1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

01 suy hô hấp cấp

10 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Suy hô hấp cấp
Tác giả TS.BS. Đỗ Quốc Huy
Trường học Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch
Chuyên ngành Cấp cứu hồi sức và chống độc
Thể loại Bài giảng
Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 711,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TOÅNG QUAN VEÀ SUY HOÂ HAÁP CAÁP 1 TỔNG QUAN VỀ SUY HÔ HẤP CẤP TS BS Đỗ Quốc Huy* Muc̣ tiêu của bài giảng  Nắm đươc̣ môṭ số khái niêṃ cơ bản về suy hô hấp cấp  Hiểu đươc̣ các cách phân[.]

Trang 1

TỔNG QUAN VỀ SUY HÔ HẤP CẤP

TS.BS Đỗ Quốc Huy*

Mục tiêu của bài giảng:

Nắm được một số khái niệm cơ bản về suy hô hấp cấp

Hiểu được các cách phân loại suy hô hấp cấp theo nguyên nhân, theo bệnh sinh và theo lâm sàng

Nắm được một số cơ chế bệnh chủ yếu gây ra suy hô hấp cấp: giảm thông khí phế nang toàn bộ, nối tắt (shunt), bất tương hợp thông khí và tưới máu, rối loạn khuếch tán khí

Biết cách tiếp cận chẩn đoán suy hô hấp cấp trên lâm sàng và qua xét nghiệm với những ưu và nhược điểm riêng biệt

Nắm được các nguyên tắc xử trí suy hô hấp cấp và hiểu được thở máy chỉ là sự giúp đỡ tạm thời để chờ đợi giải quyết nguyên nhân gây suy hô hấp cấp, phục hồi hô hấp (thông khí) tự nhiên

1 KHÁI NIỆM

Suy hô hấp (SHH) là một tình trạng bệnh lý thường gặp, là một hội chứng có thể do nhiều bệnh lí tại cơ quan hô hấp hoặc tại các cơ quan khác gây ra

SHH có thể là cấp tính hoặc mạn tính Biểu hiện lâm sàng của bệnh nhân (BN) bị SHH cấp hoặc SHH mạn thường khác nhau hoàn toàn Trong khi SHH cấp được đặc trưng bởi những rối loạn về nội môi (khí máu, kiềm toan ) đe dọa tính mạng thì SHH mạn thường kín đáo, có vẻ chịu được, thậm chí có thể không có biểu hiện trên lâm sàng Sau đây chỉ đề cập đến SHH cấp, là một trong những cấp cứu thường gặp nhất tại các khoa phòng trong bệnh viện

Quá trình hô hấp được chia thành hai giai đoạn Ở giai đoạn hô hấp ngoài, oxy sẽ được thông khí đưa vào trong phế nang, rồi khuếch tán qua màng phế nang mao mạch vào máu, ngược lại cacbonic từ máu khuếch tán qua màng phế nang mao mạch để vào phế nang, rồi lại được thông khí đưa ra ngoài Ở giai đoạn hô hấp trong, oxy tiếp tục được hồng cầu vận chuyển theo hệ thống động mạch - mao mạch dẫn đến mô, rồi khuếch tán vào tế bào; ngược lại cacbonic được khuếch tán từ tế bào vào máu, rồi lại được hồng cầu vận chuyển theo hệ thống mao mạch - tĩnh mạch về tuần hoàn phổi Quá trình đó còn gọi là quá trình trao đổi khí giữa mô tế bào và môi trường Do chưa thể khảo sát được khí trong tế bào nên trên thực tế quá trình hô hấp được coi là trao đổi khí giữa máu

và môi trường

*Bộ môn Cấp cứu Hồi sức và Chống độc Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch.

Trang 2

Cơ quan hô hấp bao gồm bơm hô hấp (trung tâm hô hấp, hệ thống dẫn truyền thần kinh,

cơ hô hấp và khung xương thành ngực) giúp cho qúa trình thông khí (đưa không khí đi

vào và đi ra khỏi phế nang) và đơn vị hô hấp (phế nang, mao mạch phổi, đường dẫn

khí) nơi trực tiếp xảy ra quá trình trao đổi khí (hình 1)

SHHC được định nghiã là tình trạng cơ quan hô hấp đột nhiên không bảo đảm được chức năng trao đổi khí, gây ra thiếu oxy máu, có hoặc không có kèm theo tăng cacbonic (CO2) máu, được biểu hiện qua kết quả đo khí máu động mạch

Có nhiều cách phân loại SHHC: theo nguyên nhân, theo bệnh sinh, theo lâm sàng

2.1 PHÂN LOẠI THEO NGUYÊN NHÂN

2.1.1 SHHC do những nguyên nhân tại phổi (tại đơn vị hô hấp):

Các rối loạn ở đường thở (airways): các bệnh lí tắc nghẽn đường thở cao (bạch

hầu, hít phải dị vật, viêm phù thanh môn, hẹp thanh quản ) hoặc đường thở thấp (COPD, hen phế quản, )

Các tổn thương phế nang và mô kẽ phổi: viêm phổi, phù phổi cấp, ARDS, ngạt

nước, đụng dập phổi, viêm kẽ phổi, tràn dịch hoặc tràn khí màng phổi

Các bất thường tại mao mạch phổi: thuyên tắc mạch phổi

2.1.2 SHHC do các nguyên nhân ngoài phổi (tại bơm hô hấp):

Tổn thương trung tâm hô hấp: tai biến mạch não, chấn thương sọ não, ngộ độc

thuốc, hôn mê chuyển hóa

Rối loạn dẫn truyền thần kinh - cơ: bệnh nhược cơ, H/C Guillain-Barré, viêm đa

rễ thần kinh, chấn thương cột sống - tủy sống,

Hinh 1: cấu ta ̣o của cơ quan hô hấp và đơn vi ̣ hô hấp

Trang 3

Bất thường về cơ xương thành ngực: gãy nhiều xương sườn, gù vẹo cột sống,

gãy xương ức, mệt mỏi cơ hô hấp, bệnh cơ chuyển hoá, dùng thuốc dãn cơ, phẫu thuật vùng bụng cao,

2.2 PHÂN LOẠI THEO BỆNH SINH:

Theo cơ chế bệnh sinh, SHHC được đặc trưng bởi sự oxy hóa máu hoặc sự loại bỏ cacbonic không đầy đủ, thể hiện qua kết quả khí máu động mạch và có thể chia thành hai loại: SHHC tăng cacbonic (hypercapnia) và SHHC giảm oxy (hypoxemia) Trong nhiều trường hợp SHHC hypercapnia và SHHC hypoxemia cùng tồn tại Những rối loạn ban đầu gây ra hypoxemia có thể là biến chứng của suy bơm hô hấp và hypercapnia

2.2.1 SHHC giảm oxy:

Được gọi là SHH thể Hypoxemia khi PaO 2 < 50 mmHg với FiO 2 0,6 Có bốn cơ chế bệnh sinh gây ra hypoxemia: (1) Shunt; (2) Bất tương hợp thông khí-tưới máu; (3) Giảm thông khí phế nang; (4) Rối loạn khuếch tán khí

2.2.2 SHH tăng cacbonic

Được gọi là SHHC thể Hypercapnia khi PaCO 2 > 50 mmHg Tất cả các nguyên nhân gây ra tình trạng gia tăng sản xuất cacbonic, suy giảm thông khí phút hoặc gia tăng tỉ lệ khoảng chết đều có thể gây ra hypercapnia

2.3 PHÂN LOẠI THEO LÂM SÀNG :

Trên lâm sàng, đặc biệt trong công tác Hồi Sức Cấp Cứu, việc phân loại SHHC theo nhóm nguyên nhân hay theo bệnh sinh thường không giúp ích đáng kể cho can thiệp cấp cứu Dựa vào mức độ nặng (trầm trọng) của tình trạng lâm sàng Giáo Sư Vũ Văn Đính (1983) đã phân SHHC thành ba loại:

2.3.1 SHHC loại nhẹ và vừa:

BN có thể có bệnh cảnh SHHC với một số triệu chứng lâm sàng không đáng kể hoặc kín đáo như khó thở, thở nhanh, rút lõm co kéo cơ hô hấp phụ, tím nhẹ hay đỏ tía,

…, hay có thể không có biểu nào đáng kể Do vậy trên lâm sàng chưa cần thiết can thiệp đặc biệt gì, chủ yếu là khám, đánh giá, truy tìm nguyên nhân và bản chất của

vấn đề có liên quan đến hô hấp mà người thầy thuốc phải tiếp cận

2.3.2 SHHC loại nặng:

BN có bệnh cảnh SHHC rõ nhưng chưa có các dấu hiệu toàn thân đe dọa sinh mạng Lúc này can thiệp bằng thuốc và oxy liệu pháp là chủ yếu, có thể giải quyết được bằng thuốc hoặc bằng một số thủ thuật không đáng kể

2.3.3 SHHC loại nguy kịch:

Trang 4

BN có bệnh cảnh SHHC nặng và có thêm những dấu hiệu đe dọa sinh mạng như:

 Rối loạn nhịp thở nghiêm trọng: thở >40 l/p hoặc <10 l/p

 Rối loạn huyết động rõ: tụt HA

 Rối loạn ý thức rõ: vật vã hoặc lơ mơ thậm chí hôn mê

Phải can thiệp ngay bằng các thủ thuật, sau đó mới dùng thuốc hoặc sử dụng song song (đặt ống nội khí quản, bóp bóng, thở máy )

3 CƠ CHẾ BỆNH SINH

SHHC có thể phát sinh từ một bất thường tại bất kì yếu tố cấu thành nào cuả hệ thống

hô hấp, hoặc có thể từ sự phối hợp của nhiều yếu tố đó SHHC có thể do nhiều cơ chế gây ra nhưng có thể một cơ chế chung cho nhiều bệnh có biến chứng SHHC

3.1 GIẢM THÔNG KHÍ PHẾ NANG

Giảm thông khí phế nang toàn bộ là cơ chế thường gặp nhất trong SHHC, còn gọi là cơ chế "suy bơm hô hấp" do những bệnh lí ngoài phổi như tại hệ thống thần kinh trung ương (ngộ độc thuốc ngủ, tai biến mạch máu não, chấn thương sọ não ), tại hệ thống thần kinh ngoại vi (chấn thương tủy sống, viêm tủy cấp, bệnh bại liệt, viêm đa rễ thần kinh ), bệnh thần kinh - cơ ( bệnh nhược cơ, H/C Guillain-Barré, rắn hổ cắn, dùng thuốc giãn cơ, chứng porphyrie, phẫu thuật vùng bụng cao ), tại khung xương thành ngực (bệnh gây biến dạng cột sống, gẫy xương sườn gây mảng sườn di động ), tại đường

hô hấp trên ( dị vật đường thở, bệnh bạch hầu, co thắt thanh quản ) gây ra tình trạng suy giảm toàn bộ lượng khí lưu thông, dẫn đến ứ đọng khí cacbonic (hypercapnia) và thiếu oxy (hypoxemia) trong đó ưu thế rõ rệt là tình trạng hypercapnia với đặc trưng nổi bật là nhiễm toan hô hấp là chính và không có khác biệt đáng kể giữa áp lực riêng phần cuả oxy trong phế nang và trong động mạch (PAO2 - PaO2 = [PIO2 - PaCO2/R] - PaO2 < 20 mmHg)

3.2 Nối tắt (SHUNT)

Shunt là hiện tượng dòng máu đi từ tim

phải về tim trái mà không được tham

dự vào quá trình trao đổi khí (có tưới

máu mà không có thông khí) gây ra

Hypoxemia với đặc trưng cơ bản là gia

tăng khác biệt giữa áp lực oxy động

mạch với phế nang (PAO2 - PaO2 >20)

và không đáp ứng với điều trị bằng oxy

Trang 5

liệu pháp (tăng FIO2) Shunt có thể được chia thành shunt mao mạch và shunt giải phẫu Shunt mao mạch xuất hiện khi dòng máu vượt qua phế nang không được thông khí, được ghi nhận trong một số bệnh lí: xẹp phổi, tràn dịch, tràn khí màng phổi, viêm phổi, phù phổi và ARDS Shunt giải phẫu xuất hiện khi dòng máu đi từ tim phải tới tim trái hoàn toàn vượt qua phổi, thường thấy trong các bệnh tim bẩm sinh

3.3 BẤT TƯƠNG HỢP THÔNG KHÍ - TƯỚI MÁU (V A /Q mismatch)

Khi phế nang được thông khí (VA) ít hơn so với sự tưới máu (Q) do tắc nghẽn một phần

của ống dẫn khí (hen phế quản, COPD ) sẽ dẫn đến giảm sút tỉ lệ VA/Q, hoặc ngược lại khi tại một vùng phổi có hiện tượng tưới máu kém hơn so với thông khí (thuyên tắc mạch phổi) sẽ gây ra sự gia tăng bất thường VA/Q tại vùng phổi đó Sự bất tương hợp thông khí - tưới máu này cũng sẽ gây ra hypoxemia với gia tăng khác biệt giữa áp lực oxy động mạch với phế nang (PAO2 - PaO2 >20) nhưng đáp ứng tốt với oxy liệu pháp

3.4 RỐI LOẠN KHUẾCH TÁN KHÍ

Khi có tổn thương màng phế nang - mao mạch và mô kẽ của phổi (viêm phổi, phù phổi tổn thương, ALI, ARDS ) hoặc thậm chí có sự cản trở khuếch tán khí qua màng phế nang - mao mạch (phù phổi do tim, ngạt nước ) sẽ dẫn đến hypoxemia mà không có tăng cacbonic Do khả năng khuếch tán qua màng phế nang - mao mạch cuả khí cacbonic lớn hơn oxy rất nhiều (trên 20 lần), cacbonic sẽ nhanh chóng khuếch tán qua vùng phổi lành hoặc vùng tổn thương ít, nhất là khi có tăng thông khí đáp ứng với hypoxemia nên

sẽ không có hypercapnia Nhưng cũng có khi tình trạng tổn thương nghiêm trọng, diện rộng cuả màng phế nang - mao mạch với đáp ứng tăng thông khí qúa mức sẽ gây mệt mỏi cơ hô hấp mà hậu quả là suy bơm hô hấp thì sẽ có hypercapnia kèm theo

3.5 MẤT CÂN BẰNG CUNG VÀ CẦU THÔNG KHÍ

Trong điều kiện sinh lí, khả năng cung cấp thông khí của cơ thể rất lớn nhằm đáp ứng nhu cầu thông khí (thông khí phút đủ để duy trì sự ổn định PaCO2)

Trong tình trạng bệnh lí, thông khí phút đòi hỏi (nhu cầu) sẽ tăng cao (COPD, hen,

ARDS, thuyên tắc phổi, sốt cao, nhiễm trùng máu, đa chấn thương, tăng công hô hấp, mập phì, nuôi dưỡng quá tải cacbonhydrate, thiếu máu, toan chuyển hóa, suy thận, suy

gan, cơn lo lắng qúa mức ) Mặt khác khả năng cung cấp lại bị suy giảm (mệt mỏi cơ

hô hấp, teo nhẽo cơ, suy dinh dưỡng, rối loạn nước điện giải, toan kiềm, mổ vùng bụng cao, gẫy xương sườn, ùn tắc đờm, co thắt phế quản, tắc ngẽn đường hô hấp trên, tràn dịch khí màng phổi, chướng hơi dạ dày, cổ chướng ) Sẽ dẫn đến ứ đọng cacbonic (hypercapnia)

Trang 6

4 TIẾP CẬN CHẨN ĐOÁN BỆNH NHÂN SHHC

4.1 CHẨN ĐOÁN LÂM SÀNG

Chẩn đoán BN bị SHHC trên thực tế bao giờ cũng căn cứ vào những biểu hiện lâm sàng gợi ý:

4.1.1 Khó thở

SHHC dù thể loại hypercapnia hay hypoxemia cũng đều có khó thở, có thể khó thở nhanh, rút lõm co kéo cơ hô hấp phụ trong phế quản phế viêm nhưng cũng có thể khó

thở chậm và hoàn toàn không có rút lõm co kéo trong ngộ độc thuốc ngủ Mức độ khó

thở và kiểu rối loạn nhịp thở lại không tương xứng với mức độ SHHC Nhiều trường hợp

tăng thông khí hay gặp trong toan chuyển hóa, tổn thương thân não, suy thận cấp hoặc suy tim đã được chẩn đoán là SHHC Nhiều trường hợp khác nhịp thở chậm dưới 10 nhịp/phút như ngộ độc Heroin, thuốc ngủ thì lại bị bỏ qua

4.1.2 Xanh tím

Thường có xanh tím ở đầu chi trong SHHC thể hypoxemia khi SaO2 < 85%, nhưng với

thể hypercapnia thường lại có da đỏ tía Xanh tím và khó thở cũng không đặc hiệu cho

SHHC, thường được thấy cả trong sốc, suy tim, tràn dịch màng tim, thiếu vitamin B1

4.1.3 Rale ở phổi

SHHC do các bệnh ở phổi thường dễ dàng phát hiện được rale các loại tương xứng khi tiến hành thăm khám, nhưng mức độ và kiểu loại rale chỉ giúp ích cho việc truy tìm nguyên nhân hơn là xác định mức độ SHHC

4.1.4 Các biểu hiện tim mạch, thần kinh và dấu hiệu toàn thân khác

Các biểu hiện này có giá trị rất quan trọng trong việc xác định mức độ SHHC Khi BN

có khó thở, tím tái, vã mồ hôi, có nhiều rale , có xuất hiện dấu hiệu rối loạn huyết động, hoặc rối loạn ý thức nghiêm trọng thì chắc chắn tính mạng BN đang bị đe dọa từng phút

do bị SHHC mức độ nguy kịch Trong một số trường hợp thậm chí BN không có hoặc rất ít những than phiền khó thở nhưng BN đó đã bị SHHC nguy kịch do thuyên tắc động mạch phổi gây hypoxemia với bệnh cảnh gãy xương đùi

Một khi SHHC được nghĩ đến dựa trên bệnh cảnh lâm sàng, cần thiết phải làm xét nghiệm

và phân tích kết qủa khí máu động mạch để xác định chẩn đoán, giúp phân biệt thể loại SHHC, đánh giá mức độ nặng, tác động ảnh hưởng đến chuyển hóa và quan trọng hơn

là giúp hướng dẫn cách điều trị, xử trí SHHC

4.2 XÉT NGHIỆM

4.2.1 Phân tích kết qủa khí máu động mạch

Trang 7

Giúp xác định chẩn đoán, phân biệt thể loại SHHC, đánh giá mức độ nặng, tác động ảnh hưởng của SHHC đến chuyển hóa và nhất là giúp hướng dẫn cách điều trị, xử trí

SHHC:

 pH và PaCO2: bình thường pH trong khoảng 7,40  0,05; PaCO2=405mmHg Khi

BN có bệnh cảnh lâm sàng cuả SHHC có pH<7,35 và PaCO2>45mmHg được coi là

có SHHC mức độ nặng, thể hypercapnia gây nhiễm toan hô hấp mất bù Nếu pH<7,20 chứng tỏ BN bị SHHC mức độ nguy kịch đe dọa tính mạng cần được can thiệp hết sức khẩn trương bằng thông khí cơ học

 PaO2: tuỳ theo lứa tuổi, bình thường ở người trẻ PaO2>90 mmHg, ở người có tuổi (>60tuổi) PaO2>60mmHg Khi BN có bệnh cảnh lâm sàng cuả SHHC có PaO2<55mmHg với FiO2  0,6 được coi là bị SHHC thể hypoxemia đòi hỏi phải được áp dụng oxy liệu pháp loại đặc biệt (Mask không thở lại) thậm chí có chỉ định thông khí cơ học với PEEP

 HCO3-: bình thường trong khoảng 244 mmol/l Nếu BN bị SHHC thể hypercapnia

có HCO3->30mmol/l được coi là SHHC trên nền mạn và thận có đáp ứng bù trừ bằng cách tăng tái hấp thu HCO3-

4.2.2 Chụp X Quang phổi:

Cần phải làm ngay tại chỗ cho tất cả các BN bị SHHC giúp truy tìm phát hiện nguyên nhân gây SHHC và phân biệt loại SHHC có tổn thương tại phổi hay không, từ đó hướng dẫn cách xử trí thích hợp Tuy nhiên không dễ dàng để chụp X Quang phổi tiêu chuẩn cho một BN đang có SHHC, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa BS điều trị với nhân viên

X Quang

5.1 XÁC ĐỊNH MỨC ĐỘ TRẦM TRỌNG CỦA SHHC VÀ QUYẾT ĐỊNH TRÌNH TỰ

XỬ TRÍ

Dựa vào:

 Tính chất tiến triển của SHHC

 Mức độ của hypoxemia, hypercapnia và acidemia

 Mức độ của các rối loạn sinh tồn xuất hiện cùng với SHHC: tim mạch, thần

kinh

Để quyết định:

"Đảm bảo đường thở, Sử dụng thuốc, Oxy và Theo dõi sát ?"

hoặc " Thiết lập đường thở cấp cứu và thông khí cơ học ngay ?"

Trang 8

Nếu Bn chỉ bị SHHC mức độ nặng (chưa có các rối loạn huyết động và thần kinh

nghiêm trọng) thì chỉ cần đảm bảo đường thở, sử dụng thuốc, oxy liệu pháp và theo dõi sát sự tiến triển Nếu BN bị SHHC mức độ nguy kịch thì cần nhanh chóng thiết lập đường thở nhân tạo cấp cứu và tiến hành thông khí cơ học ngay, sau đó mới dùng thuốc hoặc phải sử dụng song song

5.2 ĐẢM BẢO ĐƯỜNG THỞ:

Là "chìa khóa", là công việc đầu tiên phải làm, phải xem xét cho tất cả các BN

cấp cứu, đặc biệt đối với SHHC ngay từ giây phút đầu tiên khi tiếp xúc

Đặt BN ở tư thế thuận lợi cho việc hồi sức và lưu thông đường thở:

- Nằm nghiêng an toàn cho BN hôn mê chưa được can thiệp

- Nằm ngửa cồ ưỡn cho BN ngưng thở ngưng tim

- Nằm Fowler cho BN phù phổi, phù não và phần lớn các BN SHHC

Khai thông khí đạo hay thiết lập đường thở cấp cứu:

- Nghiệm pháp Heimlich cho BN bị dị vật đường hô hấp trên

- Đặt canun Guedel hay Mayo cho BN tụt lưỡi

- Móc hút đờm rãi, thức ăn ở miệng họng khi Bn ùn tắc đờm hay ói hít sặc

- Đặt ống nội khí quản (NKQ) hay mở khí quản (MKQ), thậm chí chọc kim lớn

qua màng giáp nhẫn

5.3 ĐIỀU TRỊ GIẢM OXY MÁU VÀ TĂNG CACBONIC

 Điều trị giảm oxy máu

- Nếu bắt đầu có giảm oxy hóa máu nhẹ đến vừa (PaO2 = 50 – 60 mmHg với khí phòng) thì chỉ cần sử dụng oxy liệu pháp qua thông khí tự nhiên với các dụng cụ thông thường: qua canun, catheter mũi, mask oxy thông thường giúp tăng nồng độ oxy trong khí hít vào (FiO2 = 24 – 40 %)

- Đối với đợt cấp mất bù của SHH mạn thì mục tiêu là đảm bảo PaO2 ≈ 60 mmHg hay SaO2≈ 90% tránh làm nặng thêm tình trạng toan hô hấp bằng cách bắt đầu từ lưu lượng thấp nhất rồi tăng dần có đánh giá, theo dõi khí máu trước khi quyết định tăng FiO2, nếu toàn trạng xấu dần hoặc pH< 7,30 thì cần xem xét chỉ định thở máy

- Khi có giảm oxy hóa máu nặng (PaO2/FiO2 < 300), cần sử dụng mask không thở lại (FiO2 = 60 – 90 %), nếu không hiệu quả cần chỉ định oxy liệu pháp qua thông khí nhân tạo (thở máy) không xâm nhập (qua mask) hoặc xâm nhập (có đặt NKQ) cho phép vừa tăng nồng độ oxy trong khí thở vào vừa có thể dùng biện pháp đặc biệt là áp lực dương cuối kỳ thở ra (PEEP)

Trang 9

- Khi có giảm oxy hóa máu nghiêm trọng (PaO2/FiO2 < 200) cần thở máy xâm nhập với các phương thức đặc biệt như PEEP tối ưu, huy động phế nang, đảo ngược tỷ lệ I/E (IRV), chấp nhận tăng cacbonic…

 Điều trị tăng cacbonic:

- Tăng cacbonic gây nhiễm toan hô hấp phải được điều trị nguyên nhân gây giảm cung cấp và tăng nhu cầu thông khí hoặc thông khí cơ học bằng máy tạm thời thay thế

- Việc dùng bicacbonat (NaHCO3) để sửa chữa tình trạng nhiễm toan trong SHHC cũng cần hết sức thận trọng và không được khuyến cáo, vì NaHCO3 không có tác dụng điều chỉnh nhiễm toan lâu dài trong khi có thể gây nhiễm toan nội bào và đặc biệt có thể gây nặng thêm tình trạng thiếu oxy cho mô tế bào do làm tăng ái lực gắn kết của hemoglobin với oxy và tình trạng quá tải natri cho bệnh nhân

5.4 ĐIỀU TRỊ NGUYÊN NHÂN GÂY SHHC

 Cần tiến hành điều trị nguyên nhân gây SHHC song song cùng với việc sửa chữa tình trạng giảm oxy máu, tăng cacbonic gây nhiễm toan hô hấp nếu có thể

 Đối với SHHC do các bệnh tại phổi:

- Lấy bỏ dị vật trong tắc nghẽn đường thở…

- Kháng sinh trong viêm phổi, giãn phế quản và chống viêm trong hen phế quản và COPD…

- Chọc tháo dẫn lưu trong tràn dịch – khí màng phổi…

 Đối với SHHC do nguyên nhân ngòai phổi:

- Giải độc đặc hiệu bằng Naloxon trong ngộ độc Heroin – Morphin, Anexat trong ngộ độc Benzodiazepine…

- Phẫu thuật lấy máu tụ ngòai màng cứng trong CTSN, thuốc tiêu sợi huyết tái tưới máu trong đột qụy thiếu máu…

- Lọc máu, thay huyết tương trong bệnh nhược cơ, Guillain-Barré…

- Cố định giảm đau tốt trong gãy nhiều xương sườn, mảng sườn di động…

5.5 THỞ MÁY (thông khí cơ học – nhân tạo)

- Chỉ là biện pháp hỗ trợ nhân tạo tạm thời chờ đợi giải quyết nguyên nhân gây SHHC và phục hồi hô hấp (thông khí) tự nhiên

- Được sử dụng khi thông khí tự nhiên không đảm bảo được chức năng của mình, nhằm cung cấp một sự trợ giúp nhân tạo về thông khí và oxy hóa

Trang 10

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH

1 David L, Rutledge F Acute Respiratory Failure In Pulmonary and Critical Care Medicine Editor by Bone RC Williams & Wilkins 1999 S VI; C 24; 24.2-24.9

2 Grippi MA Respiratory Failure: An Overview In Pulmonary Diseases and Disorders, vol 2, third Edition Editor by Fishman AP McGraw-Hill 1998, P17; S22; C165;

2525-2535

3 Irwin RS, Pratter MR Aphysiologic Approach to Managing Respiratory Failure In Intensive Care Medicine, Editor by Irwin RS Fifth Edition Lippincott-Raven 2003, III

485 - 488

4 Lakshmipathi C Acute Respiratory Failure In Textbook of Critical Care Editor by Mitchell PF and Edward A Fifth Edition Elsevier Saunders 2005, I; 39-43

5 O'Connor MF, Hall JB Airway Management In Principles of Critical Care, second Edition Editor by Hall JB, Mc Graw-Hill 1998;PII; 111-120

6 SCCM Guidelines for Standards of Care for Patients with Acute Respiratory Failure

On Mechanical Ventilatory Support Task Force on Guidelines, Society of Critical Care Medicine, 6/8/99

7 Shelley LS, Robert CH Overview of mechanical ventilation UptoDate®21.3/2014

8 Vũ Văn Đính Suy Hô Hấp Cấp Hồi Sức Cấp Cứu T1; NXB Y-Học 1999; 31-41

9 Wood LD The Pathophysiology And Differential Diagnosis Of Acute Respiratory Failure In Principles of Critical Care, second Edition Editor by Hall JB, Mc Graw-Hill

1998; PIV; 499-508

-

Thành phố Hồ Chí Minh 23/8/2016

Ngày đăng: 12/04/2023, 03:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. David L, Rutledge F. Acute Respiratory Failure. In Pulmonary and Critical Care Medicine. Editor by Bone RC. Williams &amp; Wilkins 1999. S VI; C 24; 24.2-24.9 Khác
2. Grippi MA. Respiratory Failure: An Overview. In Pulmonary Diseases and Disorders, vol 2, third Edition. Editor by Fishman AP. McGraw-Hill 1998, P17; S22; C165; 2525- 2535 Khác
3. Irwin RS, Pratter MR. Aphysiologic Approach to Managing Respiratory Failure. In Intensive Care Medicine, Editor by Irwin RS. Fifth Edition. Lippincott-Raven 2003, III 485 - 488 Khác
4. Lakshmipathi C. Acute Respiratory Failure. In Textbook of Critical Care. Editor by Mitchell PF and Edward A. Fifth Edition. Elsevier Saunders 2005, I; 39-43 Khác
5. O'Connor MF, Hall JB. Airway Management. In Principles of Critical Care, second Edition. Editor by Hall JB, Mc Graw-Hill 1998;PII; 111-120 Khác
6. SCCM. Guidelines for Standards of Care for Patients with Acute Respiratory Failure On Mechanical Ventilatory Support. Task Force on Guidelines, Society of Critical Care Medicine, 6/8/99 Khác
7. Shelley LS, Robert CH. Overview of mechanical ventilation. UptoDate®21.3/2014 8. Vũ Văn Đính. Suy Hô Hấp Cấp. Hồi Sức Cấp Cứu. T1; NXB Y-Học 1999; 31-41 Khác
9. Wood LD. The Pathophysiology And Differential Diagnosis Of Acute Respiratory Failure. In Principles of Critical Care, second Edition. Editor by Hall JB, Mc Graw-Hill 1998; PIV; 499-508.--------------------- Khác
w