1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên Cứu Khoa Học 2021_Official (1).Pdf

130 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tính Độc Lập Của Kiểm Toán Viên Và Việc Cung Cấp Các Dịch Vụ Phi Kiểm Toán: Góc Nhìn Nhà Đầu Tư Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kế Toán Kiểm Toán
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 1,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN VIỆN KẾ TOÁN KIỂM TOÁN BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI THAM GIA XÉT GIẢI THƯỞNG "SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC" NĂM 2021 TÍNH ĐỘC LẬP CỦA KIỂM TOÁN VIÊN VÀ VIỆC CUNG[.]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN VIỆN KẾ TOÁN KIỂM TOÁN

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

ĐỀ TÀI THAM GIA XÉT GIẢI THƯỞNG "SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC"

NĂM 2021

TÍNH ĐỘC LẬP CỦA KIỂM TOÁN VIÊN VÀ VIỆC CUNG CẤP CÁC DỊCH VỤ PHI KIỂM TOÁN:

GÓC NHÌN NHÀ ĐẦU TƯ VIỆT NAM

Thuộc lĩnh vực khoa học và công nghệ: Khoa học xã hội

HÀ NỘI, 3/2022

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Chúng tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu khoa học “Tính độc lập của

Kiểm toán viên và việc cung cấp các dịch vụ Phi kiểm toán: Góc nhìn Nhà đầu tư Việt Nam” là công trình nghiên cứu độc lập của chúng tôi Các số liệu sử dụng trong

bài nghiên cứu được thu thập từ thực tế, đáng tin cậy, có nguồn gốc rõ ràng và được xử

lý trung thực, khách quan Tài liệu tham khảo có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng, kết quả của đề tài nghiên cứu không sao chép bất kì công trình nào

Hà Nội, tháng 3 năm 2022

Đại diện Nhóm

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC VIẾT TẮT……… DANH MỤC BẢNG BIỂU……… TÓM TẮT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC………

1.2 Tổng quan các công trình có liên quan đến Đề tài nghiên cứu 3

1.2.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu về Tính độc lập của KTV và việc

1.2.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu về Tính độc lập của KTV và việc

cung cấp các dịch vụ NAS dưới góc nhìn của các nhóm NĐT trên Thế giới 6

2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tính độc lập của KTV khi cung cấp dịch vụ NAS

2.4 Các trường phái lý thuyết liên quan đến Đề tài nghiên cứu 24

Trang 4

3.2 Sự phù hợp của phương pháp nghiên cứu 29

3.6.1 Mô hình nghiên cứu và xây dựng giả thuyết nghiên cứu 33 3.6.2 Thiết kế bảng câu hỏi nghiên cứu định lượng 41

4.2.1 Kiểm định dạng phân phối của các thang đo 55

4.2.5 Phân tích hồi quy và kiểm định giả thuyết nghiên cứu 71

4.3.1 Ảnh hưởng của việc cung cấp các dịch vụ NAS 78 4.3.2 Ảnh hưởng của các loại hình dịch vụ NAS khác nhau 80

5.2 Hạn chế của nghiên cứu & định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo: 93

Trang 5

5.3.3 Khuyến nghị với các doanh nghiệp niêm yết 94

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

2 NAS Non-audit services (dịch vụ phi kiểm toán)

4 TTCK Thị trường chứng khoán

5 BCTC Báo cáo tài chính

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.6.2: Các nhân tố được sử dụng trong mô hình nghiên cứu 42

Bảng 4.5 Nhân tố: Tính độc lập của KTV dưới góc nhìn của các NĐT Việt Nam 56 Bảng 4.6 Nhân tố: Cung cấp dịch vụ Phi kiểm toán (NAS) 56

Bảng 4.9 Nhân tố: Loại hình dịch vụ Phi kiểm toán (NAS) 59 Bảng 4.10 Kết quả Tổng phương sai tích (Total Variance Explained) 61

Bảng 4.12 Kết quả Tổng phương sai tích chính thức (Total Variance Explained) 65 Bảng 4.13 Ma trận xoay nhân tố chính thức (Rotated Component Matrix) 66 Bảng 4.14 Kết quả Tổng phương sai tích (Total Variance Explained) 68 Bảng 4.15 Kết quả Tổng phương sai tích (Total Variance Explained) 69 Bảng 4.16 Hệ số tương quan giữa các nhóm nhân tố 70

Bảng 4.18 Kết quả phân tích ANOVA của hồi quy đa biến 73

Biểu đồ 4.1 Biểu đồ Histogram và Normal P-P Plot giả định phân phối chuẩn

Biểu đồ 4.2 Biểu đồ Scatterplot giả định liên hệ tuyến tính 75

Trang 8

TÓM TẮT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Đề tài nghiên cứu khoa học nghiên cứu nhận thức của các NĐT Việt Nam về Tính độc lập của KTV và việc cung cấp các dịch vụ phi kiểm toán (NAS) Nhóm tác giả thực hiện Nghiên cứu định tính kết hợp Nghiên cứu định lượng Trong Nghiên cứu định tính, nhóm nghiên cứu đã thực hiện phỏng vấn sâu 10 chuyên gia trong linh vực

Kế toán - Kiểm toán Việt Nam Thông qua Nghiên cứu định tính, nhóm nghiên cứu đã

có những điều chỉnh thích hợp cho mô hình nghiên cứu, từ đó làm cơ sở xây dựng bảng hỏi trong Nghiên cứu định lượng Sau đó, với 1010 câu trả lời hợp lệ thu thập từ bảng hỏi khảo sát, các tác giả sử dụng phần mềm SPSS 26 để thực hiện Thống kê mô tả; Phân tích Cronbach’s Alpha; EFA; Tương quan Pearson và Hồi quy tuyến tính/ nhị phân Kết quả nghiên cứu chính cho thấy dưới góc nhìn của các NĐT Việt Nam, việc cung cấp các dịch vụ NAS là có ảnh hưởng tiêu cực đến Tính độc lập của KTV, trong

đó Tính độc lập của KTV bị ảnh hưởng bởi các nhân tố: “Cung cấp dịch vụ NAS”,

“Mức phí dịch vụ NAS”, “Độ dài của Nhiệm kỳ Kiểm toán”, “Loại hình dịch vụ NAS”; các yếu tố nhân khẩu học như giới tính, tuổi và thâm niên không ảnh hưởng đến nhận thức của các NĐT về mối liên hệ này Từ đó, nhóm nghiên cứu đưa ra một

số khuyến nghị với Cơ quan quản lý và các bên liên quan của doanh nghiệp có BCTC được Kiểm toán, nhằm giảm thiểu ảnh hưởng của việc cung cấp các loại hình dịch vụ NAS lên Tính độc lập của KTV về cả mặt hình thức lẫn tư tưởng, nâng cao chất lượng nhân sự thực hiện kiểm toán tại các công ty kiểm toán hoạt động tại Việt Nam, đồng thời gia tăng niềm tin trong nhận thức của các NĐT vào ý kiến kiểm toán trên BCTC được kiểm toán giúp thúc đẩy sự phát triển của TTCK Việt Nam theo hướng tích cực

Trang 9

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1 Tính cấp thiết của Đề tài nghiên cứu

Dưới áp lực về uy tín, thương hiệu và lợi nhuận cho quản trị; gần đây, nhiều công ty kiểm toán đã cung cấp dịch vụ NAS bên cạnh các dịch vụ kiểm toán cơ bản Những thay đổi về tỷ lệ dịch vụ của Công ty kiểm toán như vậy đã làm phát sinh vấn

đề liên quan đến tính độc lập của KTV và việc cung cấp dịch vụ NAS Tính độc lập là một yếu tố có ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng kiểm toán, là nền tảng của chức năng kiểm toán (Lowe, Geiger & Pany, 1999) đặc biệt là trong thời gian gần đây khi thị trường ngày càng đòi hỏi tính minh bạch cao Chất lượng kiểm toán theo nhận thức của thị trường là khả năng phát hiện và báo cáo các sai phạm trọng yếu trong BCTC của đơn vị được kiểm toán (DeAngelo, 1981)

Về mặt lý thuyết, nhu cầu về dịch vụ kiểm toán bắt nguồn từ nhu cầu tạo thuận lợi cho các mối quan hệ hợp đồng giữa khách hàng kiểm toán và các nhóm NĐT (Duff, 2004), Trong khi có nhiều nghiên cứu cho rằng việc cung cấp các dịch vụ NAS cho khách hàng làm giảm tính độc lập của KTV; như việc KTV cung cấp dịch vụ hỗ trợ kiện tụng có khả năng biện hộ quan điểm khách hàng của họ, từ đó làm suy giảm tính độc lập kiểm toán (Brody & Masselli, 1996; Haynes và cộng sự, 1998; Shaub, 2004; Francis và công sự, 2004; Jenkins & Lowe, 2011) Hay việc Simunic (1984), Beck, Frecka và Solomon (1988) đã từng bày tỏ lo ngại rằng mối quan hệ kinh tế giữa KTV và khách hàng trở nên bền chặt hơn khi tính độc lập về thuế và quản lý bị đe dọa Ngược lại, cũng có một số nghiên cứu cho rằng dịch vụ NAS nâng cao kiến thức của KTV về khách hàng và do đó tính khách quan và độc lập sẽ tăng lên (Jenkins và Krawezyk, 2002; Lennox, 1999)

Chất lượng kiểm toán là một vấn đề trọng yếu đối với một nghề kế toán đang phải đối mặt với sự chỉ trích từ các cơ quan quản lý và nhóm các cổ đông Một cuộc kiểm toán chất lượng cao sẽ làm giảm các mối lo ngại liên quan đến BCTC của các NĐT (Wallace, 1985) Knechel và Sharma (2008) cho rằng KTV cung cấp các dịch vụ NAS đã là một chủ đề gây tranh cãi trong nhiều năm đặc biệt trong các cuộc tranh luận

về các mối đe dọa tiềm tàng đối với Tính độc lập của KTV Tuy nhiên, Zoe-Vonna Palmrose (1986) đã đưa ra nhận định rằng khách hàng cảm nhận tốt hơn với việc được

Trang 10

công ty kiểm toán cung cấp đồng thời dịch vụ kiểm toán và NAS Ủng hộ cho nhận định này, Mohinder Parkash và Carol F Venable (1993) chỉ ra khách hàng có định hướng mua dịch vụ NAS vì có sự lan tỏa kiến thức khi có sử dụng đồng thời của dịch

vụ kiểm toán và dịch vụ NAS từ một công ty kiểm toán Vì sự xuất hiện của các luồng

ý kiến trái chiều, theo Schneider và cộng sự (2006) các nghiên cứu trong tương lai cần phải mô tả tác động của dịch vụ NAS đối với các loại NĐT khác nhau, bao gồm cả những người mới làm quen, đồng thời nên kiểm tra thêm loại dịch vụ NAS nào là vấn

đề nhất đối với người sử dụng BCTC Các phát hiện từ nghiên cứu này có thể cung cấp thông tin cho các nhà quản lý và ủy ban kiểm toán của các tập đoàn quan tâm đến nhận thức của NĐT liên quan đến dịch vụ NAS do KTV bên ngoài của họ cung cấp

Đối với nước ta ngành Kiểm toán còn non trẻ và có đặc điểm kinh tế, văn hóa,

xã hội khác so với các nước trên thế giới Trong xu thế hội nhập về dịch vụ kế toán, kiểm toán với khu vực và quốc tế, những đòi hỏi về thực tiễn quản lý đã đặt ra yêu cầu phải nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp của các công ty kiểm toán độc lập Việt Nam Một nhân tố thiết yếu góp phần cải thiện và nâng cao chất lượng của các cuộc kiểm toán là việc đánh giá khoa học và chuẩn xác tính độc lập của KTV và việc cung cấp các dịch vụ NAS Tại Việt Nam, tính độc lập của KTV và việc cung cấp các dịch

vụ NAS là một vấn đề đã được quan tâm và nghiên cứu từ lâu nhưng chưa từng có nghiên cứu nào dành riêng cho bộ phận NĐT Đặc biệt, trong bối cảnh hiện tại: Đại dịch Covid 19 đang hoành hành khiến mọi ngành công nghiệp, hoạt động giao thương, buôn bán bị đình trệ thì người dân bắt đầu hướng sự quan tâm vào nguồn thu nhập đến

từ các sàn giao dịch chứng khoán Bằng chứng là theo Trung tâm lưu ký chứng khoán (VSD), số lượng NĐT cá nhân trong nước đã mở mới tài khoản riêng 11 tháng đầu năm 2021 là 1,3 triệu tài khoản, tăng 230% so với số lượng tài khoản mở mới năm

2020

Và, điều đặc biệt là Nghiên cứu về tính độc lập của KTV và các dịch vụ NAS

dưới góc nhìn các NĐT chưa từng được thực hiện ở Việt Nam Vì vậy, nghiên cứu

“Tính độc lập của KTV và việc cung cấp các dịch vụ NAS: Góc nhìn của các NĐT Việt Nam.” có ý nghĩa thiết thực cả về lý luận và thực tiễn Nghiên cứu sẽ tiến hành khảo

sát và phân tích nhằm xác định mức độ ảnh hưởng của các dịch vụ NAS đến tính độc lập của KTV, đồng thời xác định loại hình dịch vụ NAS được cho là có ảnh hưởng

Trang 11

nhất đến tính độc lập của KTV dưới góc nhìn của các nhóm NĐT Việt Nam Từ đó, đưa ra các kiến nghị góp phần bảo đảm tính độc lập của KTV và giữ vững/cải thiện niềm tin của các NĐT vào ý kiến Kiểm toán

1.2 Tổng quan các công trình có liên quan đến Đề tài nghiên cứu

Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu liên quan tác động của dịch vụ NAS đến tính độc lập của KTV tại nhiều thị trường khác nhau qua các thời kỳ Có thể kể tới các nghiên cứu điển hình dưới đây

1.2.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu về Tính độc lập của KTV và việc cung cấp dịch vụ NAS trên Thế giới và Việt Nam

1.2.1.1 Nghiên cứu trên thế giới

Tại Úc, Allen T Craswell (1999) đã tiến hành nghiên cứu: “Việc cung cấp các dịch vụ NAS có ảnh hưởng đến tính độc lập của KTV không?”, nghiên cứu được thực hiện để điều tra xem việc cung cấp dịch vụ NAS có làm ảnh hưởng đến tính độc lập của KTV hay không bằng cách thử nghiệm xem mối liên hệ giữa việc cung cấp dịch

vụ NAS và ý kiến báo cáo của KTV Dựa trên thông tin công khai về các công ty niêm yết của Úc trong các năm 1984, 1987 và 1994, bằng chứng cho thấy rằng các tính chính xác trong ý kiến được đưa ra của họ không bị ảnh hưởng đáng kể bởi việc cung cấp các dịch vụ NAS

Một nghiên cứu khác được thực hiện ở Vương Quốc Anh cùng năm bởi Beattie

và cộng sự, đã đo lường tính độc lập của KTV thông qua góc nhìn của 153 giám đốc điều hành, 244 Cộng sự Kiểm toán và 18 Nhà báo hoạt động trong lĩnh vực tài chính Kết quả cho thấy Việc cung cấp các dịch vụ NAS là một trong bốn yếu chính ảnh hưởng đến tính độc lập của KTV

Mahdi Salehi (2009) và cộng sự đã nghiên cứu đề tài “Dịch vụ NAS và tính độc lập của KTV: bằng chứng từ Iran” Các tác giả đã tiến hành thu thập dữ liệu bằng cách

gửi 488 bảng câu hỏi tới 227 KTV và 261 cổ đông, sau đó các mẫu câu hỏi trên được phân tích thông qua phần mềm SPSS Kết quả của nghiên cứu này cho thấy các cổ đông hoàn toàn đồng ý rằng việc cung cấp các dịch vụ NAS bởi các KTV bên ngoài cho cùng một khách hàng có ảnh hưởng tiêu cực mạnh mẽ đến tính độc lập kiểm toán

Trang 12

Yu Zhang (2016) cùng các cộng sự đã nghiên cứu về “Các dịch vụ NAS và tính độc lập của KTV: Bằng chứng từ Na Uy” Bài nghiên cứu dựa trên dữ liệu tài chính

của các công ty Na Uy trong giai đoạn 2008-2010, bao gồm dữ liệu của 138 công ty trong năm 2008, 139 công ty trong năm 2009 và 138 công ty trong năm 2010 Các tác giả đã điều tra mối quan hệ giữa “mức phí NAS và ý kiến của KTV” và họ thấy rằng không có bất kì bằng chứng nào cho thấy tính độc lập của KTV bị suy giảm Họ cũng xem xét mối quan hệ giữa “thời hạn nhiệm kỳ của KTV và các dịch vụ NAS”, tương

tự, họ cũng không tìm thấy bằng chứng chứng minh việc mất tính độc lập Ngoài ra, các cuộc kiểm tra về các khoản phí đột xuất hoặc vượt quá và chi phí nợ cũng không cung cấp bất kỳ bằng chứng nào về sự mất độc lập về hình thức của KTV Từ kết quả tổng thể của bài nghiên cứu, nhóm tác giả không cho rằng việc cung cấp các dịch vụ NAS có thể làm suy giảm tính độc lập của KTV

Trong cùng năm 2016, Md Shahidul Islam đã thực hiện nghiên cứu về “ Tác động của các dịch vụ NAS và các quy định về nhiệm kỳ đối với tính độc lập của KTV

và chất lượng BCTC: Bằng chứng từ Vương quốc Anh” để tìm ra tác động của việc

cung cấp dịch vụ NAS và các quy định về nhiệm kỳ của công ty kiểm toán đến tính độc lập của KTV và chất lượng BCTC Kết quả cho thấy dịch vụ NAS và nhiệm kỳ kiểm toán dài có ảnh hưởng tiêu cực đến tính độc lập của KTV và làm giảm chất lượng BCTC Tác giả tán thành quan điểm cấm hoàn toàn việc cung cấp dịch vụ NAS cho các khách hàng kiểm toán và yêu cầu luân chuyển KTV thường xuyên hơn để giúp cải thiện chất lượng BCTC

Một nghiên cứu khác được tiến hành vào năm 2019 bởi Paul Nnamdi Onulaka

và các cộng sự nhằm điều tra mức độ ảnh hưởng của việc cung cấp các dịch vụ NAS đến tính độc lập của KTV và khoảng cách kỳ vọng kiểm toán ở Nigeria 30 cuộc phỏng vấn chuyên sâu với các Partner kiểm toán và quản lý các quỹ lương hưu đã được tiến hành nhằm khám phá quan điểm của họ về vấn đề trên Kết quả phân tích cho thấy việc các công ty kiểm toán cung cấp dịch vụ NAS cho khách hàng mà họ đang kiểm toán sẽ làm giảm tính độc lập của KTV và gia tăng khoảng cách kỳ vọng về kiểm toán Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng phí dịch vụ NAS có ảnh hưởng đến KTV và tán thành việc xây dựng những quy định chặt chẽ hơn về dịch vụ NAS để nâng cao

Trang 13

tính minh bạch của các thông tin kiểm toán

Daniela Hohenfels (2020) cùng cộng sự đã tiến hành nghiên cứu về sự ảnh

hưởng của “Dịch vụ NAS” đến “chất lượng kiểm toán” ở Đức Các tác giả đã sử dụng

mẫu là 2567 công ty niêm yết có chọn lọc ở Đức trong giai đoạn 2006 - 2013 Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng mức phí NAS cao hơn thực sự dẫn đến chất lượng kiểm toán thấp hơn; tính độc lập của KTV đặc biệt bị ảnh hưởng bởi các dịch vụ bảo đảm và các dịch vụ tư vấn, nhưng không bị ảnh hưởng bởi dịch vụ thuế Nhưng họ cũng thấy rằng việc cấm hoàn toàn các dịch vụ NAS sẽ không dẫn đến chất lượng kiểm toán tốt hơn

so với mức chất lượng kiểm toán trung bình Daniela cùng cộng sự cũng tin rằng giới hạn phí Liên minh Châu Âu đặt ra là quá cao, quá lỏng lẻo để tránh các tác động tiêu cực của phí dịch vụ NAS đến chất lượng kiểm toán Do đó, họ đề xuất rằng Đức và các quốc gia thành viên khác nên xem xét việc áp dụng giới hạn phí dịch vụ NAS nghiêm ngặt hơn

1.2.1.2 Nghiên cứu ở Việt Nam

Lê Đoàn Minh Đức (2017) đã thực hiện nghiên cứu “Dịch vụ NAS và tính độc lập của KTV Việt Nam” Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu tư liệu và phương

pháp diễn giải để nghiên cứu để tổng kết các nghiên cứu trước đã công bố trước đó, sau đó tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu theo bối cảnh để xác định các loại hình dịch vụ NAS có thể tác động đến tính độc lập kiểm toán tại Việt Nam, cuối cùng tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu phỏng vấn sâu, tham vấn ý kiến của các chuyên gia là giám đốc công ty kiểm toán, KTV, trợ lý kiểm toán, cán bộ tín dụng ngân hàng, giám đốc và kế toán trưởng công ty được kiểm toán, cán bộ hội nghề nghiệp kiểm toán Việt Nam Kết quả nghiên cứu cho thấy ở Việt Nam, các dịch vụ NAS đang được các công ty kiểm toán cung cấp gồm có: Dịch vụ ghi sổ kế toán, dịch

vụ tư vấn thuế, dịch vụ tư vấn quản lý, dịch vụ tư vấn tài chính, dịch vụ thiết kế hệ thống thông tin kế toán, dịch vụ thiết kế kiểm soát nội bộ, dịch vụ đánh giá kiểm soát nội bộ, dịch vụ cung cấp phần mềm kế toán và thuế, dịch vụ kế toán quản trị, định giá doanh nghiệp, tư vấn niêm yết/ cổ phần hóa doanh nghiệp, dịch vụ đào tạo Trong đó,

“dịch vụ ghi sổ kế toán” và “dịch vụ tư vấn thuế” làm suy giảm đáng kể tính độc lập kiểm toán Các dịch vụ NAS còn lại thì không làm suy giảm tính độc lập của KTV

Trang 14

Phạm Đức Cường (2020) và các cộng sự đã nghiên cứu về “Ảnh hưởng của các dịch vụ NAS đối với tính độc lập của KTV” Các tác giả đã thực hiện phân tích dựa trên

52 mẫu thu thập hợp lệ từ 97 bảng câu hỏi được phát các KTV Kết quả nghiên cứu đã cho thấy có nhiều yếu tố NAS ảnh hưởng tới tính độc lập của KTV, trong đó có 2 yếu

tố ảnh hưởng trực tiếp tới tính khách quan của KTV, đó là: dịch vụ thuế (Taxation services) và dịch vụ tư vấn quản lý (Management advisory services) Nghiên cứu cũng

đề xuất một số giải pháp để duy trì tính lập của KTV khi cung cấp các dịch vụ NAS như nâng cao cả về chất lượng và số lượng nguồn nhân lực kiểm toán, áp dụng công nghệ tiên tiến vào quy trình cung cấp các dịch vụ NAS nhằm tránh sai sót và đảm bảo tính minh bạch

1.2.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu về Tính độc lập của KTV và việc cung cấp các dịch vụ NAS dưới góc nhìn của các nhóm NĐT trên Thế giới

Mary Canning và cộng sự (1999) đã tiến hành khảo sát theo hình thức kết hợp gửi bảng câu hỏi qua email và phỏng vấn bán cấu trúc với 196 cá nhân là các công ty cho vay, các nhà quản lý đầu tư và các chuyên viên phân tích tài chính Kết quả nghiên cứu cho thấy những người được hỏi cho rằng tính độc lập kiểm toán sẽ giảm đi khi các KTV cung cấp các dịch vụ NAS Tuy nhiên, những người được phỏng vấn lại không ủng hộ đề xuất cấm các công ty kiểm toán cung cấp dịch vụ NAS bởi họ cho rằng thông qua việc cung cấp các dịch vụ NAS, kiến thức và kinh nghiệm của KTV về khách hàng sẽ tăng lên, điều này sẽ giúp cải thiện chất lượng và tiết kiệm chi phí cho một hoặc cả hai dịch vụ NAS và kiểm toán Mặc dù vậy, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy những người được hỏi mong muốn có sự tách biệt về nhân sự khi cung cấp các dịch vụ kiểm toán và NAS bởi họ nhận thấy tính độc lập của KTV sẽ được nâng cao khi có sự tách biệt đó

Linda Jeanne Flaming (2002) nghiên cứu về ảnh hưởng của công ty kiểm toán cung cấp dịch vụ NAS đến nhận thức của NĐT về tính độc lập của KTV, chất lượng kiểm toán, mức độ hấp dẫn đầu tư và độ tin cậy của BCTC trên các NĐT: 98 sinh viên kinh doanh tốt nghiệp tại một trường đại học công lập lớn đã tham gia vào cuộc thử nghiệm (29 người trong một trường đại học công lập lớn đã tham gia vào cuộc thử nghiệm 29 người trong lớp Phân tích kế toán tài chính, 17 người là thành viên của lớp

Trang 15

Kiểm soát tài chính định lượng và 52 người đang tham gia khóa học Kế toán cho MBA Sáu mươi bảy (68,4%) cho biết có kinh nghiệm đầu tư vào cổ phiếu và / hoặc quỹ tương hỗ Những người tham gia đã học trung bình 4,2 lớp kế toán ) Kết quả nghiên cứu cho thấy việc công ty kiểm toán cung cấp dịch vụ NAS có ảnh hưởng tiêu cực đến nhận thức của NĐT về tính độc lập của KTV, chất lượng kiểm toán, mức độ hấp dẫn đầu tư và độ tin cậy của BCTC

Một nghiên nghiên cứu về tính độc lập của KTV và việc cung cung cấp các dịch

vụ NAS dưới góc nhìn của các NĐT của Đức vào năm 2009, được thực hiện bởi Reiner Quick đến từ Trường Đại học Kỹ thuật Darmstadt (Đức) và Bent Warming-Rasmussen đến từ Trường Đại học miền Nam Đan Mạch 19 loại hình dịch vụ NAS được đưa vào mẫu khảo sát được gửi đến các thành viên của ‘Börsen-Team’ - câu lạc

bộ đầu tư học thuật lớn nhất tại Đức - trực thuộc Trường Đại học Kỹ thuật Darmstadt

và có số lượng thành viên lên tới 600 Vì khảo sát có thể thực hiện Online nên để tăng

số lượng người tham gia, email đã được chuyển đến các thành viên của câu lạc bộ đầu

tư học thuật của Đại học Bautzen và Hiệp hội các Câu lạc bộ Đầu tư Học thuật Đức, đặc biệt, thành viên của các câu lạc bộ này không chỉ là sinh viên Sự mở rộng này đã đem đến 98 kết quả hữu dụng cho việc thực hiện nghiên cứu Reiner Quick và Bent Warming-Rasmussen, trước đó cũng đã tiến hành phân tích các Nghiên cứu và Lý thuyết trong quá khứ liên quan đến: Ảnh hưởng của việc cung cấp các dịch vụ NAS cho khách hàng kiểm toán đối với sự độc lập ở góc nhìn chủ quan Từ kết quả phân tích, họ cho rằng phần lớn các nghiên cứu và lý thuyết trước đây dẫn đến 4 giả thuyết sau:

- Giả thuyết 1: Việc công ty kiểm toán cung cấp các dịch vụ NAS cho khách hàng kiểm toán của mình có ảnh hưởng tiêu cực đến nhận thức độc lập của KTV

- Giả thuyết 2: Mức độ suy giảm tính độc lập của KTV phụ thuộc vào loại hình dịch vụ tư vấn

- Giả thuyết 3: Việc tách nhân viên tư vấn của công ty kiểm toán khỏi nhân viên kiểm toán làm tăng tính độc lập trong nhận thức

- Giả thuyết 4: Giới hạn tối đa của phí tư vấn bị các NĐT cho là thấp hơn phí tư vấn trong thực tế

Nghiên cứu khoa học này kết thúc và chỉ ra rằng:

- Sự thiếu độc lập không thể được biện minh bằng lập luận về hiệu quả cũng như

Trang 16

cơ hội có thể làm tăng tính hiệu quả của hoạt động trong lĩnh vực kiểm toán và

tư vấn Tuy nhiên, các dịch vụ tư vấn được cải thiện về cơ bản là mang lại lợi ích cho KTV và khách hàng, trong khi đó thiếu tính độc lập lại gây hại đến lợi ích của các bên liên quan khác cụ thể là các NĐT

- Nhu cầu hạn chế cơ hội của KTV theo luật định để cung cấp dịch vụ tư vấn được ghi nhận Các dịch vụ NAS được cho là có khả năng tạo ra các mối đe dọa tương ứng với các loại hình dịch vụ khác nhau, dẫn đến nhận thức tiêu cực hơn về tính độc lập của KTV Do đó, có thể kết luận rằng các quy tắc độc lập liên quan đến các dịch vụ NAS có thể được phân biệt

- Theo kết quả nghiên cứu thực nghiệm trước đó, sự tách biệt nội bộ của kiểm toán và chức năng tư vấn trong cùng một công ty kiểm toán được xem là có lợi bởi các NĐT Đức Tuy nhiên, kết quả này đã không được tìm thấy cho nhóm không phải là sinh viên Do đó, không thể kết luận rằng nhà lập pháp nên yêu cầu tách biệt nội bộ các chức năng như vậy

- Kết quả xác nhận các phát hiện từ nghiên cứu thực nghiệm trước đây rằng: Nguy

cơ phụ thuộc được nhận thức sẽ tăng lên với số phí tư vấn lớn hơn Có thể kết luận rằng giới hạn phí mà một công ty trả cho công ty Kiểm toán độc lập làm việc cho họ đối với các dịch vụ Phi kiểm kiểm toán theo tỷ lệ phần trăm của cả phí cho dịch vụ Kiểm toán và NAS sẽ góp phần làm gia tăng tính độc lập của KTV

Ibrahim El-Sayed Ebaid (2011) đã tìm hiểu về góc nhìn của NĐT Ai Cập về tính độc lập của KTV khi cung cấp các dịch vụ NAS Ông đã khảo sát 144 sinh viên sau đại học ngành kế toán và tài chính đến từ ba trường đại học của Ai Cập: Đại học Cairo, Đại học Alexandria và Đại học Tanta Sở dĩ ông chọn mẫu thử là các sinh viên sau đại học bởi thị trường vốn ở Ai Cập là một thị trường mới nổi, Ai Cập thiếu các NĐT tổ chức

và phần lớn các NĐT trên thị trường vốn ở Ai Cập là các NĐT cá nhân (ít thành thục hoặc không chuyên nghiệp) Kết quả của nghiên cứu cho thấy nhận thức của NĐT về tính độc lập của KTV, độ tin cậy của BCTC và quyết định đầu tư sẽ giảm đi khi KTV cung cấp cả dịch vụ kiểm toán và dịch vụ NAS Thêm vào đó, nghiên cứu cũng chỉ rằng nhận thức của NĐT về tính độc lập của KTV, độ tin cậy của BCTC và quyết định đầu tư sẽ thấp hơn khi các dịch vụ NAS được cung cấp bởi cùng một nhân viên thực

Trang 17

hiện kiểm toán BCTC so với trường hợp mà các dịch vụ NAS và kiểm toán BCTC được thực hiện bởi các nhân viên riêng biệt

Eleanor Dart (2011) đã gửi bảng câu hỏi đến 113 NĐT tổ chức và 254 NĐT tư nhân để khảo sát về góc nhìn của họ về ba mối quan hệ KTV - khách hàng có khả năng ảnh hưởng đến tính độc lập Nghiên cứu này bắt đầu với ba giả thuyết nghiên cứu chính: Sự phụ thuộc kinh tế của KTV vào khách hàng; Việc KTV hơn 5 năm đều sẽ làm giảm nhận thức của NĐT về tính độc lập của KTV Kết quả khảo sát cho thấy các NĐT Vương quốc Anh lo ngại nhất về các mối đe dọa từ sự phụ thuộc kinh tế và cung cấp dịch vụ NAS, tuy nhiên họ cho rằng không nên thay đổi cơ chế quản lý hiện hành

và tương đối không quan tâm đến mối đe dọa từ việc có nhiệm kỳ kiểm toán trong thời gian dài Một phần khác của nghiên cứu là liệu có sự khác biệt giữa những người trả lời

có hoặc không có bằng cấp kế toán, những người trả lời là NĐT tư nhân và tổ chức và những người được hỏi là nam và nữ về nhận thức của họ về tính độc lập của KTV hay không Kết quả của các thử nghiệm phi tham số chỉ ra rằng không có sự khác biệt giữa nam và nữ trong nhận thức của họ về tính độc lập của KTV; Tuy nhiên, những người không có trình độ kế toán và NĐT tư nhân quan tâm hơn đến vấn đề độc lập của KTV

so với những người có trình độ kế toán và các NĐT tổ chức

Reiner Quick và cộng sự (2015) đã tiến hành “Phân tích thử nghiệm về ảnh hưởng của các dịch vụ phi kiểm đối với tính độc lập về hình thức (independence in appearance) của KTV ở Đức” Họ đã tiến hành nghiên cứu 212 NĐT tư nhân - những người là thành viên của hai hiệp hội đầu tư lớn của Đức Kết quả nghiên cứu đã cho thấy có tác động tiêu cực của việc cung cấp dịch vụ NAS đối với tính độc lập về hình thức của KTV Hơn nữa, kết quả chỉ ra rằng sự suy giảm tính độc lập về hình thức có thể tăng lên khi mối đe dọa tư lợi (self-interest threat) và mối đe dọa về sự quen thuộc (familiarity threat) gia tăng Tuy vậy, phát hiện của Reiner và cộng sự không cho thấy ảnh hưởng đáng kể của mối đe dọa về sự bào chữa (advocacy threat) đối với lòng tin của NĐT vào tính độc lập của KTV Ảnh hưởng tiêu cực của một mối đe dọa tự xem xét (self-review threat) không được xác nhận trực tiếp Tuy nhiên, khi cung cấp các dịch vụ liên quan đến kiểm soát nội bộ, mối đe dọa tự xem xét lại “tương tác” với mối

đe dọa tư lợi, hai mối đe dọa này có khả năng ảnh hưởng tiêu cực đến tính độc lập của KTV khi phí dịch vụ NAS cao Từ kết quả nghiên cứu, các tác giả khuyến nghị rằng

Trang 18

không cần thiết phải cấm các công ty cung cấp các dịch vụ NAS, tuy nhiên chính phủ nên giới hạn phí dịch vụ NAS

Awa Felix N trong cùng năm, đã công bố nghiên cứu về góc nhìn của các NĐT Nigeria về ảnh hưởng của việc cung cấp các dịch vụ NAS đối với tính độc lập của KTV Ông đã tiến hành khảo sát 180 NĐT học thuật ở bang Lagos vì nơi đây tập trung nhiều công ty kiểm toán và là nơi dễ dàng tiếp cận các đối tượng mục tiêu của cuộc khảo sát Kết quả của bài nghiên cứu chỉ ra rằng việc cung cấp các dịch vụ NAS ảnh hưởng đáng kể đến nhận thức của các NĐT về tính độc lập của KTV Ngoài ra, Awa Felix N cũng thấy rằng có mối tương quan cao giữa tính độc lập của KTV và các dịch

vụ NAS ở Nigeria Dựa vào kết luận của bài nghiên cứu, tác giả khuyến nghị rằng không nên cung cấp các dịch vụ NAS cho các khách hàng Thêm vào đó, ông cũng đề xuất rằng phí dịch vụ NAS không được vượt quá 25% tổng chi phí trả cho công ty kiểm toán bên ngoài Và để duy trì niềm tin và sự tin cậy của công chúng, KTV cần liên tục đánh giá hình thức và giá trị của họ trong cộng đồng, sau đó thực hiện các biện pháp cần thiết khi đánh giá thấp hơn kỳ vọng, bởi sự giảm sút niềm tin vào nghề kiểm toán

sẽ ngay lập tức phản ánh sự thiếu tin tưởng đối với các BCTC đã được kiểm toán, dẫn đến sự sụt giảm lòng tin nói chung vào thị trường vốn của quốc gia

Peter Chi-Wan Yip & Elvy Pang (2017) đã tiến hành khảo sát 329 kế toán viên công chứng và 364 NĐT để tìm hiểu về góc nhìn của họ về tính độc lập của KTV tại HongKong Peter và cộng sự đã gửi bảng câu hỏi hỏi về sáu khía cạnh của mối quan hệ KTV - khách hàng: quy mô công ty kiểm toán, cạnh tranh đối với khách hàng kiểm toán, quy định, nhiệm kỳ KTV, việc cung cấp dịch vụ NAS và phí kiểm toán Dữ liệu thu thập được đã được xử lý bằng cách sử dụng phân tích nhiều nhân tố và hồi quy Kết quả của cuộc khảo sát chỉ ra rằng các NĐT cho rằng tính độc lập của KTV sẽ suy giảm khi cung cấp đồng thời dịch vụ NAS và kiểm toán Ngoài ra, họ cũng nghĩ rằng nhiệm

kỳ kiểm toán dài (long audit tenure) (đặc biệt là dài hơn 10 năm) cũng sẽ làm giảm tính độc lập kiểm toán

Bảng 1.1: Bảng tổng hợp các nghiên cứu liên quan

(Theo góc nhìn của các NĐT)

(+): Có; (-): Không

Trang 19

(+)

Cấm cung cấp NAS tại các công ty Kiểm

toán

(-)

Mong muốn có sự tách biệt nhân sự giữa

“Ảnh hưởng của dịch vụ NAS tới đánh

giá của NĐT về tính độc lập của KTV,

kiến thức KTV, chất lượng kiểm toán

và mức độ hấp dẫn đầu tư” - Linda

Jeanne Flaming

Ảnh hưởng tiêu cực của NAS đến tính độc lập của KTV

(+)

Ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng Kiểm toán và mức độ tin cậy của BCTC

(+)

Ảnh hưởng tiêu cực đến mức độ hấp dẫn

đầu tư

(+)

Đức 2009 “Tính độc lập của KTV và việc cung

cấp các dịch vụ NAS: Góc nhìn của

các NĐT Đức” - Reiner Quick và Bent

Ảnh hưởng của NAS đến tính độc lập của

KTV

(+)

Trang 20

Warming-Rasmussen

Các loại hình dịch vụ NAS khác nhau thì có mức độ ảnh hưởng khác nhau đến Tính độc lập của KTV

(+)

Cần có sự tách biệt nhân sự giữa bộ phận Kiểm toán và Tư vấn

(-)

Cần giới hạn mức phí của NAS theo tỷ lệ chính xác, hợp lý hơn

nghiệm từ một thị trường mới nổi” -

Ibrahim El-Sayed Ebaid

Ảnh hưởng tiêu cực của NAS đến tính độc lập của KTV

(+)

Quyết định đầu tư bị ảnh hưởng bởi việc:

Một công ty vừa thực hiện kiểm toán BCTC vừa cung cấp NAS

(+)

Nhiệm kỳ kiểm toán dài ảnh hưởng đến tính độc lập của KTV

(-)

Đức 2015 “Phân tích thử nghiệm về ảnh hưởng

của các dịch vụ phi kiểm đối với tính

độc lập về hình thức (independence in

appearance) của KTV ở Đức” - Reiner

Quick

Tác động tiêu cực của NAS đối với tính độc lập về hình thức của

KTV

(+)

Cần giới hạn phí NAS

(+)

Trang 21

NĐT Nigeria" - Awa Felix N

NAS là hữu ích cho khách hàng

(+)

NAS nên được thực hiện bởi một công ty khác ngoài công ty kiểm toán

(+)

Phí NAS không được vượt quá 25% tổng phí trả cho các công

ty kiểm toán bên ngoài

của KTV: Bằng chứng từ Hong Kong”

- Peter Chi-wan Yip & Elvy Pang

Ảnh hưởng tiêu cực của NAS đến tính độc lập của KTV

(+)

Nhiệm kỳ kiểm toán dài (đặc biệt là hơn 10 năm) ảnh hưởng đến tính độc lập của KTV

(+)

1.2.3 Xác định khoảng trống nghiên cứu

Thông qua quá trình tiến hành nghiên cứu sâu các nghiên cứu được thực hiện trong quá khứ, chúng tôi thấy rằng: Một số nghiên cứu chỉ ra dịch vụ NAS làm suy giảm tính độc lập kiểm toán; Một số khác lại cho thấy dịch vụ NAS không tác động đến tính độc lập kiểm toán hoặc không đủ bằng chứng cho sự tác động này Không chỉ có vậy, trong các nghiên cứu còn có nghiên cứu cung cấp bằng chứng rằng dịch vụ NAS làm tăng khả năng lan tỏa kiến thức và tăng chất lượng kiểm toán Như vậy, đối với sự

tác động của các dịch vụ NAS đến Tính độc lập của KTV, kết quả các nghiên cứu là

khác nhau, thậm chí một vài kết luận được đưa ra còn trái ngược nhau

Sự đối nghịch trong các kết quả ở các nghiên cứu trên thế giới có thể được lý

Trang 22

giải như sau: Các nghiên cứu được thực hiện tại các đất nước mà khác nhau về văn

hóa, kinh tế, chính trị và xã hội Đồng thời, các nghiên cứu trên đều ít sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính theo bối cảnh để khám phá tại thị trường đang

nghiên cứu

Trong quá trình tìm kiếm và phân tích các kết quả nghiên cứu trên thế giới liên quan đến chủ đề, nhóm nhận thấy rằng có rất ít, thậm chí là hầu hết các nghiên cứu đều chưa đưa ra được hệ thống xếp hạng mức độ ảnh hưởng của các loại hình dịch vụ NAS thường xuyên được các Công ty Kiểm toán cung cấp, từ đó dẫn đến lỗ hổng trong việc quản lý các loại hình dịch vụ này

Tại Việt Nam, đặc biệt là trong bối cảnh hiện tại, số lượng NĐT trên TTCK tăng đột biến do mức thu nhập và chất lượng cuộc sống ngày càng được cải thiện, các khoản tiền dư thừa có xu hướng ngày càng tăng Điều này là tiền đề làm gia tăng nhu cầu liên quan đến chất lượng của BCTC được công bố và song hành với BCTC là ý kiến kiểm toán Từ đây, dấy lên nỗi lo lắng rất lớn trong nhận thức của NĐT về Tính độc lập của KTV trong ý kiến kiểm toán Và việc cung cấp các dịch vụ NAS được xem là một trong những nhân tố trọng yếu có thể làm phát sinh nguy cơ không tuân thủ nguyên tắc đạo đức của KTV (Theo Điều 200.3 trong CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC NGHỀ

NGHIỆP KẾ TOÁN, KIỂM TOÁN, Ban hành kèm theo Thông tư số

70/2015/TT-BTC, Ngày 08 tháng 5 năm 2015 của Bộ Tài chính)

Mặt khác, nghiên cứu Tính độc lập của KTV và việc cung cấp các dịch vụ NAS dưới góc nhìn các NĐT Việt Nam chưa được thực hiện ở Việt Nam Đề tài nghiên cứu khoa học này sẽ khảo sát và phân tích định lượng để xác định các yếu tố ảnh hưởng tới nhận thức của các NĐT về Tính độc lập của KTV tại các sàn chứng khoán ở Việt Nam Qua đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm giảm thiểu ảnh hưởng của việc cung cấp các loại hình dịch vụ NAS lên Tính độc lập của KTV về cả mặt hình thức lẫn tư tưởng, nâng cao chất lượng nhân sự thực hiện kiểm toán tại các công ty kiểm toán hoạt động tại Việt Nam, đồng thời gia tăng niềm tin trong nhận thức của các NĐT vào ý kiến kiểm toán trên BCTC được kiểm toán giúp thúc đẩy sự phát triển của TTCK Việt Nam theo hướng tích cực

1.3 Mục tiêu nghiên cứu

1.3.1 Mục tiêu tổng quát:

Trang 23

Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định nhận thức của NĐT về việc cung cấp các dịch vụ NAS đến Tính độc lập của KTV tại Việt Nam - thị trường kinh tế mới nổi Từ đó đưa ra nhận định về xu hướng phản ứng của các NĐT trước các thông tin tài chính trên BCTC được công bố sau kiểm toán, mà Tính độc của KTV hay Ý kiến kiểm toán được cho là bị ảnh hưởng bởi việc cung cấp các dịch vụ NAS cho doanh nghiệp được kiểm toán

Đồng thời tiến hành phân tích định lượng để đưa ra hệ thống xếp hạng mức độ ảnh hưởng của các dịch vụ NAS thường xuyên được sử dụng tại thị trường Việt Nam theo góc nhìn của các NĐT

1.3.2 Mục tiêu cụ thể:

1 Hệ thống hóa những lý luận cơ bản về Tính độc lập của KTV

2 Xác định nhận thức của các NĐT trên TTCK về việc cung cấp dịch vụ NAS đến Tính độc lập của KTV tại thị trường Việt Nam

3 Đưa ra hệ thống xếp hạng mức độ ảnh hưởng của các dịch vụ NAS đến Tính độc lập của KTV dưới góc nhìn của NĐT Việt Nam,

4 Đưa ra các khuyến nghị cho các bên liên quan nhằm hạn chế các ảnh hưởng

tiêu cực lên Tính độc lập của KTV về cả mặt hình thức lẫn tư tưởng, nâng cao

chất lượng nhân sự thực hiện kiểm toán tại các công ty kiểm toán hoạt động tại Việt Nam, gia tăng niềm tin trong nhận thức của các NĐT vào ý kiến kiểm toán trên BCTC được kiểm toán, giúp thúc đẩy sự phát triển của TTCK Việt Nam theo hướng tích cực

1.4 Các giả thuyết nghiên cứu

Các giả thuyết nghiên cứu được đặt ra là:

Giả thuyết 1 (H1): Việc công ty kiểm toán cung cấp dịch vụ NAS cho khách hàng kiểm toán của mình có ảnh hưởng tiêu cực đến Tính độc lập của các KTV được nhận thức bởi các NĐT

Giả thuyết 2 (H2): Giới hạn mức phí của Dịch vụ tư vấn theo nhận định của các NĐT

là thấp hơn so với mức phí tư vấn được trả trong thực tế

Giả thuyết 3 (H3): Sự tách biệt giữa nhân viên thực hiện kiểm toán BCTC và nhân

viên cung cấp dịch vụ tư vấn cho công ty là trọng yếu để đảm bảo Tính độc lập của KTV

Trang 24

Giả thuyết 4 (H4): Nhận thức của NĐT về Tính độc lập của KTV sẽ bị suy giảm do

khách hàng sử dụng cùng một KTV trong hơn 5 năm

Giả thuyết 5 (H5): Mức độ suy giảm tính độc lập của KTV phụ thuộc vào loại hình

dịch vụ tư vấn được cung cấp

1.5 Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu

1.5.1 Đối tượng nghiên cứu: Nhận thức của các NĐT Việt Nam về Tính độc lập

của KTV và việc cung cấp các dịch vụ NAS

1.5.2 Đối tượng khảo sát:

· Sinh viên Khoa đầu tư của Trường ĐH Kinh tế quốc dân đã có kinh nghiệm đầu tư thực tế Thành viên Quỹ đầu tư các CLB học thuật trên địa bàn Hà Nội: CLB Chứng khoán SSC (NEU); CLB Chứng khoán SIC (FTU); CLB Chứng khoán Học Viện Tài Chính; CLB Chứng khoán SEC - Học viện Ngân hàng

· Các NĐT cá nhân tham gia đầu tư trên hai sàn chứng khoán được biết đến và có các thành phần tham gia đa dạng nhất là: HOSE & HNX Trong

đó các NĐT được phân loại vào nhóm nhỏ trước khi tiến hành gửi bảng khảo sát trên diện rộng, dựa vào 3 tiêu chí chính: (1) Trình độ học vấn, (2) Ngành học và (3) Thâm niên tham gia đầu tư

Về việc nhóm nghiên cứu chúng tôi nhìn chung chia đối tượng khảo sát thành 2 nhóm lớn có thể được lý giải như sau:

1 Nhóm đối tượng là các NĐT cá nhân còn đang đi học:

● Đây là nhóm đầu tư học thuật, có kiến thức chuyên sâu về lĩnh vực đầu tư, có hiểu biết về các phương pháp phân tích cơ bản, phân tích kỹ thuật trong đầu tư chứng khoán, tuy nhiên, có rất ít kinh nghiệm cũng như số tiền đã đầu tư không quá lớn (Hầu hết là các NĐT F0)

● Nhóm đối tượng này sẽ cung cấp cho nghiên cứu của chúng tôi cái nhìn khách quan và ban đầu nhất về thị trường chứng khoán, đi kèm với đó là nhận thức mang tính lý thuyết cao Kết quả khảo sát thu được từ nhóm đối tượng này giúp nhóm chúng tôi đa dạng hóa không chỉ về mặt thành phần đối tượng khảo sát

mà còn về số lượng bởi họ là nhóm đối tượng dễ dàng để tiếp cận với nội dung khảo sát diện rộng mang tính học thuật khá cao của chúng tôi hơn các nhóm đối

Trang 25

tượng khác

2 Nhóm đối tượng là các NĐT cá nhân trên các sàn HOSE & HNX:

So với Nhóm đối tượng số (1), để có được kết quả khảo sát từ Nhóm đối tượng

số (2) này là một trong những thách thức lớn nhất trong quá trình thực hiện nghiên cứu này của nhóm chúng tôi Tuy nhiên, để kết quả nghiên cứu được khách quan và chính xác nhất, đây là Nhóm đối tượng khảo sát trọng tâm của nhóm chúng tôi Lý do chúng tôi lựa chọn Nhóm NĐT cá nhân này là bởi: Các báo cáo được kiểm toán sẽ được gửi đến các bên liên quan khác nhau, trong đó các NĐT tổ chức và các ngân hàng đều có đại diện trong các Ban giám sát vì họ thường là cổ đông quan trọng của các Công ty niêm yết Ban giám sát có nhiều quyền lợi về các thông tin của công ty, họ có quyền truy cập gián tiếp vào các thông tin chi tiết và hữu ích hơn so với thông tin trên BCTC

Vì vậy, ý kiến của KTV có thể ít quan trọng hơn đối với họ so với các bên liên quan không có đại diện trong ban giám sát Do đó, các NĐT tư nhân đặc biệt cần được bảo

vệ và nhận thức, góc nhìn của họ về tính độc lập của KTV cần được phân tích

1.5.3 Phạm vi nghiên cứu:

1 Không gian:

● Các CLB Đầu tư học thuật trên địa bàn TP Hà Nội

● Hai sàn chứng khoán được biết đến và có thành phần tham gia đầu tư đa dạng nhất: HOSE và HNX

2 Thời gian: Từ ngày 1/1/2022 – ngày 10/3/2022

1.6 Phương pháp nghiên cứu

Sau khi xây dựng khung nghiên cứu lý thuyết, để phục vụ tốt nhất cho các mục đích thực hiện nghiên cứu ban đầu (đã được trình bày chi tiết ở mục 1.3.2), mặt khác khắc phục được yếu điểm của các NCKH trước đó trên thế giới vì vậy ngay từ ban đầu nhóm nghiên cứu dự định sẽ kết hợp sử dụng Phương pháp nghiên cứu định tính và Phương pháp nghiên cứu định lượng cho cả Phỏng vấn định tính để khảo sát tính phù hợp của nghiên cứu với các chuyên gia và Phỏng vấn định tính các NĐT có thâm niên trên diện rộng Tuy nhiên, trong thời gian thu thập dữ liệu, tình hình dịch Covid-19 trở nên căng thẳng vì thế không thể tiến hành các cuộc Phỏng vấn định tính trên diện rộng

Trang 26

mà chỉ có thể tiến hành Phỏng vấn định tính với các chuyên gia Ngay sau khi nhận được các phiếu trả lời từ chuyên gia, nhóm chúng tôi đã chỉnh sửa và gửi phiếu khảo sát online đến các Nhóm đối tượng để thu thập dữ liệu diện rộng và thực hiện phân tích định lượng và đưa ra kết luận cuối cùng

Nội dung của phương pháp nghiên cứu sẽ được trình bày cụ thể ở Chương 3

1.7 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu

Từ kết quả nghiên cứu của Đề tài có thể biết được nhận thức của các NĐT về việc cung cấp các dịch vụ NAS và Tính độc lập của KTV tại Việt Nam Qua đó có những đóng góp trong cả mặt lý thuyết và thực tiễn Về mặt lý thuyết, nghiên cứu xác định nhận thức của NĐT về việc Công ty kiểm toán cung cấp các dịch vụ NAS Bên cạnh

đó, xác lập hệ thống xếp hạng mức độ ảnh hưởng của các dịch vụ NAS thường được cung cấp tại thị trường Việt Nam theo góc nhìn của NĐT Mặt khác, Đề tài góp phần

đa dạng hóa các nghiên cứu về Tính độc lập của KTV, đặc biệt là về việc cung cấp các dịch vụ NAS Về mặt thực tiễn, nghiên cứu cung cấp góc nhìn thực tế của một nhóm nằm trong một thành phần nhân sự thuộc cấu trúc thị trường, từ đó góp phần cung cấp thông tin tham khảo cho các Nhà quản lý trong lĩnh vực Kiểm toán trong việc đào tạo

và xây dựng nguồn nhân lực, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và hoạt động của thị trường

1.8 Kết cấu của Đề tài nghiên cứu

Nội dung chính của Đề tài được trình bày trong năm Chương sau đây:

Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu;

Chương 2: Cơ sở lý thuyết của nghiên cứu;

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu;

Chương 4: Kết quả và Thảo luận;

Chương 5: Hàm ý và Khuyến nghị từ kết quả nghiên cứu

Trang 27

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA NGHIÊN CỨU

Cơ sở lý luận là một phần rất quan trọng trong một nghiên cứu vì nó là kim chỉ nam cho quá trình nghiên cứu Bên cạnh đó, nó cũng là cơ sở để giải thích các kết quả từ nghiên cứu Trong nghiên cứu này, chúng ta sẽ đề cập đến một số lý thuyết cơ bản sau

2.1: Tính độc lập của KTV

2.1.1 Khái niệm tính độc lập của KTV

Kiểm toán được yêu cầu đảm bảo sự hợp lý, khách quan và trung thực khi cung cấp BCTC cho một doanh nghiệp, từ đó nâng cao độ tin cậy cho BCTC nên tính độc lập của KTV thường được mô tả như là nền tảng của kiểm toán và có vai trò quan trọng đối với BCTC doanh nghiệp (Mautz & Sharaf, 1961) Bởi vì, bên cạnh yếu tố chuyên môn thì yếu tố độc lập cũng ảnh hưởng rất lớn đến BCTC Mặt khác, KTV được yêu cầu phải cung cấp sự đảm bảo, tính hợp lý và khách quan rằng BCTC của doanh nghiệp đang phản ánh một cách trung thực và hợp lý, từ đó nâng cao niềm tin của NĐT vào BCTC đã được kiểm toán Và trên cơ sở đó, các bên liên quan (NĐT tiềm năng, cổ đông, chủ nợ, nhà quy định luật, thị trường tài chính và công chúng) sẽ căn cứ vào những BCTC đó để đưa ra quyết định hợp lý khi đầu tư

Bartlett (1993) đã tiến hành một nghiên cứu về tính độc lập của KTV và định nghĩa tính độc lập là một thái độ không thiên vị trong việc đưa ra quyết định về kiểm toán và BCTC Từ đó, tính độc lập trong kiểm toán có thể hiểu là KTV không bị ảnh hưởng bởi bất kỳ lợi ích vật chất hay tinh thần nào gây ra sự thiếu trung thực và chủ quan

Beattie và các cộng sự (1999) cho rằng tính độc lập là đặc tính cơ bản của một KTV Và nó là một phần bản chất của thị trường vốn, liên quan chặt chẽ đến hiệu quả

sử dụng vốn trên thị trường

Theo Liên đoàn Kế toán quốc tế, tính độc lập được phân loại thành 2 phần: Độc lập tư tưởng và độc lập hình thức Độc lập tư tưởng cho phép KTV thực hiện kiểm toán với sự khách quan, trung thực và hoài nghi mang tính nghề nghiệp, trong khi đó,

Trang 28

độc lập hình thức đòi hỏi tránh những tình huống mà có thể làm cho người sử dụng có kiến thức về tất cả các tình huống nghi ngờ KTV đưa ra ý kiến khách quan

KTV tham gia vào cuộc kiểm toán phải độc lập với khách hàng Độc lập về tư tưởng và độc lập về hình thức là yêu cầu KTV cần phải thực hiện để họ có thể đưa ra các kết luận một cách không thiên vị, công bằng cũng như không mâu thuẫn về lợi ích đối với các bên có liên quan Tuy nhiên, rất khó để đánh giá về tính độc lập tư tưởng, vậy nên hầu hết các NĐT hay người sử dụng BCTC khác lựa chọn xem xét tính độc lập hình thức bằng cách nhận xét có hay không những tình huống mà gây tổn hại đáng

kể đến tính độc lập của KTV và những biện pháp nhằm bảo vệ cũng như giảm bớt các nguy cơ

2.1.2 Tầm quan trọng của tính độc lập của KTV

Theo Điều 6 Mục II Tuyên bố Lima (1997), sự độc lập của nhân viên phải được đảm bảo bởi Hiến pháp Theo đó, quy trình miễn nhiệm cũng phải được quy định trong Hiến pháp và không gây ảnh hưởng đến tính độc lập của nhân viên Do vậy, trong quá trình thực hiện nghiệp vụ chuyên môn của mình, KTV không được ảnh hưởng bởi tổ chức được kiểm toán và cũng không phụ thuộc vào tổ chức đó

Đại hội lần thứ XIX của Tổ chức quốc tế các Cơ quan Kiểm toán tối cao (INTOSAI) tại Mexico cũng đã công nhận Tuyên bố Mexico về tính độc lập của SAI với 8 nguyên tắc cốt lõi được coi là những yêu cầu trọng yếu để thực hiện kiểm toán công Theo đó, với KTV, tính độc lập được đảm bảo trên các khía cạnh: Sự tồn tại của một khuôn khổ hiến pháp/luật định/pháp lý phù hợp và hiệu quả áp dụng các điều khoản của khuôn khổ này trên thực tế; quyền truy cập thông tin không hạn chế; quyền

và nghĩa vụ báo cáo về công việc của họ; quyền tự do quyết định nội dung và thời gian của các báo cáo kiểm toán và công bố, phổ biến chúng; sự tồn tại của các cơ chế theo dõi hiệu quả các khuyến nghị SAI; nguồn lực tài chính đầy đủ để có thể hoàn thành nhiệm vụ của mình

Nghiên cứu của White & Hollingsworth (1999) cho rằng bảo đảm tính độc lập của KTV sẽ tạo cơ sở cho việc đánh giá công bằng và khách quan các hoạt động công, đòng thời không chịu áp lực từ các cơ quan hành pháp, bè phái chính trị và các tổ chức

Trang 29

tạo áp lực khác trong hệ thống chính trị

Còn theo Berhanu Ayansa Angessa (2019), tính độc lập của Văn phòng tổng kiểm toán và KTV đóng vai trò thiết yếu trong thực hành hoạt động kiểm toán để đảm bảo trách nhiệm giải trình và củng cố hoạt động của các cơ quan chính phủ Về nguyên tắc, hoạt động kiểm toán cần đảm bảo sự độc lập về tài chính so với những hoạt động cần kiểm toán để có thể thực hiện kiểm toán mà không bị can thiệp

Như vậy, nhiều nghiên cứu tiêu biểu đã chỉ rõ tính độc lập của KTV trong nghiệp vụ kiểm toán là vô cùng quan trọng Đặc biệt, trong hoạt động kiểm toán, các tiêu chí đánh giá của từng cuộc kiểm toán phụ thuộc nhiều vào đánh giá của KTV về tính kinh tế, hiệu quả,và hiệu lực của các thông tin được kiểm toán Điều này dễ gây ra các nguy cơ về sự không khách quan trong đánh giá của KTV đối với tổ chức được kiểm toán, từ đó có thể dẫn tới một số sức ép từ các bên để che dấu hoặc thỏa thuận nhằm thay đổi các kiến nghị, kết luận kiểm toán

2.2: Dịch vụ phi kiểm toán

Theo Hội đồng Báo cáo tài chính (FRC), dịch vụ NAS bao gồm bất kỳ hoạt động hợp tác nào ngoài hoạt động kiểm toán BCTC mà công ty kiểm toán cung cấp cho đơn vị được kiểm toán, các đơn vị liên kết với đơn vị được kiểm toán (FRC,2010)

Bên cạnh đó, Firth (1997) cho rằng dịch vụ NAS là hành động thuê một công ty bên ngoài ( hoặc có thể là cá nhân) đề xuất cho lãnh đạo công ty các dịch vụ tư vấn Ông cũng đề cập đến chuyện công ty có thể thuê các nhân có kỹ năng thực hiện dịch

vụ này hoặc giao cho các nhân viên trong nội bộ

Dịch vụ NAS là những dịch vụ khác với dịch vụ kiểm toán được công ty kiểm toán độc lập cung cấp cho cùng một khách hàng kiểm toán Các dịch vụ NAS gồm có: Dịch vụ tư vấn thuế, dịch vụ cung cấp phần mềm kế toán và thuế, dịch vụ kế toán quản trị, dịch vụ đào tạo… Các dịch vụ NAS có khả năng làm giảm tính độc lập KTV vì các công ty kiểm toán hầu hết đều tạo ra nguồn thu nhập chính của mình từ dịch vụ NAS, điều này được giải thích là vì giá phí dịch vụ NAS thường lớn hơn lệ phí kiểm toán

Trang 30

Từ đó, tính độc lập của KTV sẽ bị ảnh hưởng rất lớn vì trong trường hợp này ta có thể thấy họ đã phụ thuộc vào khách hàng kiểm toán của mình

2.3: Các nhân tố ảnh hưởng đến tính độc lập của KTV khi cung cấp dịch

vụ NAS dưới góc nhìn của NĐT:

2.3.1: Mức phí dịch vụ NAS:

Trong quá khứ đã có nhiều nghiên cứu về sự ảnh hưởng của mức phí dịch vụ NAS đến tính độc lập của KTV Theo nghiên cứu của Linda Jeanne Flaming (2002), các NĐT cho rằng tính độc lập của KTV và chất lượng kiểm toán bị ảnh hưởng bởi mức phí dịch vụ NAS Ngoài ra, nghiên cứu của Reiner Quick (2009) (2015) cũng cho rằng cần giới hạn phí dịch vụ NAS để tránh làm ảnh hưởng đến tính độc lập của KTV Thêm vào đó, nghiên cứu của Awa Felix (2015) ở Nigeria cũng chỉ rõ rằng phí dịch vụ NAS cần được giới hạn ở mức 25% tổng phí trả cho công ty kiểm toán bên ngoài để không làm ảnh hưởng đến tính độc lập kiểm toán Ngược lại, A.A.Ghosh và cộng sự (2009) cho rằng, thực tế không có bằng chứng về mối liên quan giữa tính độc lập kiểm toán và tỷ lệ phí NAS Ở Việt Nam, theo tìm hiểu của nhóm tác giả, hiện chưa có nghiên cứu về việc liệu mức phí dịch vụ NAS có làm ảnh hưởng đến tính độc lập của KTV hay không, cũng như chưa có quy định cụ thể về mức phí dịch vụ tư vấn Do vậy, nhóm tác giả sẽ tiến hành kiểm định giả thuyết: “Việc giới hạn mức phí của dịch

vụ NAS theo tỷ lệ chính xác và hợp lý sẽ làm tăng tính độc lập của KTV” (giả thuyết

1, chương 3)

2.3.2: Nhân sự thực hiện Kiểm toán:

Đã có nhiều nghiên cứu về việc nhân sự thực hiện kiểm toán ảnh hưởng đến tính độc lập kiểm toán Marry Canning và cộng sự (1999) đã chỉ ra rằng cần có sự tách biệt về nhân sự giữa bộ phận kiểm toán và NAS để đảm bảo tính độc lập của KTV Hơn nữa, Awa Felix (2015) cũng đề xuất rằng NAS nên được thực hiện bởi một công

ty khác ngoài công ty kiểm toán Ngược lại, nghiên cứu của Reiner Quick (2009) lại không cho rằng cần có sự tách biệt về nhân sự giữa bộ phận kiểm toán và bộ phận Tư vấn, nghiên cứu mở rộng của ông vào năm 2015 cũng cho rằng không cần thiết phải cấm các công ty kiểm toán cung cấp NAS Do vậy, nhóm tác giả sẽ tiến hành kiểm định giả thuyết: “Việc tách nhân viên tư vấn của công ty kiểm toán khỏi nhân viên

Trang 31

kiểm toán làm tăng tính độc của KTV.” (giả thuyết 2, chương 3)

2.3.3: Nhiệm kỳ kiểm toán:

Nhiệm kỳ kiểm toán được hiểu là thời gian theo kỳ mà các công ty kiểm toán cung cấp các dịch vụ kiểm toán cho khách hàng kiểm toán Theo thông lệ quốc tế thì nhiệm kỳ kiểm toán thường là từ 03 đến 05 năm

Có hai luồng quan điểm về ảnh hưởng của nhiệm kỳ kiểm toán tới tính độc lập của KTV Theo đó, một quan điểm cho rằng một nhiệm kỳ kiểm toán dài sẽ làm giảm tính độc lập của KTV và làm giảm chất lượng cuộc kiểm toán

Một nhiệm kỳ kiểm toán dài có thể làm suy giảm tính cẩn thận, khả năng làm việc dẫn tới thái độ bất cẩn của KTV; bên cạnh đó, tính độc lập của KTV còn bị suy yếu bởi mối quan hệ có tính lâu dài, thân thiết của KTV với ban điều hành khách hàng kiểm toán và từ đó các KTV có nhiều khả năng sẽ đồng ý với yêu cầu khách hàng kiểm toán trong những quyết định trọng yếu Đồng thời, khi các KTV trở nên thoải mái với khách hàng sẽ làm suy giảm tính hoài nghi nghề nghiệp cũng như giảm sự chăm chỉ khai thác các bằng chứng trong quá trình kiểm toán Bởi vậy, việc đặt một giới hạn bắt buộc về nhiệm kỳ kiểm toán là yêu cầu thiết yếu để hạn chế ảnh hưởng từ khách hàng kiểm toán lên quyết định của KTV

Mặt khác, quan điểm thứ hai cho rằng chính sự luân chuyển của các kiểm toán viên là một trong những yếu tố giúp tăng tính độc lập của KTV Chính nhờ sự quen thuộc với hình thức tổ chức, vận hành của công ty khách hàng, và thông qua việc lặp lại công việc kiểm toán mà công ty kiểm toán có thể nhanh chóng phát hiện ra các sai sót quan trọng chứa đựng trong BCTC Điều đó đồng nghĩa với việc nhiệm kỳ kiểm toán ngắn sẽ làm giảm chất lượng kiểm toán gây ra bởi sự thiếu hụt hiểu biết về khách hàng kiểm toán; thực tế, các vấn để kiểm toán thường xuyên xảy ra hơn đối với các khách hàng mới

Đối với Việt Nam hiện nay, các quy định về nhiệm kỳ kiểm toán và luân chuyển KTV hành nghề được quy định rất rõ trong các văn bản pháp luật và các chuẩn mực kiểm toán Điều 58 luật Kiểm toán độc lập năm 2011 quy định khi kiểm toán cho

các đơn vị có lợi ích công chúng: “Doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp

Trang 32

kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam không được bố trí KTV hành nghề thực hiện kiểm toán cho một đơn vị có lợi ích công chứng trong năm năm tài chính liên tục” Tuy

nhiên, tại Điều 16 Nghị định số 17/2012/NĐ-CP của Chính phủ ngày 13/3/2012 hướng dẫn một số điều của Luật Kiểm toán độc lập đã quy định “KTV hành nghề không được

ký báo cáo kiểm toán cho một đơn vị được kiểm toán quá ba (03) năm liên tục” Như vậy, chưa có sự thống nhất về quy định về thời gian kiểm toán giữa hai văn bản Thời gian kiểm toán từ 03 năm trở xuống so với quy định trên thế giới là ngắn Điều này có thể khiến KTV gặp một số rủi ro khi phải bỏ qua những kinh nghiệm thực tế trong những năm đầu hoạt động kiểm toán, đồng thời lại gặp khó khăn khác trong quá trình tìm hiểu một khách hàng kiểm toán mới Mặt khác, hiểu theo văn bản này thì luân chuyển KTV chỉ áp dụng đối với KTV hành nghề ký tên trên báo cáo kiểm toán chứ không phải là công ty kiểm toán vì thế sau 03 năm chỉ cẩn thay thế người phụ trách cuộc kiểm toán

2.3.4: Việc cung cấp các dịch vụ NAS:

Awa Felix (2015) khi nghiên cứu tại Nigeria nhận thấy rằng việc cung cấp thêm dịch vụ NAS cho phép công ty kiểm toán có thêm kiến thức về về hệ thống kiểm soát nội bộ cũng như các rủi ro tài chính của khách hàng kiểm toán từ đó giúp tăng năng lực của KTV Trái lại, nghiên cứu của các nhà nghiên cứu như Mary Canning (1999), Reiner Quick (2009), Eleanor Dart (2011) lại chỉ ra rằng chất lượng cuộc kiểm toán

có thể giảm đi khi công ty kiểm toán đồng thời cung cấp các dịch vụ kiểm toán và dịch

vụ NAS cho cùng một khách hàng kiểm toán KTV cũng có xu hướng đồng thuận với các yêu cầu từ khách hàng kiểm toán khi công ty kiểm toán cung cấp dịch vụ tư vấn quản lý cho khách hàng Sự cám dỗ từ việc kiếm được nhiều khoản phí từ dịch vụ NAS hơn có thể làm giảm tính độc lập của KTV

2.4 Các trường phái lý thuyết liên quan đến đề tài nghiên cứu:

2.4.1: Lý thuyết đại diện

Lý thuyết đại diện hay còn gọi là học thuyết chủ-thợ (Agency Theory) đã xuất hiện từ những năm 1970 nghiên cứu những vấn đề về thông tin bất cân xứng giữa người chủ sở hữu và người quản lý trong lĩnh vực Bảo hiểm (Spence và Zeckhauser, 1971; Ross, 1973) và từ đó phát triển thành một học thuyết được vận dụng trong các

Trang 33

lĩnh vực khác mà có những vấn đề liên quan đến mối quan hệ đại diện giữa người chủ

sở hữu và người đại diện người chủ sở hữu để điều hành hoạt động của tổ chức - còn được gọi là người quản lý (Jensen và cộng sự, 1976)

Người chủ sở hữu mong muốn người quản lý hoàn thành mục tiêu của mình đặt

ra một cách hiệu quả và trung thực Người quản lý có nhiều thẩm quyền trong việc điều hành hoạt động của tổ chức mà người chủ sở hữu khó giám sát hoạt động của tổ chức Lý thuyết đại diện cho rằng, có tồn tại khả năng người quản lý không thực hiện hết hoặc thực hiện không đúng những yêu cầu của người chủ đề ra Do đó xảy ra xung đột lợi ích giữa người chủ sở hữu vốn và người quản lý

Theo lý thuyết này, chủ sở hữu thuê một KTV để cung cấp thông tin được sử dụng trong hợp đồng với người quản lý (Antle, 1984; Watts & Zimmerman, 1986: 312–37) KTV được giả định sẽ cư xử như thể người đó tối đa hóa tiện ích được mong đợi trong quá trình thực hiện điều tra các báo cáo trong điều kiện rủi ro đạo đức KTV được cung cấp ngày càng nhiều thông tin hơn về chất lượng cuộc kiểm toán mà khách hàng không hoàn toàn có thể quan sát được (Arrow, 1985) Lý thuyết đại diện cho rằng, KTV đóng vai trò là chuyên gia có chuyên môn cao và độc lập để xác nhận thông tin thể hiện trên BCTC của tổ chức được kiểm toán, từ đó giải quyết những xung đột lợi ích giữa người chủ, người quản lý và các bên liên quan

Trang 34

để tồn tại và duy trì hoạt động

Đối với một công ty kiểm toán độc lập, mặc dù đã tồn tại khung pháp lý về tính hợp pháp cho các chức năng, dịch vụ kiểm toán của chính công ty đó, sự mất lòng tin của công chúng từ những cuộc kiểm toán thất bại đòi hỏi tính cấp thiết của việc thiết lập lại tính hợp pháp Môi trường của các KTV bao gồm nhiều bên liên quan khác nhau như nhà quản lý nhà nước, cơ quan chuyên môn và người sử dụng thông tin Các bên liên quan đều có những kỳ vọng về một BCTC được kiểm toán độc lập có tính trung thực và khách quan để có thể đưa ra những quyết định hợp lý Giống như việc độc lập về mặt hình thức phụ thuộc vào cách người sử dụng thông tin nhận thức được các mối đe dọa và áp dụng các biện pháp bảo vệ nhằm giảm thiểu những mối đe dọa

về mức chấp nhận được, các bên liên quan sẽ định kỳ kiểm tra liệu có hay không KTV kiểm soát các mối đe dọa đến mức có thể chấp nhận được để từ đó đánh giá tính hợp pháp của họ

Lý thuyết tính hợp pháp cung cấp nền tảng cho các bên liên quan nhằm xem xét hình thức của tính độc lập bằng cách đánh giá liệu có hay không KTV loại bỏ hoặc kiểm soát được các mối đe dọa đến mức có thể chấp nhận thông qua các biện pháp bảo

vệ

2.4.3 Lý thuyết của DeAngelo

Chi phí giao dịch liên quan đến việc thay đổi KTV mang lại lợi thế cho KTV đương nhiệm (DeAngelo, 1981a: 118) KTV đương nhiệm có thể thu được lợi ích trong tương lai từ các lợi thế về công nghệ và chi phí giao dịch, bằng cách đặt phí kiểm toán trong tương lai cao hơn chi phí tránh được khi thực hiện kiểm toán, tức là KTV có thể kỳ vọng vào giá thuê (quasi-rent) trong tương lai Sự tồn tại của giá thuê dành riêng cho khách hàng dẫn đến sự cạnh tranh giữa các KTV để trở thành KTV đương nhiệm và đẩy phí xuống dưới chi phí trong giai đoạn ban đầu (báo giá thấp) Do

đó, KTV thực hiện một khoản đầu tư và dự kiến các khoản hoàn trả trong tương lai (bán tô) Khoản đầu tư này sẽ thất bại nếu hợp đồng kiểm toán không được gia hạn Khách hàng có thể đe dọa chấm dứt hợp đồng và yêu cầu một cuộc kiểm toán rõ ràng

Do đó, sự tồn tại của các khoản tiền thuê dành riêng cho khách hàng có thể làm giảm

Trang 35

bớt tính độc lập Mặt khác, khi KTV nhận tiền thuê từ các khách hàng khác, nếu hành

vi sai trái của KTV được tiết lộ hoặc bị phát hiện sự thiếu độc lập, thì danh tiếng KTV

sẽ bị ảnh hưởng và KTV đó có thể mất một phần tiền thuê từ các khách hàng khác Hiệu ứng này chống lại việc giảm bớt Tính độc lập Số lượng khách hàng càng lớn, rủi

ro mất tiền thuê từ các khách hàng kiểm toán khác càng cao Do đó, KTV có ít động

cơ hơn để hành xử theo cơ hội, điều này làm tăng chất lượng nhận thức của cuộc kiểm toán Các công ty kiểm toán lớn thường có nhiều khách hàng hơn Vì vậy, họ đã giảm các động cơ gian lận để giữ chân bất kỳ khách hàng nào và họ được cho là cung cấp chất lượng kiểm toán cao hơn (DeAngelo, 1981b)

Nếu KTV theo luật định cung cấp dịch vụ tư vấn cho khách hàng kiểm toán, thông tin thu được với tư cách là nhà tư vấn có thể được sử dụng để giảm chi phí kiểm toán Từ đó, mối quan hệ kinh tế giữa KTV và khách hàng được tăng cường nhờ giá thuê dịch vụ kiểm toán tăng lên Do đó, rủi ro rằng tính độc lập của KTV có thể bị suy giảm sẽ tăng lên (Beck và cộng sự, 1988) Hơn nữa, KTV có thể sử dụng thông tin thu được với tư cách là KTV để giảm chi phí tư vấn Do đó, tổng tiền thuê dịch vụ kiểm toán và tư vấn cao hơn so với tiền thuê chỉ dịch vụ kiểm toán Điều này làm tăng mối

đe dọa đối với tính độc lập của KTV (Ostrowski & Söder, 1999) Vì vậy, sự tin tưởng

mà các bên tham gia cuộc đánh giá có được về tính độc lập của KTV có thể bị giảm đi nếu KTV cung cấp NAS

Trang 36

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Giới thiệu

Tại Chương 1 và 2, nhóm nghiên cứu đã trình bày cơ sở lý thuyết và xác định mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng của dịch vụ NAS tới tính độc lập của KTV Trong lĩnh vực khoa học xã hội thường có ba phương pháp nghiên cứu bao gồm: phương pháp định tính, phương pháp định lượng và phương pháp hỗn hợp Ở chương này, nhóm nghiên cứu sẽ trình bày quy trình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và bước đầu xây dựng mô hình với các giả thuyết tương ứng nhằm giải quyết mục tiêu đã nêu

ra Phương pháp nghiên cứu định tính được sử dụng với mục đích hiệu chỉnh các biến quan sát cho phù hợp Sau đó, nhóm sử dụng Phương pháp nghiên cứu định lượng để kiểm định mô hình trong bối cảnh ngành kiểm toán tại Việt Nam Vì vậy, nhóm nghiên cứu đã lựa chọn sử dụng đồng thời 2 phương pháp nghiên cứu trên để phù hợp với mục tiêu của đề tài

3.2 Sự phù hợp của phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu khoa học là công cụ đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng một công trình khoa học thành công Flanagan (2013) cho rằng phương pháp nghiên cứu giúp các nhà nghiên cứu khám phá ra lý thuyết mới và khẳng định được tính hữu hiệu của nó

Mục tiêu của phương pháp nghiên cứu định tính chính là tạo ra các thông tin chuyên sâu, qua đó có thể hiểu rõ những phương diện khác nhau của vấn đề đang được phân tích Có thể thấy, phương pháp này tập trung vào các khía cạnh thực tế không thể định lượng được Trái lại, trong phương pháp nghiên cứu định lượng, dữ liệu có thể được biểu hiện bằng các con số cụ thể Phương pháp này nhấn mạnh đến tính khách quan trong nghiên cứu và phù hợp trong việc đưa ra kết luận thông qua việc đo lường một

số mẫu đặc trưng trong toàn bộ tổng thể Dữ liệu được thu thập một cách có hệ thống sau đó được xử lý thông qua các phương pháp phân tích thống kê (phần mềm SPSS) Theo tổng quan nghiên cứu, đã có một số nghiên cứu về sự ảnh hưởng của các dịch vụ NAS đến Tính độc lập của KTV dưới góc nhìn của người sử dụng thông tin trên BCTC nói chung và của NĐT nói riêng Tuy nhiên, các nghiên cứu này được thực hiện

ở các nước đã phát triển (Mỹ, Đức, Anh,…) từ những năm 1999, vì thế, liệu rằng kết

Trang 37

quả nghiên cứu có còn đúng trong bối cảnh hiện nay; hoặc được thực hiện trong thời gian gần hơn ở một số nước đang phát triển (Nigeria, HongKong, ); mặc dù vậy, các nước này có đặc điểm kinh tế, văn hóa và lịch sử phát triển kinh tế khác biệt với Việt Nam - một quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi Song, theo tìm hiểu của nhóm nghiên cứu thì cho đến thời điểm hiện tại chưa có nghiên cứu nào được thực hiện về chủ đề này Do vậy, nhóm tác giả mong muốn phát hiện các nhân tố và chỉ báo mới trong bối cảnh thị trường đầu tư và nền kinh tế Việt Nam ở thời điểm hiện tại; xác định danh sách một hệ thống nhân tố dựa trên nội dung trả lời phỏng vấn bán cấu trúc với các chuyên gia có kinh nghiệm trong lĩnh vực Kế toán - Kiểm toán; tìm hiểu quan điểm của NĐT trên TTCK Việt Nam về sự ảnh hưởng của từng nhân tố đến tính độc lập của KTV; và xây dựng Bảng hỏi để thu thập được thông tin trọng yếu phục vụ cho mục đích nghiên cứu và trả lời thỏa đáng các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra

Vì những lý do trên, trong đề tài này, nhóm nghiên cứu sử dụng cả hai phương pháp

định tính và định lượng Cụ thể, bằng cách thực hiện nghiên cứu định tính, nhóm nghiên cứu thực hiện phỏng vấn sâu bán cấu trúc đối với các chuyên gia có kinh nghiệm lâu năm trong lĩnh vực Kế toán - Kiểm toán kể từ 27/12 đến 31/12, nhóm nghiên cứu có thể xác nhận được tính hữu dụng của các nhân tố được lựa chọn để nghiên cứu trước đó, đồng thời khám phá ra các nhân tố mới, từ đó hoàn thiện bảng khảo sát phục vụ cho việc thu thập dữ liệu và nghiên cứu định lượng Trong khoảng thời gian 1/1 đến 10/3, nhóm nghiên cứu đã thực hiện phương pháp nghiên cứu định lượng bằng cách gửi khảo sát trực tuyến đến các NĐT Dữ liệu thu được từ khảo sát sử dụng để kiểm định mô hình, đánh giá thang đo, kiểm định các giả thuyết và mối quan

hệ giữa các nhân tố Nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy đa biến nhằm kiểm định các giả thuyết bằng sự hỗ trợ từ phần mềm SPSS 26

3.3 Quy trình nghiên cứu: Từ việc tổng hợp và xây dựng cơ sở lý thuyết từ những

nghiên cứu đã có trước đó Nhóm nghiên cứu đã xây dựng quy trình nghiên cứu với

trình tự các bước với Sơ đồ 3.3

Trang 38

(Nguồn: Nhóm tác giả tự xây dựng)

Sơ đồ 3.3: Quy trình nghiên cứu

3.4 Phương pháp phân tích dữ liệu

3.4.1 Phân tích dữ liệu thứ cấp

Các dữ liệu thứ cấp được nhóm nghiên cứu tổng hợp, phân tích, đánh giá để từ đó lựa chọn được mô hình nghiên cứu phù hợp nhất

3.4.2 Phân tích dữ liệu sơ cấp

Nhóm nghiên cứu thực hiện phân tích dữ liệu sơ cấp qua phần mềm SPSS với các bước cụ thể như sau:

● Mã hóa dữ liệu:

● Thống kê các đặc điểm của mẫu quan sát: Các yếu tố thuộc nhân khẩu học được kết hợp quan sát gồm: độ tuổi, giới tính,

● Kiểm định độ tin cậy thang đo:

· Đánh giá thang đo

· Kiểm định giá trị các biến

· Kiểm định hệ số tương quan

· Phân tích hồi quy và kiểm định giả thuyết

· Kiểm định sự khác biệt trung bình so sánh giữa các nhóm

3.5 Phương pháp nghiên cứu định tính

Trang 39

3.5.1 Thu thập dữ liệu

Nhóm tác giả đã thực hiện nghiên cứu định tính với phương pháp chính là phỏng vấn bán cấu trúc bao gồm: PV qua thư điện tử không đồng thời bằng email Phỏng vấn bán

cấu trúc (Semi-structured Interview - SSI) là phương pháp phỏng vấn dựa vào danh

mục các câu hỏi hoặc các chủ đề cần đề cập đến Tuy nhiên cách đặt câu hỏi cũng như thứ tự có thể thay đổi tuỳ thuộc vào ngữ cảnh và đặc điểm của đối tượng được phỏng vấn

Mục tiêu phỏng vấn:

Nghiên cứu định tính được thực hiện bằng phỏng vấn trực tiếp các NĐT cá nhân, NĐT

tổ chức, các chuyên gia chứng khoán và môi giới chứng khoán (Brockers) có kinh nghiệm nhiều năm trong lĩnh vực đầu tư tại Việt Nam, có kiến thức về Kiểm toán và BCTC nhằm: (1) Xác định tính khả thi của mô hình nghiên cứu được nhóm xây dựng khi áp dụng để nghiên cứu tại Thị trường Việt Nam; (2) Khoanh vùng chính xác các nhân tố ảnh hưởng đến Tính độc lập của KTV cần được nghiên cứu; (3) Thu thập ý kiến đóng góp và hiệu chỉnh Bảng hỏi trước khi tiến hành nghiên cứu định lượng trên diện rộng

Nguyên tắc phỏng vấn: Các phỏng vấn được thực hiện trong vòng 20 ngày, từ giữa

tháng 12 năm 2021 đến cuối tháng 12 năm 2022, với nguyên tắc là phỏng vấn cho đến khi không còn thu được thông tin mới từ người được phỏng vấn về vấn đề nghiên cứu nữa thì dừng lại

Đối tượng phỏng vấn là 10 người bao gồm: Giảng viên trường ĐH KTQD là các

NĐT cá nhân/các chuyên gia Chứng khoán; Trưởng ban kiểm soát nội bộ Các cuộc phỏng vấn trực tiếp được tổ chức qua hình thức Zoom meeting sau giờ giao dịch trong ngày (sau 15h00’) Các đối tượng được phỏng vấn đều là những người am hiểu và có kinh nghiệm đầu tư thực tiễn trên TTCK Việt Nam, đồng thời có hiểu biết sâu sắc các khái niệm và bản chất về kinh tế Một đối tượng được phỏng vấn trong nghiên cứu bằng Phương pháp định tính của nhóm thường tham gia thị trường với nhiều tư cách khác nhau, họ có thể vừa là NĐT cá nhân vừa là người môi giới chứng khoán hay chuyên gia phân tích tài chính hay nhà phân tích chứng khoán; hoặc vừa là NĐT tổ chức đồng thời là nhà phân tích tài chính; có trường hợp tham gia thị trường với cả

Trang 40

bốn tư cách Như vậy, mẫu nghiên cứu được lựa chọn để phân tích số liệu hoàn toàn

đủ điều kiện để đại diện cho các đối tượng hiện đang tham gia vào Thị trường chứng khoán Việt Nam

3.5.2 Xử lý dữ liệu

Sau khi thu thập dữ liệu, nhóm nghiên cứu tiến hành xử lý theo quy trình sau:

Bước 1: Xây dựng bảng hỏi cấu trúc để phỏng vấn dựa trên các nghiên cứu

trước đây (Phụ lục 01)

Bước 2: Tiến hành Phỏng vấn trực tiếp và Phỏng vấn qua thư điện tử; Mỗi cuộc

phỏng vấn được ghi âm và tóm tắt lại trong biên bản được đánh dấu theo thứ tự tương ứng bắt đầu từ số 01 trở đi Sau đó, các biên bản phỏng vấn này sẽ được chuyển tới phần dữ liệu đầu vào trong phần mềm QSR NVIVO 10 để xử lý

Bước 3: Tập hợp các kết quả thu được ở bước 2 và xử lý trên phần mềm QSR NVIVO 10; Từ các biên bản phỏng vấn được tóm tắt (10 biên bản), nhóm nghiên cứu

đã tiến hành mã hóa các nội dung có ý nghĩa kinh tế phục vụ cho công tác nghiên cứu

Bước 4: Phân tích các kết quả nghiên cứu để dẫn tới kết luận

● 89% đồng ý việc bổ sung thêm nhân tố tiềm năng “Độ dài kỳ kiểm toán” là thích hợp 11% còn lại muốn biết thêm lý do bổ sung

● 75% ủng hộ việc sử dụng phương trình hồi quy dành cho 5 nhân tố trên để đo lường góc nhìn của NĐT về Tính độc lập của KTV 25% còn lại cho rằng nhân

tố Nhân sự là không cần thiết

Ngày đăng: 05/04/2023, 20:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Bartlett, R.W. (1993), "A Scale of Perceived Independence: New Evidence on an Old Concept", Accounting, Auditing & Accountability Journal, Vol. 6 No. 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A Scale of Perceived Independence: New Evidence on an Old Concept
Tác giả: Bartlett, R.W
Năm: 1993
5. Beck, P., Frecka, T. J. & Solomon, I. (1988), ‘A model of the market for MAS and audit services: Knowledge spillovers and auditor–auditee bonding’, Journal of Accounting Literature, Vol. 7, pp. 50–64 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Accounting Literature
Tác giả: Beck, P., Frecka, T. J. & Solomon, I
Năm: 1988
6. Berhanu A.A. (2019), “Factors affecting performance audit practice: a case of office of oromia auditor genera”, Addis Ababa University, Ethiopia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Factors affecting performance audit practice: a case of office of oromia auditor genera
Tác giả: Berhanu A.A
Năm: 2019
8. Canning, M. and Gwilliam, D., 1999. Non-audit services and auditor independence: some evidence from Ireland. European Accounting Review, 8(3), pp.401-419 Sách, tạp chí
Tiêu đề: European Accounting Review
10. Dart, E., 2011. UK investors’ perceptions of auditor independence. The British Accounting Review, 43(3), pp.173-185 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The British Accounting Review
12. DeAngelo, L. E. (1981a), ‘Auditor independence, “low balling”, and disclosure regulation’, Journal of Accounting and Economics, Vol. 3, pp. 113–27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: low balling
13. Duff, A., 2004. Audit qual; dimension of Audit quality. The Institute of Chartered Accountant of Scotland, CAMA 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Institute of Chartered Accountant of Scotland
14. Ebaid, I.E., 2011. Non-audit services and perceived auditor’s independence: empirical evidence from an emerging market. Int. J. Business Governance and Ethics, 6(2), pp.162–182 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Business Governance and Ethics
16. Firth, M. 1997. The provision of non-audit services and the pricing of audit fees. Journal of Business Finance and Accounting, 24(3), pp. 511-525 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Business Finance and Accounting
24. Jenkins, J. and Lowe, D., (2011). Auditors As Advocates for Their Clients: Perceptions Of The Auditor-Client Relationship. Journal of Applied Business Research (JABR), 15(2), pp.73 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Applied Business Research (JABR)
Tác giả: Jenkins, J. and Lowe, D
Năm: 2011
28. Lennox, C.S, 1999. Non-audit fees disclosure and audit quality. European Accounting Review, 8(2), pp.239-252 Sách, tạp chí
Tiêu đề: European Accounting Review
29. Lindberg, D.L and F.D.Beck, 2002. Before and after Enron : CPA’s views on auditor independence. CPA Journal, LXXIV Sách, tạp chí
Tiêu đề: CPA Journal
30. Lowe, D., Geiger, M. and Pany, K., 1999. “The Effects of Internal Audit Outsourcing on Perceived External Auditor Independence”. AUDITING: A Journal of Practice & Theory, 18(s-1), pp.7-26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Effects of Internal Audit Outsourcing on Perceived External Auditor Independence”." AUDITING: A Journal of Practice & Theory
31. Mautz, R. K. & Sharaf, H. A. (1961), The Philosophy of Auditing. New York: American Accounting Association Sách, tạp chí
Tiêu đề: New York
Tác giả: Mautz, R. K. & Sharaf, H. A
Năm: 1961
32. Onulaka, P.N., Shubita, M.F. & Combs, A. (2019), “Non-audit fees and auditor independence: Nigerian evidence”, Managerial Auditing Journal, Vol. 34.2019, pp.1029-1049 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Non-audit fees and auditor independence: Nigerian evidence
Tác giả: Onulaka, P.N., Shubita, M.F. & Combs, A
Năm: 2019
33. Palmrose, Z., 1986. The effect of non-audit services on the pricing of audit services: Further evidence. Journal of Accounting Research, 24, pp.405-411 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Accounting Research
34. Parkash, M. and Venable, C.F., 1993. Auditee Incentives for Auditor Independence: The Case of Non-audit Services. Journal of The Accounting Review, 8(1), pp.113- 133 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of The Accounting Review
36. Peter Y., Elvy P., 2017. Investors’ perceptions of auditor independence: Evidence from Hong Kong. e-Journal of Social & Behavioural Research in Business, 8(2), pp.70-82 Sách, tạp chí
Tiêu đề: e-Journal of Social & Behavioural Research in Business
37. Quick, R. and Warming-Rasmussen, B., 2009. Auditor Independence and the Provision of Non-Audit Services: Perceptions by German Investors. International Journal of Auditing, 13(2), pp.141-162 Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Journal of Auditing
38. Quick, R. and Warming-Rasmussen, B., 2015. An Experimental Analysis of the Effects of Non-audit Services on Auditor Independence in Appearance in the European Union: Evidencefrom Germany. Journal of International Financial Management & Accounting, 26(2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of International Financial Management & Accounting

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN