nước đang phát triển ở bước 4 sẽ vào nước này để tìm kiếm những tài sản trên hoặc từ các nước kém phát triển hơn nhằm tìm kiếm thị trường và đặt quan hệ thương mại Trong bước này các công ty trong nước vẫn thích thực hiện FDI ra nước ngoài hơn là xuất khẩu sản phẩm, bởi vì họ

có thể khai thác lợi thế I của mình Do vậy, luồng vào và luồng ra của FDI vẫn tăng, nhưng luồng ra sẽ nhanh hơn

Giai đoạn 5: luồng ra và luồng vào của FDI tiếp tục và khối lượng tương tự nhau Luồng vào từ các nước có mức độ phát triển thấp hơn với mục đích tìm kiếm thị trường và kiến thức; hoặc từ các nước đang phát triển ở bước 4 và 5 để tìm kiếm sản xuất có hiệu quả Do vậy luồng ra và luồng vào là tương tự

II Giải thích nguồn gốc đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam

1 Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam từ khi nào?

- Đầu tư nước ngoài không phải mới bắt đầu khi có Luật Đầu tư nước ngoài Sau thống nhất, nước ta đã có Điều lệ về đầu tư nước ngoài đầu tiên năm 1977 Nhưng sau đó do cấm vận của Mỹ, chiến tranh Trung Quốc nên điều lệ ấy không thực hiệnđược

- Đến năm 1986 khi đất nước bắt đầu mở cửa Đảng ta đã đặt vấn đề phải vừa đổi mới trong nước, vừa mở cửa để hội nhập kinh tế quốc tế

- Luật đầu tư nước ngoài được thông qua vào tháng 12/1987 và là luật đầu tiên trong quá trình đổi mới và hội nhập

- Từ năm 1988 đã bắt đầu có những dự án đầu tư nước ngoài đầu tiên Tuy nhiên đều là những dự án nhỏ

- Đến năm 90, dòng vốn đầu tư nước ngoài tăng dần và trong thời gian từ năm

90-97, vốn đầu tư tăng rất mạnh

Trang 7

Trong 7 năm này, vốn đầu tư nước ngoài chiếm gần 30% tổng vốn đầu tư xã hội, đóng góp 1/3 tốc độ tăng trưởng và đóng góp rất tích cực vào thu ngân sách, tạo việc làm, xuất khẩu, cũng như phát triển một số ngành công nghiệp như xe máy, ô

tô, dầu khí, điện tử, may mặc, da giày…

2 Lý do xuất hiện đầu tư trực tiếp nước ngoài

- Lý thuyết về lợi nhuận cận biên giải thích cho sự cân bằng lãi suất giữa 2 nước tuy nhiên không giải thích được vì sao một nước đồng thời có dòng vốn chảy vào,

có dòng vốn chảy ra

- Sự phát triển của các phương tiện giao thông liên lạc, kỹ thuật điện toán đã đạt tớitrình độ cho phép các chủ đầu tư có thể nắm bắt kịp thời và chuẩn xác các thông tincần thiết để có thể ra quyết định hợp lý, hạn chế các tổn thất và các rủi ro trong kinh doanh Lý thuyết chu kì của sản phẩm giải thích sự tập trung công nghiệp hóa

ở các nước phát triển đưa ra việc lý luận hợp nhất thương mại quốc tế và đầu tư quốc tế giải thích sự gia tăng xuất khẩu hàng công nghiệp ở các nước công nghiệp hóa Tuy nhiên lý thuyết này chỉ quan trọng với việc giải thích FDI của các công tynhỏ

- Lý thuyết về quyền lực thị trường giải thích lý do:

+ Thứ nhất do nguồn cung cấp nguyên liệu ngày càng khan hiếm, trong khi các công ty địa phương không đủ khả năng tham gia khai thác Do vậy các nhà đầu tư tranh thủ lợi thế cạnh tranh tên cơ sở khai thác nguyên liệu tại địa phương Điều đógiải thích FDI theo chiều dọc được thực hiện ở các nước phát triển

+ Thứ hai thông qua các liên kết FDI dọc các công ty độc quyền nhóm lập nên các hàng rào không cho các công ty khác tiếp cận tới những nguồn nguyên liệu của chung

+ Thứ ba FDI theo chiều dọc còn tạo ra lợi thế về chi phí thông qua việc cải tiến kĩ thuật bằng cách phối hợp sản xuất và chuyển giao các sản phẩm giữa các công đoạn khác nhau của quá trình sản xuất

+ Lý thuyết thị trường độc quyền giải thích sự tăng lên của FDI của một nước khi

Trang 8

+ Mô hình OLI giải thích FDI theo trạng thái tĩnh

+ Lý thuyết về các bước phát triển đầu tư ( IDP) lại xem xét hiện tượng FDI trong trạng thái động với sự thay đổi các lợi thế này trong từng bước phát triển Do vậy,

lý thuyết này cùng với mô hình OLI là thích hợp nhất để giải thích hiện tượng FDI trên toàn thế giới, tất nhiên trong đó có Việt Nam

3 Việt Nam là 1 môi trường đầu tư hấp dẫn

- Thứ nhất, Việt Nam luôn là một quốc gia ổn định vững chắc về chính trị - xã hội

Là một trong những nền kinh tế tăng trưởng năng động Tốc độ tăng trưởng kinh tếbình quân của Việt Nam trong giai đoạn 1991-2010 đạt khoảng 7,5% và trong giai đoạn 2011-2013 dù gặp rất nhiều khó khăn vẫn đạt 5,6% Nhiều tổ chức quốc tế dựbáo GDP của Việt Nam sẽ tăng trưởng khả quan hơn trong giai đoạn 2014-2015 vànhững năm tiếp theo

- Thứ hai, Việt Nam đang ở thời kỳ cơ cấu dân số “vàng” với 60% người dân trong

độ tuổi lao động; có vị trí địa lý thuận lợi, nằm ở trung tâm của khu vực Đông Á, nơi tập trung của nhiều nền kinh tế lớn và năng động Việt Nam là nền kinh tế thị trường, là thành viên WTO, đã và đang tham gia nhiều khuôn khổ liên kết kinh tế quốc tế, trong đó có các FTA với các đối tác trong và ngoài khu vực, đặc biệt Việt Nam đang tích cực tham gia đàm phán Hiệp định Xuyên Thái Bình Dương (TPP) Đây là những lợi thế cơ bản luôn hấp dẫn các nhà đầu tư

- Thứ ba, Chính phủ Việt Nam luôn cam kết và hành động nhằm tạo lập môi

trường đầu tư thông thoáng, thuận lợi và bình đẳng cho các nhà đầu tư nước ngoài cũng như không ngừng cải thiện khuôn khổ luật pháp và thể chế phục vụ cho các hoạt động kinh doanh và đầu tư Bên cạnh đó, Chính phủ Việt Nam đã nỗ lực triển khai lộ trình tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, trong đó có nỗlực mạnh mẽ để cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia

III Thành tựu sau 30 năm đầu tư nước ngoài vào Việt Nam

- Năm 2017 là năm rất thành công, tăng trưởng kinh tế dật 6,81%, cao hơn mức dự kiến của quốc hội là 6,7% cao nhất trong mấy năm gần đây

- Tổng kim ngạch xuất khẩu vượt 400 tỷ USD đứng vào hàng nước có tổng kim ngạch xuất khẩu lớn nhất thế giới từ một nước xuất khẩu kém nhất trong số các nước ASEAN giờ đây chúng ta đang đứng thứ 2 thứ 3

- Nền kinh tế Việt Nam đã đạt được thành tựu rất rõ là đã hình thành một số cứ điểm sản xuất hàng xuất khẩu như điện thoại thông minh, máy tính, linh kiện điện

tử, điện tử gia dụng Những sản phẩm này chiếm tỷ trọng ngày càng tăng, khoảng

65 tỷ USD, tương đương hơn 30% trong tổng kim ngạch xuất khẩu Dệt may trước

Trang 9

đây chiếm vị trí số 1 thì năm nay cũng chỉ đạt khoảng 31 tỷ USD, bằng một nửa công nghiệp chế biến hiện đại

- Các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam không chỉ chuyển giao công nghệ thông qua các xí nghiệp mà họ còn đầu tư vào những trung tâm nghiên cứu phát triển lớn như của Samsung, Panasonic, Bosch, Intel là những hãng công nghệ rất lớn mà hàng ngàn cán bộ trẻ Việt Nam đã và đang làm việc trong các trung tâm này

IV Chính sách thu hút FDI của Việt Nam

1 Chính sách đất đai

– Khung giá cho thuê đất được quy định từ 0,375 USD/m2/năm đến 1,7 USD/m2/năm tuỳ theo nhóm đô thị

– Riêng đất công nghiệp sử dụng đối với các dự án chế biến nông, lâm không đất

đô thị được hưởng giá thêu đất từ 150 USD/ha/năm đến 750 USD/ha/năm

– Đối với đất tại các vùng không phải là đô thị giá thuê được qui định cụ thể như sau:

+ Những vùng đá, đồi trọc, đất xấu khó sử dụng từ 30-50 USD/ha/năm

+ Các vùng đất khác từ 150 – 170 USD/ha/năm

– Đối với mặt sông hồ, vịnh, mặt biển giá thuê có 2 mức:

+ Mặt nước sông, hồ, vịnh từ 75-525 USD/ha/năm

+ Mặt biển từ 150- 600 USD/km2/năm Trong trường hợp sử dụng không cố định thì áp dụng mức giá từ 1500 USD đến 7500 USD Mức giá thuê đất, mặt nước, mặtbiển nêu trên là mức giá áp dụng cho thực trạng diện tích đất cho thuê không bao gồm chi phí đền bù, giải toả

Mặc dù trong các văn bản nói trên đã cố gắng phân loại để xác định mức giá tiền thuê khác nhau cho phù hợp với điều kiện địa điểm, loại đất, hạ tầng cơ sở nhưng vẫn không tránh khỏi những bất hợp lý Trong thực tế khi góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất và các dự án có vốn đầu tư nước ngoài thuờng có những vướng mắc sau:

+ Do Việt Nam chưa có quy định về tính giá trị nên trong một số trường hợp phần góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng lại có quá lớn so với giá trị của khu đất làm cho việc đàm phán kéo dài vì bên nước ngoài khó chấp nhận

+ Trong một số trường hợp, khi đàm phán với nước ngoài, các đối tác Việt Nam đãđưa ra mức giá cho thuê thấp để được bên nước ngoài chấp nhận Nhưng khi thẩm định dự án, họ lại được yêu cầu phải đàm phán để tăng giá thuê đất thì gặp khó khăn, mất nhiều thời gian và cũng khó thuyết phục bên nước ngoài

Trang 10

+ Một số dự án nhầm lẫn giữa việc góp vốn bằng giá trị nhà xưởng với việc góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất Một số dự án chỉ tính tiền thuê đất của diện tích xây dựng nhưng không tính các diện tích khác như đường nội bộ, diện tích trồng cây xanh…Đlà cách hiểu sai chế độ qui định.

Để tiếp tục tăng mức hấp dẫn của môi trường đầu tư nước ngoài, chính sách sử dụng đất cho các dự án đầu tư nước ngoài đã được cải thiện Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 đã sửa đổi chính sách đất đai theo hướng khuyến khích và rõ ràng hơn: Gía tiền thuê đất, mặt khác, mặt biến đổi với từng dự án được giữ ổn định tối thiểu là 5 năm, khi điều chỉnh tăng thì mức tăng không vượt quá 15% của mức qui định lần trước Trong trường hợp doanh nghiêp có vốn đầu

tư nước ngoài, các bên hợp doanh đã trả tiền thuê đất cho cả đời dự án, nếu giá tiềnthuê có tăng trong thời hạn đó thì tiền thuê đã trả không bị điều chỉnh lại

Do Việt Nam còn thiếu qui hoạch chi tiết để phục vụ cho việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài cho việc tạo ra các địa điểm ổn định thu hút vốn đầu tư nước ngoài có

+ Việc giao đất, nhất là các dự án có đền bù và giải toả kéo dài trong nhiều trường hợp việc giải toả này kéo dài trong một số năm thậm chí có dự án kéo dài tới 5 năm Thủ tục thuê đất, cấp đất, giá đền bù, giải phóng mặt bằng còn phức tạp gây mất cơ hội và thời gian của các nhà đầu tư Hiệu lực pháp luật của các qui định về đất đai còn thấp Luật đất đai mặc dù đã sửa đổi song thiếu những văn bản hướng dẫn chi tiết

+ Thiếu qui hoạch chi tiết cho việc thu hút FDI Một số địa phương tự ý sử lý vấn

đề đất đai áp dụng đối với các nhà đầu tư nước ngoài

2 Chính sách lao động

Chính sách lao động có mục tiêu giải quyết việc làm, nâng cao tay nghề, kỹ năng cho người lao động, nâng cao trình độ quản lý và cải thiện thu nhập cho người lao động

Trong thời gian qua số lượng người lao động làm việc trong các dự án có vốn đầu

tư nước ngoài khoảng 28 vạn người

Số lao động của Việt Nam làm việc trong các dự án có vốn đầu tư nước ngoài phầnlớn là lao động trẻ, có khả năng thích ứng nhanh với yêu cầu công nghệ sản xuất

Ngày đăng: 26/12/2018, 21:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w