Một cách tổng quát, suy hô hấp cấp là sự giảm thực sự áp lực riêng phần khí oxy trong máu động mạch PaO2 < 60 mmHg, áp lực riêng phần khí CO2 trong máu động mạch PaCO2 có thể bình thường
Trang 1SUY HÔ HẤP CẤP
ThS Nguyễn Thị Ý Nhi Mục tiêu
1 Chẩn đoán xác định và biết cách đánh giá mức độ nặng của một bệnh nhân suy hô hấp cấp
2 Nắm được các nguyên nhân cơ bản gây ra suy hô hấp cấp
3 Biết cách xử trí cấp cứu phù hợp với mức độ nặng và cơ chế gây ra suy hô hấp
Nội dung
I ĐỊNH NGHĨA
Suy hô hấp cấp là sự rối loạn nặng nề sự trao đổi oxy máu Một cách tổng quát, suy hô hấp cấp là sự giảm thực sự áp lực riêng phần khí oxy trong máu động mạch (PaO2) < 60 mmHg,
áp lực riêng phần khí CO2 trong máu động mạch (PaCO2) có thể bình thường, giảm hay tăng
Có 2 loại suy hô hấp cấp:
- Suy hô hấp cấp với thiếu O2 máu kèm ứ khí CO2 (type 2)
- Suy hô hấp cấp với thiếu O2 máu kèm CO2 giảm hoặc bình thường (type 1)
II BỆNH NGUYÊN
1 Nguyên nhân tại phổi
1.1 Sự mất bù cấp của những suy hô hấp mạn: Yếu tố làm dễ là nhiễm trùng phế quản-phổi, thuyên tắc động mạch phổi, tràn khí màng phổi
1.2 Những bệnh phổi nhiễm trùng: có tính chất lan rộng ra nhiều thùy trên phổi lành: phế quản phế viêm do vi trùng sinh mủ, lao kê, nhiễm virus ác tính
1.3 Phù phổi cấp:
1.3.1 Phù phổi cấp do tim
- Tất cả những nguyên nhân gây suy tim trái: tăng huyết áp liên tục hay cơn tăng huyết áp, suy mạch vành trong đó nhồi máu cơ tim là nguyên nhân thường gặp nhất, hẹp hở van động mạch chủ, hở van hai lá, bệnh cơ tim
- Hẹp van hai lá
- Thuyên tắc động mạch phổi
1.3.2 Phù phổi cấp trên tim lành: do yếu tố tăng áp lực mao quản
- Truyền dịch quá nhiều
- Nguyên nhân thần kinh: chấn thương sọ não, u hay phẫu thuật chạm đến thân não, viêm não
- Phù phổi cấp do tổn thương thực thể: cúm ác tính trên cơ địa không thuận lợi (những thể nặng gặp chủ yếu ở người đã bị bệnh tim trái: hẹp hai lá…; người già; phụ nữ có thai; trẻ em) Ít gặp hơn là do ngộ độc (héroin, oxyd cácbon, nọc rắn độc), sốc nhiễm trùng, thuyên tắc do mỡ, chết đuối, hội chứng Mendelson (hít phải dịch vị do ợ)
1.4 Hen phế quản đe dọa nặng, hen phế quản cấp nặng:
Trang 2Đây là bệnh thường gặp, do điều trị không đúng cách hay không kịp thời, cũng có thể do
cơ địa bệnh nhân dễ bị hen phế quản nặng
1.5 Tắc nghẽn phế quản cấp:
Bệnh này ít gặp, ở trẻ em có thể do dị vật đường thở, ở người lớn có thể do u, xẹp phổi cấp, có thể do đặt nội khí quản…
2 Nguyên nhân ngoài phổi
2.1 Tắc nghẽn thanh-khí quản:
Do u thanh quản, bướu giáp chìm, u thực quản vùng cổ, u khí quản; hay các nhiễm trùng cấp nặng như viêm thanh quản, uốn ván; do dị vật lớn ở thanh-khí quản
2.2 Tràn dịch màng phổi:
Chỉ gây suy hô hấp cấp khi tràn dịch nhiều và nhanh
2.3 Tràn khí màng phổi thể tự do:
Thường do lao phổi, vỡ bóng khí phế thủng, vỡ kén khí bẩm sinh, tự phát (không rõ nguyên nhân), có thể do vỡ áp xe phổi (tràn khí kèm tràn mủ màng phổi)
2.4 Chấn thương lồng ngực:
Bệnh này gây gãy xương sườn từ đó gây tổn thương màng phổi và phổi
2.5 Tổn thương cơ hô hấp:
Nguyên nhân thường gặp là viêm sừng trước tủy sống, hội chứng Guillain Barré kèm liệt lên cấp Landry, uốn ván, rắn cắn, ngộ độc thuốc trừ sâu gốc Phospho hữu cơ, nhiễm độc strychnin, nhược cơ nặng hoặc do quá liều thuốc giãn cơ, viêm đa cơ, các bệnh của cơ (myasthénie), viêm thần kinh (polynevrite, polyradiculo-névrite), hoặc do một số kháng sinh… 2.6 Tổn thương thần kinh trung ương:
Nguyên nhân thường là chấn thương sọ não, u não có phù não, ngộ độc thuốc (bacbituric, thuốc phiện: morphin, dolargan…), tai biến mạch máu não; những nguyên nhân gây nên tổn thương trung tâm hô hấp
2.7 Hội chứng Pickwick và hôn mê do thiểu năng giáp trạng:
Hội chứng Pickwick hay giảm thông khí phế nang trên một người béo phì là một ví dụ mới
về suy thở mà nguyên nhân ở ngoài phổi Bệnh cảnh nổi bật là một người béo phì, luôn luôn ngủ gật, tím tái, thở theo kiểu Cheyne Stokes, có tâm phế mạn Các thể tích hô hấp, thông khí gắng sức tối đa giảm, compliance giảm, sức làm việc của hô hấp tăng Trong máu, PaO2 giảm, PaCO2 tăng Hội chứng giảm hô hấp ở người bị thiểu năng giáp trạng cũng tương tự
III CƠ CHẾ SINH BỆNH
1 Cơ chế gây nên thiếu O 2 máu
Hô hấp ở phạm vi phổi phụ thuộc vào nhiều yếu tố:
- Thông khí phế nang (VA Volume) : bằng thông khí toàn bộ trừ cho thể tích khoảng chết (VA= VT-DS) Ở người bình thường VA= 2,5l
Trang 3- Tuần hoàn của dòng máu trong phổi: Q= 3,5l Tuần hoàn này phụ thuộc vào cung lượng tim
- Khả năng khuyếch tán khí qua màng phế nang mao mạch
Suy hô hấp có thể xảy ra do rối loạn một trong ba, hoặc phối hợp các yếu tố trên Ví dụ: viêm phế quản phổi có thể vừa gây rối loạn thông khí vừa gây bloc phế nang mao mạch Bại liệt, hội chứng Guillain-Barré, nhược cơ, rắn hổ cắn, chứng porphyrre cấp, cơ chế gây suy hô hấp là
do liệt cơ hô hấp
1.1 Giảm thông khí phế nang
Áp lực khí oxy trong phế nang được xác định bởi sự quân bình giữa tốc độ mất đi của khí oxy, chức năng chuyển hóa ở mô và tốc độ đổi mới của khí oxy bởi thông khí phế nang Nếu thông khí phế nang giảm một cách bất thường thì áp lực oxy trong phế nang giảm rồi áp lực riêng phần khí oxy trong động mạch giảm theo Sự giảm thông khí phế nang có thể thứ phát sau một tổn thương trung tâm hô hấp (hôn mê, ngộ độc thuốc) hay một sự vô hiệu hóa hoạt động lồng ngực-phổi (tổn thương sừng trước tủy sống, tổn thương cơ hô hấp hay dây thần kinh chi phối)
- Sự giảm thông khí phế nang toàn bộ: Thường do tổn thương trung ương hay ở các cơ,
rất ít gặp ở các trường hợp bị bệnh ở lồng ngực và phổi, rất hiếm gặp, chỉ trừ trường hợp: tắc đường thở cấp tính, tràn dịch, tràn khí lớn màng phổi hai bên, gãy nhiều xương sườn
+ Lâm sàng : xanh tím, vã mồ hôi, nhịp thở tăng hoặc giảm
+ Xét nghiệm : PaCO2 tăng và PaO2 giảm
- Giảm thông khí phế nang khu trú: có nhiều nguyên nhân:
+ Viêm phổi : tưới máu tăng nhưng thông khí mất ở vùng viêm phổi, VA/Q <0,8 (tác dụng đoản mạch)
+ Xẹp phổi : tưới máu bình thường nhưng thông khí mất ở vùng xẹp VA/Q <0,8 + Giãn phế nang : VA giảm, Q bình thường VA/Q cũng giảm
Trong các trường hợp này, PaCO2 vẫn bình thường vì khuyếch tán nhanh qua vùng phế nang không hoặc ít bị thương tổn, PaCO2 có thể bị giảm vì tăng thông khí
1.2 Sự mất cân bằng giữa thông khí/tưới máu
Sự kém hài hòa giữa thông khí (VA) và lưu lượng máu (Q) là nguyên nhân gây nên sự rối loạn trao đổi khí trong một đơn vị phổi; tỉ VA/Q ≈1; áp lực khí oxy trong phế nang là 100 mmHg
và khí cácbonic và 40 mmHg (gần bằng áp lực riêng phần khí oxy và khí cácbonic trong động mạch) Nếu thông khí giảm, tỉ VA/Q= 0 thì áp lực khí oxy và khí cácbonic trong phế nang và áp lực riêng phần khí oxy và khí cácbonic gần bằng nhau (áp lực riêng phần khí oxy là 40 mmHg và khí cácbonic trong tĩnh mạch và 45 mmHg)
Nếu sự tưới máu giảm, thì tỉ VA/Q có khuynh hướng vô hạn, áp lực khí trong phế nang
và trong động mạch gần bằng áp lực khí hít vào (PO2 = 150mmHg, PCO2 = 0) Ở phổi, tỉ VA/Q thay đổi theo vùng và theo bệnh lý
Trang 4Rối loạn thông khí-tưới máu thường gặp trong các đợt cấp của viêm phế quản mạn : + Có vùng giảm cả VA lẫn Q
+ Có vùng giảm VA nhưng Q vẫn bình thường
+ Có vùng VA vẫn bình thường nhưng Q mất
Cuối cùng PaCO2 và PaO2 giảm như trường hợp giảm thông khí phế nang toàn bộ
Có 3 loại bất thường của tỷ này:
+ Shunt phổi: sự lưu thông máu trong hệ thống động mạch không đi qua những vùng
được hô hấp Thường gặp trong phù phổi, xẹp phổi
+ Hiệu quả shunt: sự khuếch tán của những đơn vị phổi đã giảm thông khí, tỉ thông
khí/tưới máu giảm, nhưng những phế nang vẫn còn hoạt động ít nhất ở giai đoạn đầu của sự thông thương với đường hô hấp; thiếu oxy máu là do sự giảm sự cung cấp khí oxy của máu tĩnh mạch Thường gặp hiệu quả shunt trong: phù phổi, bệnh phổi cấp, viêm phế quản cấp, viêm phế quản mạn, tràn dịch màng phổi
+ Hiệu quả khoảng chết: sự giảm thông khí của một đơn vị phổi vẫn còn hô hấp được
khiến tỉ VA/Q có khuynh hướng vô hạn Sự nghẽn hay phá hủy mạch máu phổi (thuyên tắc động mạch phổi, khí phế thủng) gây nên một khoảng chết thêm vào khoảng chết giải phẫu Sự thiếu oxy máu càng nặng khi số lượng phế nang không tham gia vào sự trao đổi khí vàng nhiều; sự tăng thông khí (thở bù) đưa đến một sự giảm khí cácbonic máu nếu khí trong phế nang không bị
ứ lại trong kỳ thở ra (viêm phế quản mạn, hen phế quản cấp nặng)
1.3 Rối loạn khuếch tán
Một vài bệnh phổi như bệnh phổi kẽ xơ hóa gây nên tổn thương màng hô hấp, bề dày màng này >0,5 sẽ làm giảm sự trao đổi khí oxy từ phế nang sang mao mạch
Tình trạng bloc phế nang mao mạch: được xác định bằng xét nghiệm PaO2 giảm, PaCO2 vẫn bình thường (vì CO2 khuyếch tán nhanh gấp 25 lần O2 qua màng phế nang mao mạch) Nhưng có khi tình trạng tắc đàm lại kèm theo giảm thông khí phế nang làm cho PaCO2 tăng Bloc phế nang mao mạch là cơ chế cơ bản trong ARDS và phù phổi cấp tổn thương Tuy nhiên vai trò bloc phế nang-mao mạch gây nên thiếu oxy máu còn bàn cãi
2 Cơ chế gây nên sự thay đổi khí CO 2 trong máu
Áp lực khí CO2 trong phế nang và trong động mạch thay đổi ngược chiều với thông khí phế nang Việc tạo khí CO2 thường đóng vai trò không quan trọng trong sự thay đổi khí CO2 máu
- Giảm khí CO2 máu: là hậu quả của sự tăng thông khí gây nên do thiếu oxy máu
- Tăng khí CO2 máu: là sự không thích ứng của hệ số thanh lọc phổi đối với khí CO2
IV TRIỆU CHỨNG HỌC
1 Lâm sàng
1.1 Nhịp thở và biên độ hô hấp
Thiếu oxy máu và hay là tăng khí cácbonic máu gây nên thở nhanh, tần số thở >25 lần/phút phối hợp với sự co kéo các cơ hô hấp, thấy rõ ở hỏm trên xương ức và các khoảng gian
Trang 5sườn; ở trẻ em có thể kèm theo cánh mũi phập phồng Trong những trường hợp có tổn thương do liệt (viêm đa rễ thần kinh, liệt 4 chi do tổn thương tủy sống, bệnh nhược cơ nặng, ngộ độc barbiturate, rắn cắn ), tần số thở thường giảm <12 lần/phút, không co kéo cơ hô hấp, biên độ hô hấp yếu, bệnh nhân không ho được, do đó gây nên ứ đọng đàm giải trong phế quản
Theo dõi nhịp thở rất quan trọng vì nhịp thở chậm có thể là sự cải thiện của trao đổi khí oxy máu nhưng cũng có thể là sự suy kiệt cơ hô hấp nhất là trong hen phế quản cấp nặng
Trong các bệnh thanh-khí quản, người ta thấy có sự phối hợp khó thở vào
1.2 Tím
Tím là dấu chứng chủ yếu, xuất hiện ở môi, đầu ngón tay chân, mặt hay toàn thân khi hemoblogine khử >50g/l Tương ứng SaO2 <85 % Tím càng rõ khi hemoglobine máu càng cao (suy hô hấp mạn); không thấy rõ khi thiếu máu nặng Không xanh tím mà đỏ tía, vã mồ hôi nếu tăng CO2 máu, tím đi kèm giãn mạch ở đầu chi
1.3 Dấu chứng tuần hoàn
Thiếu oxy máu và tăng CO2 máu làm tăng tỉ catécholamine và như vậy làm mạch nhanh (thường nhịp nhanh xoang hay cơn nhịp nhanh: flutter, rung nhĩ nhanh hoặc cơn nhịp nhanh bộ nối; loạn nhịp trên thất; rung thất thường là biểu hiện cuối cùng), gây nên những cơn tăng huyết
áp và tăng cung lượng tim, giai đoạn sau huyết áp có thể hạ
1.4 Dấu chứng suy thất phải cấp
Đặc biệt thường gặp trong đợt cấp của suy hô hấp mạn Dấu chứng chính là: gan lớn, dấu hiệu phản hồi gan tĩnh mạch cổ, nặng hơn là tĩnh mạch cổ nổi tự nhiên (ở tư thế 450), những dấu chứng nầy giảm khi suy hô hấp cấp giảm
1.5 Dấu chứng thần kinh tâm thần: chỉ gặp trong suy hô hấp cấp nặng; đó là trạng thái kích thích, vật vã, rối loạn tri giác như lơ mơ hay hôn mê
2 Cận lâm sàng
2.1 Khí máu động mạch
2.1.1 Bình thường
- PaO2 là 80 - 95 mmHg
- PaCO2 là 38 - 43 mmHg
- pH máu là 7,38 - 7,43
- Dự trử kiềm là 24 - 26 mmol / l
2.1.2 Bệnh lý
- Thiếu oxy máu: PaO2 có thể giảm chỉ còn 25 mmHg
- Rối loạn khí cácbonic: sẽ đưa đến rối loạn cân bằng toan kiềm
- Tăng PaCO2: đưa đến toan hô hấp mà sự bù trừ là nhờ những chất đệm của máu và của mô và nhờ sự thải ion H+ qua thận Khi có tăng PaCO2 cấp, cơ chế đệm lúc đầu là huyết tương và huyết cầu, sau đó là mô và thận can thiệp trong giai đoạn 2 vào giờ thứ 24 bằng cách tăng thải trừ ion
Trang 6H+ và tái hấp thu ion Na+ và bicarbonate Toan hô hấp gọi là còn bù khi những chất đệm tế bào được sử dụng giữ cho pH không giảm Sự bù trừ nầy được giới hạn bởi sự gia tăng bicarbonate không quá 50 mmol/l
- Giảm PaCO2: đưa đến kiềm hô hấp với giảm bicarbonate huyết tương
2.2 Khảo sát tim mạch: ECG, thông tim phải, siêu âm Doppler tim để khảo sát tổn thương tim 2.3 Xquang ngực: có thể phát hiện những tổn thương ở chủ mô phổi, màng phổi, trung thất
V PHÂN GIAI ĐOẠN SUY HÔ HẤP CẤP
Bảng 1: Các giai đoạn của suy hô hấp cấp
Triệu chứng Giai đoạn 1 Giai đoạn 2 Giai đoạn 3 Giai đoạn 4 Khó thở Khi gắng sức,
khi nằm lồng ngực di động được
Liên tục, lồng ngực di động khó khăn
Liên tục, lồng ngực không di động, cơ hô hấp còn hoạt động mạnh
Liên tục, các cơ
hô hấp hoạt động yếu, thở nông, rối loạn
hô hấp Tần số thở
lần/phút
25-30 khi gắng sức
< 10
chi
Toàn thân
VI TIẾN TRIỂN VÀ BIẾN CHỨNG
Suy hô hấp nếu được điều trị sớm, đúng mức có thể lui bệnh hoàn toàn Trong quá trình tiến triển có thể bội nhiễm phổi hay đường tiểu nhất là đối với những bệnh nhân có đặt nội khí quản hay đặt sonde tiểu
Nếu điều trị không kịp thời có thể tiến triển nặng dần, hôn mê và tử vong
VII ĐIỀU TRỊ
1 Nguyên tắc điều trị
- Làm thông thoáng đường hô hấp
- Liệu pháp oxy
Trang 7- Đặt ống nội khí quản, mở khí quản, hỗ trợ hô hấp.
- Chống nhiễm khuẩn, bội nhiễm
- Kiềm hóa huyết tương
2 Điều trị cụ thể
2.1 Điều trị hổ trợ và giải phóng đường hô hấp
- Đặt bệnh nhân (BN) ở tư thế thuận lợi cho việc hồi sức và lưu thông đường thở:
+ Nằm nghiêng an toàn cho BN hôn mê chưa được can thiệp
+ Nằm ngửa cồ ưỡn cho BN ngưng thở ngưng tim
+ Nằm Fowler cho BN phù phổi, phù não và phần lớn các BN SHH
- Lau hút sạch khoang miệng, mũi, hầu
- Nghiệm pháp Heimlich cho BN bị dị vật đường hô hấp trên
- Đặt canuyn Mayo để khỏi tụt lưỡi, đặt đầu ngửa ra sau-hoặc kéo lưỡi ra ngoài khi tụt lưỡi (điển hình trong các chấn thương hàm mặt)
- Có thể luồn dây polyten qua màng giáp nhẫn vào khí quản và đưa sâu xuống carena để kích thích ho tống đàm và qua đó cũng có thể bơm thuốc cần thiết
- Hút đàm giải, chất xuất tiết bằng máy hút: Rửa phế quản, làm loãng đàm bằng khí dung, bơm dung dịch NaHCO3 14‰ hay dung dịch NaCl 9‰, 2 - 5 ml mỗi lần rồi hút ra
- Bồi phụ nước và điện giải và thăng bằng toan-kiềm: Đảm bảo có sự cân bằng giữa lượng dịch ra-vào hàng ngày, tránh khô quánh đàm, chất xuất tiết phế quản Nếu có toan hô hấp thì phải truyền dịch kiềm NaHCO3 hay THAM Liều lượng NaHCO3 hay THAM được tính theo kết quả kiềm dư (BE) và trọng lượng cơ thể của bệnh nhân (ml dung dịch NaHCO3 8,4% = [EB] x 0,6P) hoặc (ml THAM 0,3M = [EB] x P), nhưng thông thường có thể cho 75ml NaHCO3 8,4% hoặc 450ml THAM 0,3M Hoặc tính theo công thức: HCO3- thiếu = 0.4P x (20 - HCO3-bn)
Lưu ý: 1g NaHCO3 có 12mEq (hay mmol) HCO3
-2.2 Liệu pháp oxy
* Thở oxy
Khí oxy phải làm ẩm và làm ấm oxy đó trước khi sử dụng cho bệnh nhân Khí oxy phải qua một bình chứa nước và được làm ấm bằng máy siêu âm hay bằng những tấm được làm nóng lên
* Những phương tiện thở oxy
+ Xông mũi thường đựoc áp dụng
Thường dùng nhất đầu của ống xông có nhiều lỗ, đặt không vượt quá lỗ mũi sau (chiều dài là khoảng cách giữa mũi và dái tai)
Xông mũi có thể dùng cho những cung lượng từ 1 - 6 lít / phút, thường dùng trong những trường hợp suy hô hấp nhẹ hay vừa
* Chỉ định
+ Thở oxy nguyên chất
Áp dụng trong rất ít trường hợp như ngưng tim, chảy máu nặng
Trang 8+ Khí thở được tăng cường oxy
- Những bệnh nhân có nồng độ khí carbonic máu bình thường hay giảm: Tất cả những tình trạng thiếu oxy máu thì PaO2 đều giảm dưới 65 mmHg, cho thở oxy với cung lượng 4 - 6 lít / phút bằng xông mũi hay trong những trường hợp thiếu oxy nặng hơn thì sử dụng mặt nạ oxy
Sonde mũi: FiO2 tối đa đạt được # 0.4 (6 l/ph)
Mặt nạ: FiO2 tối đa đạt được # 0.6 (8 l/ph)
Mặt nạ có bóng dự trữ: FiO2# 0.8 (9 l/ph)
- Những bệnh nhân có nồng độ khí carbonic trong máu cao mạn tính: đó là những trường hợp suy hô hấp mạn, cung lượng oxy dùng ở bệnh nhân bị suy hô hấp mạn là thấp khoảng 1 - 3 lít / phút, thở ngắt quảng và được kiểm soát nồng độ các khí trong máu
2.3 Đặt nội khí quản
* Chỉ định
- Khi có trở ngại đường hô hấp trên như phù nề, vết thương thanh quản, hôn mê gây tụt lưỡi
- Khi cần giảm khoảng chết để tăng thông khí phế nang, hỗ trợ hô hấp, cần thở oxy, thở máy
- Khi có tăng khí cácbonic máu
- Khi cần bảo vệ đường hô hấp, phòng hít sai lạc
* Phương pháp
Có hai phương pháp:
+ Đặt nội khí quản đường mũi
Còn gọi là đặt nội khí quản mò, là phương pháp được dùng phổ biến, nhất là đối với trẻ sơ sinh, trẻ còn bú và trẻ em, đặc biệt trong bệnh uốn ván và trong hồi sức nội khoa Bệnh nhân đặt ở tư thế Jackson cải tiến: nằm ngữa, kê vai cao 5-7 cm để ngữa cổ vừa phải hoặc tư thế nửa ngồi, nhất
là khi sợ máu, mủ, dịch từ phổi bệnh trào sang phổi bên kia
Đặt nội khí quản đường miệng
Bệnh nhân được đặt trong tư thế như trên: tư thế Jackson hay nửa ngồi Cho thở oxy vài phút trước khi đặt ống
Thông thường, ống không đặt quá 3 ngày
Trang 92.4 Mở khí quản
* Chỉ định
Như chỉ định đặt nội khí quản hay không đặt được ống hay khi cần đặt ống quá 3 ngày
* Phương pháp
- Mở khí quản cao: dễ thấy khí quản hơn
- Mở khí quản thấp
Tai biến có thể gặp khi đặt nội khí quản và mở khí quản
* Tai biến khi đặt
Chảy máu, phù nề thanh quản, thủng khí quản, co thắt thanh môn, ngưng tim
* Tai biến sau khi đặt
Nhiễm khuẩn nơi đặt, viêm phổi, loét, hoại tử khí quản, rò khí thực quản, tổn thương dây thanh âm, xẹp phổi, tràn khí màng phổi, tràn khí trung thất, tràn khí dưới da
2.5 Hỗ trợ hô hấp
* Dụng cụ hỗ trợ hô hấp bằng tay
Khí thở được cung cấp cho bệnh nhân là khí trời
- Loại có bóng: Ambu, Canister
- Loại có túi xếp: Ranima, Drager
* Thở máy (ventilation mecanique)
+ Chỉ định
Thở máy được dùng khi các phương pháp hỗ trợ hô hấp thông thường không có hiệu quả
Ba loại bệnh nhân lớn tương ứng với ba mức độ khác nhau về khí carbonic trong máu Mỗi loại bệnh nhân cần một cách thức điều chỉnh hô hấp nhân tạo khác nhau:
- Loại bệnh nhân thứ nhất: là loại có một sự gia tăng nhiều khí carbonic kèm một sự giảm khí oxy máu, như sự mất bù cấp của những suy hô hấp mạn, thở oxy phải bắt đầu với cung lượng thấp, sau đó tăng dần lên nhưng rất chậm, khả năng cung cấp oxy (FiO2) cao nhất là lúc khởi đầu
- Loại bệnh nhân thứ hai: là loại đang hình thành sự tăng khí carbonic máu, bệnh nhân này có thể
hô hấp hoàn toàn bình thường với FiO2 khoảng 50%
- Loại bệnh nhân thứ ba: là loại có một sự giảm khí carbonic máu Hiện tượng tăng hô hấp thứ phát sau thiếu khí oxy máu Tuy nhiên do có bệnh lý phổi bên dưới, nên sự tăng hô hấp không kéo theo một sự tăng PaO2 được Bởi vậy bệnh nhân nặng dần dần, càng ngày nợ oxy càng trở nên trầm trọng
- Có 5 loại máy thở:
+ Máy thở tạo ra chu kỳ dựa trên tần số
+ Máy thở tạo ra chu kỳ dựa trên thể tích
+ Máy thở tạo ra chu kỳ dựa trên áp lực
+ Máy thở tạo ra chu kỳ dựa trên dòng khí
+ Máy thở tạo ra chu kỳ hỗn hợp
Trang 102.6 Chống nhiễm khuẩn: Các vi khuẩn gây bội nhiễm thường là Streptococcus pneumoniae, Haemophilus influenza, Stapylococcus aureus, Klebsiella pneumoniae, v.v , nên phải cho các kháng sinh thích hợp
2.7 Dẫn lưu màng phổi: chỉ định trong các hội chứng tràn khí màng phổi, tràn khí trung thất, tràn máu-tràn dịch màng phổi Phải dẫn lưu ở khoảng liên sườn 2 với ống bằng cao su hoặc chất dẻo, có đường kính 0,3-0,5mm, dẫn lưu kín, một chiều, vô khuẩn và có áp lực hút khoảng 20-35mmHg (nếu là tràn khí)
Trường hợp vỡ, rách phế quản, có tràn khí màng phổi lớn, dẫn lưu không hiệu quả thì phải cấp tốc can thiệp phẫu thuật và đặt ống Carlens hoặc nội phế quản để mổ Rút ống dẫn lưu trong vòng 48 giờ hoặc 72 giờ sau khi hết khí hoặc dịch Tuỳ theo nguyên nhân và mức độ, có thể áp dụng các thủ thuật sau đây:
2.8 Các thuốc kích thích hô hấp
Niketanmit, lobelin, diamox, micoren kích thích trung tâm hô hấp, chỉ được chỉ định sau khi đường hô hấp được thông suốt và bệnh nhân phải được thở oxy, tác dụng tốt trên những bệnh nhân đợt cấp suy hô hấp mạn Trường hợp trung tâm hô hấp bị ức chế bởi các thuốc
barbituric, morphin, dolargan có thể dùng các thuốc đối kháng như bemegride, nalocphin
Các thuốc dùng trong hồi sức hô hấp:
- Aminophylin (diaphylin) có tác dụng tốt trong cơn hen phế quản Thuốc này cần hoà loãng trong 20ml glucoza 30% tiêm chậm tĩnh mạch trong 5 phút Tiêm nhanh có thể gây cơn nhịp nhanh (trên thất, rung thất)
- Corticoid chỉ có tác dụng trong một số cấp cứu cơn hen phế quản, phù thanh quản, phù phổi cấp tổn thương, hội chứng Mendelson
- Thuốc long đàm được dùng rộng rãi trong hồi sức hô hấp: mucomyst, musolvan 2.9 Điều trị nguyên nhân: Điều trị nguyên nhân gây SHH song song với việc điều chỉnh tình trạng giảm oxy máu, tăng carbonic máu
- Đối với SHH cấp do các bệnh tại phổi:
+ Lấy bỏ dị vật trong tắc nghẽn đường thở…
+ Kháng sinh trong viêm phổi
+ Thuốc giãn phế quản và chống viêm trong hen phế quản và COPD…
+ Chọc tháo dẫn lưu trong tràn dịch-khí màng phổi…
- Đối với SHH do nguyên nhân ngoài phổi:
+ Giải độc đặc hiệu bằng Naloxon trong ngộ độc Heroin – Morphin, Anexat trong ngộ độc Benzodiazepine…
+ Phẫu thuật lấy máu tụ ngoài màng cứng trong CTSN, thuốc tiêu sợi huyết trong đột qụy nhồi máu…
+ Lọc máu, thay huyết tương trong bệnh nhược cơ, Guillain-Barré…
+ Cố định, giảm đau trong gãy nhiều xương sườn, mảng sườn di động…