Ảnh hưởng của các loại hình dịch vụ NAS khác nhau

Một phần của tài liệu Nghiên Cứu Khoa Học 2021_Official (1).Pdf (Trang 89 - 93)

Để có cái nhìn chi tiết hơn về ảnh hưởng của việc cung cấp các dịch vụ NAS đến Tính độc lập của KTV theo nhận thức của các NĐT, danh sách 12 dịch vụ khác nhau đã được nhóm chúng tôi trình bày để phục vụ cho Giả thuyết H5.

Giả thuyết H5 được phát biểu rằng: “Mức độ suy giảm Tính độc lập của KTV phụ thuộc vào loại hình dịch vụ NAS được cung cấp.

Danh sách này bao gồm các dịch vụ được xem là quan trọng (thường xuyên được cung cấp bởi các Công ty kiểm toán) hoặc đã bị cấm rõ ràng trong luật định, thêm vào đó là các dịch vụ bổ sung cho các dịch vụ được công khai trên các trang web của các Công ty kiểm toán độc lập Big-four. Các NĐT cá nhân tham gia khảo sát đã được hỏi về việc liệu sự tin tưởng của họ và Tính độc lập của KTV có bị ảnh hưởng

bởi việc cung cấp 12 loại hình dịch vụ NAS này hay không và có mức độ ảnh hưởng như thế nào. Thang điểm phản hồi Likert được sử dụng:

1: Kém tin tưởng hơn nhiều 2: Kém tin tưởng hơn

3: Không thay đổi về độ tin tưởng 4: Tin tưởng hơn

5: Rất tin tưởng

Bảng 4.22. Kết quả khảo sát giả thuyết H5

(Nguồn: Kết quả phân tích của nhóm nghiên cứu)

Dịch vụ NAS N Trung bình Độ lệch

chuẩn

Mức ý nghĩa

1 Dịch vụ ghi sổ kế toán 1010 3,85 0,917 0,000

2 Dịch vụ tư vấn thuế 1010 3,97 1,029 0,000

3 Dịch vụ tư vấn quản lý 1010 2,85 1,076 0,045

4 Dịch vụ tư vấn tài chính 1010 3,37 0,937 0,000

5 Dịch vụ thiết kế hệ thống thông tin

kế toán 1010 2,44 0,999 0,000

6 Dịch vụ thiết kế kiểm soát nội bộ 1010 2,47 0,991 0,000 7 Dịch vụ đánh giá kiểm soát nội bộ 1010 2,52 1,014 0,000 8 Dịch vụ cung cấp phần mềm kế

toán và thuế 1010 3,98 1,063 0,000

9 Dịch vụ kế toán quản trị 1010 2,45 1,001 0,000

10 Dịch vụ định giá doanh nghiệp 1010 3,97 1,031 0,000 11 Dịch vụ tư vấn niêm yết cổ phần

hóa doanh nghiệp 1010 3,55 1,023 0,000

12 Dịch vụ đào tạo 1010 2,46 0,978 0,079

Bảng 4.22. đã cung cấp cái nhìn tổng thể về các kết quả đã thu thập được. Có thể thấy rằng các giá trị trung bình dao động nhiều từ 2 – 4, điều đó chứng tỏ rằng

trong nhận thức của các NĐT cá nhân các loại hình dịch vụ NAS khác nhau được cung cấp sẽ đem đến các ảnh hưởng khác nhau đến Tính độc lập của KTV. Để xác định liệu các giá trị trung bình có khác biệt đáng kể so với giá trị 3 hay không, các kiểm định t- test đã được nhóm nghiên cứu thực hiện (H0: m = 3; H1: m ≠ 3). Các NĐT Việt Nam chỉ không nhận thấy sự suy giảm Tính độc lập của KTV ở loại hình dịch vụ đào tạo được cung cấp. Ngoài ra, các dịch vụ liên quan đến tư vấn quản lý được xem là chỉ có một tác động tiêu cực nhỏ. Do đó, Giả thuyết H1 cũng đồng thời được xác nhận rằng hầu hết các dịch vụ NAS được cung cấp có ảnh hưởng tiêu cực đến Tính độc lập của KTV. Trong đó ba loại hình dịch vụ được đặc biệt nằm trong Điều 19. Các trường hợp kiểm toán viên hành nghề không được thực hiện kiểm toán, Chương 2 thuộc văn bản Luật số 67/2011/QH12 Luật Kiểm toán độc lập, là: dịch vụ sổ ghi kế toán; dịch vụ tư vấn thuế và các loại hình dịch vụ liên quan đến hệ thống kiểm soát nội bộ vẫn được các NĐT cá nhân tham gia khảo sát đánh giá là có ảnh hưởng tiêu cực đáng kể đến Tính độc lập của KTV.

Đây là một kết quả đáng ngạc nhiên so với nghiên cứu gốc được nhóm lựa chọn là các NĐT cá nhân tham gia khảo sát tại thị trường Việt Nam đã nhận thấy ảnh hưởng tiêu cực đến từ việc KTV có liên quan đến Hệ thống thông tin kế toán của doanh nghiệp và Cung cấp phần mềm kế toán và thuế. Theo Khoản 5 và 6 nằm trong Luật kiểm toán độc lập 2011 số 67/2011/QH12, Chương 2 Điều 19. Các trường hợp kiểm toán viên hành nghề không được thực hiện hiện toán thì các KTV hành nghề không được thực hiện kiểm toán khi tham gia vào việc phát triển, thiết lập và triển khai hệ thống thông tin kế toán của doanh nghiệp thì nhận định này của các NĐT Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn và phù hợp. Phát hiện này tương đồng với các kết quả được tìm thấy đói với các NĐT cá nhân ở Đan Mạch (2005), các NĐT này cũng nhận thấy một tác động tiêu cực đáng kể (mean = 2,68) của các Hệ thống CNTT tài chính (Quick &

Warming-Rasmussen, 2005). Tuy nhiên, phát hiện này lại trái ngược với những gì được tìm thấy ở Đức (2009), những người tham gia khảo sát của nghiên cứu này không nhận thấy ảnh hưởng đáng kể đến từ việc KTV có liên quan đến Hệ thống thông tin kế toán của Doanh nghiệp.

Thêm vào đó, điều đáng chú ý là nhiều dịch vụ được coi là có vấn đề tuy nhiên trên thực tế là chúng không bị cấm rõ ràng bởi các luật định. Điều này chủ yếu xảy ra đối với các dịch vụ liên quan đến Định giá doanh nghiệp (Valuation) và Tư vấn niêm yết (Going public). Liên quan đến hai loại hình này, những người tham gia khảo sát trong Đề tài của chúng tôi nhận thấy tác động tiêu cực đáng kể Tính độc lập của KTV (mean lần lượt có giá trị là m = 3,97 và m = 3,55). Điều thú vị là giá trị của các kết quả này cao hơn giá trị của các kết quả được tìm thấy ở Đức (2009) với mean có giá trị lần lượt là m = 2,36 và m = 2,56. Lý giải cho những phát hiện này có thể là do TTCK Việt Nam mới có sự phát triển một cách vượt bậc trong thời gian gần đây khiến cho các luật định hiện tại chưa theo kịp sự tiến lên của thị trường. Mặt khác, các NĐT cá nhân trên TTCK còn thụ động trong việc tiếp thu thông tin và kiến thức tài chính nên hầu hết chưa có ý thức được mối đe dọa đến từ các dịch vụ NAS được cung cấp bởi các Công ty kiểm toán, vì thế đã không dấy lên những nỗi lo đáng kể trong cộng đồng đầu tư.

Các nhà lập pháp Việt Nam đã không cấm loại hình dịch vụ này.

Bên cạnh loại dịch vụ cần đặc biệt lưu ý như “Định giá doanh nghiệp” và “Tư vấn niêm yết” thì các dịch vụ liên quan đến Tư vấn tài chính như: huy động vốn; tái cơ cấu nợ; mua – bán, sáp nhập doanh nghiệp; muốn được tham khảo ý kiến độc lập về những vấn đề phát sinh trong điều hành, quản trị, kinh doanh, đầu tư;… cũng được coi là có ảnh hưởng tiêu cực đáng kể đến “Tính độc lập của KTV” trong nhận thức của các NĐT cá nhân Việt Nam. Việc lập báo cáo kiểm toán bao gồm các hoạt động đánh giá tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả trong quản lý, sử dụng tiền, tài sản và các nguồn lực khác của đơn vị được kiểm toán (Theo Khoản 3, Điều 7 nằm trong văn bản Luật số 67/2011/QH12 Luật Kiểm toán độc lập). Do đó, các dịch vụ NAS được cung cấp bởi KTV liên quan đến các vấn đề tài chính như huy động vốn, tái cơ cấu vay nợ, … gây ra mối đe dọa tự xem xét (Self-review threat) và đứng trước nguy cơ tư lợi của KTV (Self-interest threat). Mặt khác, KTV theo luật định có nghĩa vụ bảo đảm rằng giúp cho khách hàng loại bỏ đi những yếu điểm bị phát hiện trong quá trình soát xét (trong đó bao gồm những vấn đề liên quan đến hệ thống tài chính của doanh nghiệp), trường hợp này xuất hiện sự khó khăn trong việc tách biệt hoàn toàn hai hoạt động kiểm toán và tư vấn của KTV. Đây có thể được xem là lý do giải thích cho việc các nhà lập pháp không ban hành luật định để cấm các loại dịch vụ như vậy.

Các dịch vụ liên quan đến nghiệp vụ quản trị của Tài chính - Kế toán như quản lý rủi ro và cũng làm giảm thiểu đáng kể lòng tin của các NĐT cá nhân Việt Nam vào Tính độc lập của KTV. Theo Quy định pháp luật về công ty cổ phần, Ban điều hành phải triển khai một hệ thống để sớm xác định các rủi ro có thể xảy ra. Đối với một cuộc kiểm toán theo luật định đối với khách hàng là các công ty niêm yết, KTV phải xem xét sự tồn tại và hiệu quả của hệ thống đó. Do đó, việc cung cấp các dịch vụ quản trị rủi ro tài chính gây ra mối đe dọa tự xem xét. Bởi vậy, sự thiếu tin tưởng của những NĐT cá nhân tham gia khảo sát trong nghiên cứu của chúng tôi là chính đáng. Tuy nhiên, các dịch vụ NAS liên quan đến quản trị rủi ro lại không hề bị cấm một cách chính thức.

Giả thuyết 5 (H5) được chấp nhận.

Một phần của tài liệu Nghiên Cứu Khoa Học 2021_Official (1).Pdf (Trang 89 - 93)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(130 trang)