CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA NGHIÊN CỨU
2.4. Các trường phái lý thuyết liên quan đến đề tài nghiên cứu
2.4.1: Lý thuyết đại diện
Lý thuyết đại diện hay còn gọi là học thuyết chủ-thợ (Agency Theory) đã xuất hiện từ những năm 1970 nghiên cứu những vấn đề về thông tin bất cân xứng giữa người chủ sở hữu và người quản lý trong lĩnh vực Bảo hiểm (Spence và Zeckhauser, 1971; Ross, 1973) và từ đó phát triển thành một học thuyết được vận dụng trong các
lĩnh vực khác mà có những vấn đề liên quan đến mối quan hệ đại diện giữa người chủ sở hữu và người đại diện người chủ sở hữu để điều hành hoạt động của tổ chức - còn được gọi là người quản lý (Jensen và cộng sự, 1976).
Người chủ sở hữu mong muốn người quản lý hoàn thành mục tiêu của mình đặt ra một cách hiệu quả và trung thực. Người quản lý có nhiều thẩm quyền trong việc điều hành hoạt động của tổ chức mà người chủ sở hữu khó giám sát hoạt động của tổ chức. Lý thuyết đại diện cho rằng, có tồn tại khả năng người quản lý không thực hiện hết hoặc thực hiện không đúng những yêu cầu của người chủ đề ra. Do đó xảy ra xung đột lợi ích giữa người chủ sở hữu vốn và người quản lý.
Theo lý thuyết này, chủ sở hữu thuê một KTV để cung cấp thông tin được sử dụng trong hợp đồng với người quản lý (Antle, 1984; Watts & Zimmerman, 1986:
312–37). KTV được giả định sẽ cư xử như thể người đó tối đa hóa tiện ích được mong đợi trong quá trình thực hiện điều tra các báo cáo trong điều kiện rủi ro đạo đức. KTV được cung cấp ngày càng nhiều thông tin hơn về chất lượng cuộc kiểm toán mà khách hàng không hoàn toàn có thể quan sát được (Arrow, 1985). Lý thuyết đại diện cho rằng, KTV đóng vai trò là chuyên gia có chuyên môn cao và độc lập để xác nhận thông tin thể hiện trên BCTC của tổ chức được kiểm toán, từ đó giải quyết những xung đột lợi ích giữa người chủ, người quản lý và các bên liên quan.
2.4.2: Lý thuyết tính hợp pháp
Lý thuyết tính hợp pháp (Legitimacy Theory) cho rằng các tổ chức cần phải khẳng định tính hợp pháp của họ bằng cách tuân theo các chuẩn mực và kỳ vọng của xã hội để duy trì mối liên quan và tiếp tục tồn tại (Suchman, 1995). Khi kỳ vọng và thái độ của xã hội thay đổi, các đơn vị cần phải nhanh chóng thích ứng với sự đổi mới và các yêu cầu để bảo đảm tính hợp pháp và hợp lý của các hoạt động mà đơn vị tổ chức. Tính hợp pháp của một tổ chức là nguồn lực hoạt động được thu một cách cạnh tranh từ môi trường và được sử dụng để đáp ứng mục tiêu đề ra (Suchman, 1995).
Việc các đơn vị không tuân thủ các chuẩn mực xã hội hay các giá trị hiện hành có thể gây ra nhiều thử thách cho tổ chức đó trong việc đạt được sự tín nhiệm của cộng đồng
để tồn tại và duy trì hoạt động.
Đối với một công ty kiểm toán độc lập, mặc dù đã tồn tại khung pháp lý về tính hợp pháp cho các chức năng, dịch vụ kiểm toán của chính công ty đó, sự mất lòng tin của công chúng từ những cuộc kiểm toán thất bại đòi hỏi tính cấp thiết của việc thiết lập lại tính hợp pháp. Môi trường của các KTV bao gồm nhiều bên liên quan khác nhau như nhà quản lý nhà nước, cơ quan chuyên môn và người sử dụng thông tin. Các bên liên quan đều có những kỳ vọng về một BCTC được kiểm toán độc lập có tính trung thực và khách quan để có thể đưa ra những quyết định hợp lý. Giống như việc độc lập về mặt hình thức phụ thuộc vào cách người sử dụng thông tin nhận thức được các mối đe dọa và áp dụng các biện pháp bảo vệ nhằm giảm thiểu những mối đe dọa về mức chấp nhận được, các bên liên quan sẽ định kỳ kiểm tra liệu có hay không KTV kiểm soát các mối đe dọa đến mức có thể chấp nhận được để từ đó đánh giá tính hợp pháp của họ.
Lý thuyết tính hợp pháp cung cấp nền tảng cho các bên liên quan nhằm xem xét hình thức của tính độc lập bằng cách đánh giá liệu có hay không KTV loại bỏ hoặc kiểm soát được các mối đe dọa đến mức có thể chấp nhận thông qua các biện pháp bảo vệ.
2.4.3. Lý thuyết của DeAngelo
Chi phí giao dịch liên quan đến việc thay đổi KTV mang lại lợi thế cho KTV đương nhiệm (DeAngelo, 1981a: 118). KTV đương nhiệm có thể thu được lợi ích trong tương lai từ các lợi thế về công nghệ và chi phí giao dịch, bằng cách đặt phí kiểm toán trong tương lai cao hơn chi phí tránh được khi thực hiện kiểm toán, tức là KTV có thể kỳ vọng vào giá thuê (quasi-rent) trong tương lai. Sự tồn tại của giá thuê dành riêng cho khách hàng dẫn đến sự cạnh tranh giữa các KTV để trở thành KTV đương nhiệm và đẩy phí xuống dưới chi phí trong giai đoạn ban đầu (báo giá thấp). Do đó, KTV thực hiện một khoản đầu tư và dự kiến các khoản hoàn trả trong tương lai (bán tô). Khoản đầu tư này sẽ thất bại nếu hợp đồng kiểm toán không được gia hạn.
Khách hàng có thể đe dọa chấm dứt hợp đồng và yêu cầu một cuộc kiểm toán rõ ràng.
Do đó, sự tồn tại của các khoản tiền thuê dành riêng cho khách hàng có thể làm giảm
bớt tính độc lập. Mặt khác, khi KTV nhận tiền thuê từ các khách hàng khác, nếu hành vi sai trái của KTV được tiết lộ hoặc bị phát hiện sự thiếu độc lập, thì danh tiếng KTV sẽ bị ảnh hưởng và KTV đó có thể mất một phần tiền thuê từ các khách hàng khác.
Hiệu ứng này chống lại việc giảm bớt Tính độc lập. Số lượng khách hàng càng lớn, rủi ro mất tiền thuê từ các khách hàng kiểm toán khác càng cao. Do đó, KTV có ít động cơ hơn để hành xử theo cơ hội, điều này làm tăng chất lượng nhận thức của cuộc kiểm toán. Các công ty kiểm toán lớn thường có nhiều khách hàng hơn. Vì vậy, họ đã giảm các động cơ gian lận để giữ chân bất kỳ khách hàng nào và họ được cho là cung cấp chất lượng kiểm toán cao hơn (DeAngelo, 1981b).
Nếu KTV theo luật định cung cấp dịch vụ tư vấn cho khách hàng kiểm toán, thông tin thu được với tư cách là nhà tư vấn có thể được sử dụng để giảm chi phí kiểm toán. Từ đó, mối quan hệ kinh tế giữa KTV và khách hàng được tăng cường nhờ giá thuê dịch vụ kiểm toán tăng lên. Do đó, rủi ro rằng tính độc lập của KTV có thể bị suy giảm sẽ tăng lên (Beck và cộng sự, 1988). Hơn nữa, KTV có thể sử dụng thông tin thu được với tư cách là KTV để giảm chi phí tư vấn. Do đó, tổng tiền thuê dịch vụ kiểm toán và tư vấn cao hơn so với tiền thuê chỉ dịch vụ kiểm toán. Điều này làm tăng mối đe dọa đối với tớnh độc lập của KTV (Ostrowski & Sửder, 1999). Vỡ vậy, sự tin tưởng mà các bên tham gia cuộc đánh giá có được về tính độc lập của KTV có thể bị giảm đi nếu KTV cung cấp NAS.