CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1. Giới thiệu
3.5. Phương pháp nghiên cứu định tính
3.5.1. Thu thập dữ liệu
Nhóm tác giả đã thực hiện nghiên cứu định tính với phương pháp chính là phỏng vấn bán cấu trúc bao gồm: PV qua thư điện tử không đồng thời bằng email. Phỏng vấn bán cấu trúc (Semi-structured Interview - SSI) là phương pháp phỏng vấn dựa vào danh mục các câu hỏi hoặc các chủ đề cần đề cập đến. Tuy nhiên cách đặt câu hỏi cũng như thứ tự có thể thay đổi tuỳ thuộc vào ngữ cảnh và đặc điểm của đối tượng được phỏng vấn.
Mục tiêu phỏng vấn:
Nghiên cứu định tính được thực hiện bằng phỏng vấn trực tiếp các NĐT cá nhân, NĐT tổ chức, các chuyên gia chứng khoán và môi giới chứng khoán (Brockers) có kinh nghiệm nhiều năm trong lĩnh vực đầu tư tại Việt Nam, có kiến thức về Kiểm toán và BCTC nhằm: (1) Xác định tính khả thi của mô hình nghiên cứu được nhóm xây dựng khi áp dụng để nghiên cứu tại Thị trường Việt Nam; (2) Khoanh vùng chính xác các nhân tố ảnh hưởng đến Tính độc lập của KTV cần được nghiên cứu; (3) Thu thập ý kiến đóng góp và hiệu chỉnh Bảng hỏi trước khi tiến hành nghiên cứu định lượng trên diện rộng.
Nguyên tắc phỏng vấn: Các phỏng vấn được thực hiện trong vòng 20 ngày, từ giữa tháng 12 năm 2021 đến cuối tháng 12 năm 2022, với nguyên tắc là phỏng vấn cho đến khi không còn thu được thông tin mới từ người được phỏng vấn về vấn đề nghiên cứu nữa thì dừng lại.
Đối tượng phỏng vấn là 10 người bao gồm: Giảng viên trường ĐH KTQD là các NĐT cá nhân/các chuyên gia Chứng khoán; Trưởng ban kiểm soát nội bộ. Các cuộc phỏng vấn trực tiếp được tổ chức qua hình thức Zoom meeting sau giờ giao dịch trong ngày (sau 15h00’). Các đối tượng được phỏng vấn đều là những người am hiểu và có kinh nghiệm đầu tư thực tiễn trên TTCK Việt Nam, đồng thời có hiểu biết sâu sắc các khái niệm và bản chất về kinh tế. Một đối tượng được phỏng vấn trong nghiên cứu bằng Phương pháp định tính của nhóm thường tham gia thị trường với nhiều tư cách khác nhau, họ có thể vừa là NĐT cá nhân vừa là người môi giới chứng khoán hay chuyên gia phân tích tài chính hay nhà phân tích chứng khoán; hoặc vừa là NĐT tổ chức đồng thời là nhà phân tích tài chính; có trường hợp tham gia thị trường với cả
bốn tư cách. Như vậy, mẫu nghiên cứu được lựa chọn để phân tích số liệu hoàn toàn đủ điều kiện để đại diện cho các đối tượng hiện đang tham gia vào Thị trường chứng khoán Việt Nam.
3.5.2. Xử lý dữ liệu
Sau khi thu thập dữ liệu, nhóm nghiên cứu tiến hành xử lý theo quy trình sau:
Bước 1: Xây dựng bảng hỏi cấu trúc để phỏng vấn dựa trên các nghiên cứu trước đây (Phụ lục 01).
Bước 2: Tiến hành Phỏng vấn trực tiếp và Phỏng vấn qua thư điện tử; Mỗi cuộc phỏng vấn được ghi âm và tóm tắt lại trong biên bản được đánh dấu theo thứ tự tương ứng bắt đầu từ số 01 trở đi. Sau đó, các biên bản phỏng vấn này sẽ được chuyển tới phần dữ liệu đầu vào trong phần mềm QSR NVIVO 10 để xử lý.
Bước 3: Tập hợp các kết quả thu được ở bước 2 và xử lý trên phần mềm QSR NVIVO 10; Từ các biên bản phỏng vấn được tóm tắt (10 biên bản), nhóm nghiên cứu đã tiến hành mã hóa các nội dung có ý nghĩa kinh tế phục vụ cho công tác nghiên cứu.
Bước 4: Phân tích các kết quả nghiên cứu để dẫn tới kết luận.
3.5.3. Kết quả phỏng vấn:
● Kết quả nhận được: Sau khi gửi bảng hỏi trực tiếp nhóm nghiên cứu đã nhận được 10 câu trả lời, trong đó có:
● Tóm tắt kết quả:
● 100% đồng ý việc nghiên cứu 4 nhân tố: (1) Việc cung cấp các dịch vụ NAS có ảnh hưởng tiêu cực tới Tính độc lập của KTV; (2) Giới hạn tối đa của phí tư vấn bị các NĐT cho là thấp hơn phí tư vấn trong thực tế; (3) Việc tách nhân viên tư vấn của công ty kiểm toán khỏi nhân viên kiểm toán làm tăng tính độc lập trong nhận thức; (4) Mức độ suy giảm tính độc lập của KTV phụ thuộc vào loại hình dịch vụ tư vấn, tại thị trường Việt Nam là hợp lý.
● 89% đồng ý việc bổ sung thêm nhân tố tiềm năng “Độ dài kỳ kiểm toán” là thích hợp. 11% còn lại muốn biết thêm lý do bổ sung
● 75% ủng hộ việc sử dụng phương trình hồi quy dành cho 5 nhân tố trên để đo lường góc nhìn của NĐT về Tính độc lập của KTV. 25% còn lại cho rằng nhân tố Nhân sự là không cần thiết.
● 100% đồng ý việc sử dụng phân tích dữ liệu bằng công cụ SPSS 26.0
● 75% đồng ý với cỡ mẫu mục tiêu 1000 người. 12.5% nhận định con số hơi lớn trong khi 12.5% còn lại muốn biết lý do lựa chọn con số này.
● 77.8% chuyên gia đồng ý với mẫu phỏng vấn tập trung vào 3 loại đối tượng: (1) các NĐT cá nhân có kinh nghiệm đầu tư trên thị trường thực tế (không giới hạn trình độ học vấn/ độ tuổi/ số năm kinh nghiệm); Sinh viên có kinh nghiệm đầu tư thực tế và đọc hiểu BCTC của (2) các ngành học liên quan đến đầu tư và (3) thành viên Quỹ đầu tư của các CLB đầu tư học thuật tại các trường ĐH trên địa bàn TP Hà Nội. 22.2% còn lại không đồng thuận với quan điểm trên.
● 55.6% ủng hộ rằng kết quả khảo sát nhận được có sự chênh lệch lớn về số lượng giữa các nhóm NĐT cá nhân trên thị trường và nhóm NĐT học thuật thì kết quả nghiên cứu vẫn đảm bảo được tính chính xác. Trong khi đó 22.2%
không đồng thuận và 22.2% còn lại cho rằng việc phân nhóm không khẳng định được gì.
● Việc công ty kiểm toán cung cấp dịch vụ NAS cho khách hàng kiểm toán của mình có ảnh hưởng đến Tính độc lập của các KTV được ủng hộ bởi 89%
chuyên gia và phần còn lại cho rằng còn phụ thuộc và loại dịch vụ
● 77.8% đồng ý với quan điểm “Mức phí NAS có ảnh hưởng TIÊU CỰC tới Tính độc lập của KTV”, những người con lại không có ý kiến về vấn đề này
● Về quan điểm "Trên thực tế, theo nhận thức của các NĐT Đức, dịch vụ NAS thường được khách hàng chi trả cho Công ty Kiểm toán cao hơn so với luật định nhằm gia tăng sự ảnh hưởng của khách hàng đến ý kiến Kiểm toán BCTC.", 66.7% cho rằng quan điểm này đúng với thị trường Việt Nam, trong khi những người còn lại không có quan điểm hoặc cho rằng không có bằng chứng xác thực.
● 100% đồng ý các Công ty Kiểm toán cần được yêu cầu tách biệt hoàn toàn dịch vụ tư vấn và dịch vụ kiểm toán trong cùng công ty kiểm toán
● 100% đồng ý công ty khách hàng thuê cùng một Công ty Kiểm toán trong hơn 3 năm (theo luật định của Việt Nam) và có các nhân viên chủ chốt thực hiện kiểm toán không thay đổi trong những năm đó khiến những người sử dụng (các NĐT) thông tin trên BCTC được công bố cảm thấy nghi ngờ về tính xác thực
của ý kiến Kiểm toán trong nhận thức.