Các hàm ý từ kết quả nghiên cứu

Một phần của tài liệu Nghiên Cứu Khoa Học 2021_Official (1).Pdf (Trang 99 - 104)

Chương 5: HÀM Ý VÀ KHUYẾN NGHỊ TỪ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

5.1. Các hàm ý từ kết quả nghiên cứu

Dựa trên việc phát triển mô hình nghiên cứu của Reiner Quick và Bent Warming-Rasmussen (Đức 2009) kết hợp với việc tham khảo từ những nghiên cứu liên quan trước đó, nhóm đã xây dựng được mô hình “Tính độc lập của Kiểm toán viên và việc cung cấp dịch vụ NAS: Góc nhìn của NĐT Việt Nam”, sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính cùng với nghiên cứu định lượng. Phương pháp định tính được thực hiện để kiểm tra mô hình và phát hiện các nhân tố mới trong điều kiện tại Việt Nam, thông qua cuộc phỏng vấn sâu với các chuyên gia, các nhà đầu tư có chuyên môn sâu và có nền tảng về chuyên ngành. Phương pháp định lượng được thực hiện bằng cách gửi bảng khảo sát online trên các trang mạng xã hội để thu thập thông tin từ 1015 nhà đầu tư. Nhóm nghiên cứu tiến hành phân tích những dữ liệu thu thập được 1010 phiếu khảo sát hợp lệ bằng phần mềm SPSS 26.0 qua các kỹ thuật như kiểm định Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố EFA, tương quan PEARSON, hồi quy đa biến, … để đạt tiêu chuẩn nghiên cứu đưa vào kiểm định. Kết quả thu được theo các mục tiêu ban đầu đề ra:

Có 4 nhân tố được xác định có ảnh hưởng đến Tính độc lập của Kiểm toán viên dưới góc nhìn của NĐT Việt Nam, đó là: (1) Việc cung cấp dịch vụ NAS, (2) Về mức phí dịch vụ NAS, (3) Về nhiệm kỳ kiểm toán, (4) Về loại hình dịch vụ NAS.

Mức độ tác động của mỗi nhân tố là khác nhau, trong đó, 3 nhân tố “Việc cung cấp dịch vụ NAS”, “Mức phí dịch vụ NAS”, “Nhiệm kỳ kiểm toán” đều tác động ngược chiều tới “Tính độc lập của KTV”. Từ kết quả nghiên cứu thấy rằng, “Mức phí dịch vụ NAS” là nhân tố có tác động mạnh nhất, tiếp đến là “Nhiệm kỳ kiểm toán”, và cuối cùng là “Việc cung cấp dịch vụ NAS”, phân tích cụ thể đã được trình bày ở Chương 4. Giá trị cụ thể thể hiện mức độ tác động có điểm khác biệt so với những nghiên cứu trước đây, thể hiện những điều mới của nghiên cứu áp dụng tại thị trường Việt Nam.

Phương trình hồi quy

Phương trình hồi quy chưa chuẩn hóa:

Y = α - β1*N - β2*F - β3*Hr - β4*T - β5*G + ε

Phương trình hồi quy chuẩn hóa:

Y = -β1*N - β2*F - β3*Hr - β4*T - β5*G + ε Trong đó:

Y: Tính độc lập của KTV;

N: Dịch vụ Phi kiểm toán;

F: Mức phí dịch vụ NAS;

Hr: Nhân sự thực hiện Kiểm toán;

T: Nhiệm kỳ kiểm toán (> 5 năm);

G: Loại hình dịch vụ NAS;

ε: Sai số ngẫu nhiên;

α: Hằng số;

β: Hệ số hồi quy của biến độc lập

5.1.1. Về việc cung cấp dịch vụ NAS có ảnh hưởng “tiêu cực” tới Tính độc lập của KTV

Giả thuyết H1 đã được sử dụng để đo lường nhận thức của các NĐT Việt Nam về việc cung cấp các dịch vụ NAS. Xét về sự tương quan với các nghiên cứu đã thực hiện trước đây, nghiên cứu nhóm chúng tôi đã chứng minh được tác động ngược chiều của “Việc cung cấp dịch vụ NAS” tương tự một số nghiên cứu của Mary Canning &

David Gwilliam (Ireland 1999); Linda Jeanne Flaming (Hoa Kỳ 2002); Ibrahim El- Sayed Ebaid (Ai Cập 2011); Eleanor Dart (Vương Quốc Anh 2011); Reiner Quick (Đức 2015); Peter Chi-wan Yip & Elvy Pang (Hong Kong 2017) tới Tính độc lập của KTV.

Giả thuyết H1 được chấp nhận, đồng nghĩa với việc trong nhận thức của các NĐT cá nhân Việt Nam đã xuất hiện mối lo về việc Tính độc lập của KTV sẽ bị suy giảm do Công ty kiểm toán cung cấp các dịch vụ NAS cho doanh nghiệp niêm yết.

Trong đó, người tham gia khảo sát đều đồng ý rằng việc cung cấp thêm các loại hình dịch vụ NAS tạo ra sự hấp dẫn về mặt kinh tế đến từ phía khách hàng, gia tăng ảnh hưởng của khách hàng lên ý kiến kiểm toán. Bên cạnh đó, họ cũng đồng ý rằng để trở nên minh bạch hơn về cả mặt tư tưởng lẫn hình thức, BCTC được công bố sau kiểm toán bởi doanh nghiệp niêm yết nên bao gồm các dịch vụ NAS được cung cấp như một khoản mục bắt buộc. Tuy nhiên, các NĐT lại không cho rằng doanh nghiệp nên bị cấm

cho phép sử dụng đồng thời cả hai dịch vụ kiểm toán BCTC và dịch vụ NAS được cung cấp bởi cùng một Công ty kiểm toán.

5.1.2. Về mức phí dịch vụ NAS:

Giả thuyết H2 được sử dụng cho nhân tố mức phí và kết quả khảo sát cho thấy tổng tỷ trọng “Đồng ý” thu được khi khảo sát là 61%, cao hơn so với tỷ trọng trong nghiên cứu gốc tại Đức năm 2009 là 50% (Reiner Quick & Bent Warming- Rasmussen).

Giả thuyết H2 được chấp nhận có nghĩa là trong nhận thức của những người tham gia khảo sát, nhân tố mức phí mà các Công ty kiểm toán nhận được từ việc cung cấp các loại hình dịch vụ NAS là có tác động ngược chiều đến Tính độc lập của KTV.

Trong đó, phần lớn NĐT cá nhân Việt Nam tham gia vào khảo sát trong Đề tài của nhóm chúng tôi đồng ý rằng (m=3,47) việc chênh lệch mức phí (nếu phí NAS >

phí kiểm toán) làm gia tăng mức độ ảnh hưởng của khách hàng lên ý kiến kiểm toán.

Sở dĩ, việc số đông đồng ý với nhận định này xuất phát từ việc họ cũng đồng ý rằng trong thực tế mức phí trả cho các dịch vụ NAS được cung cấp thường vượt quá hạn mức được quy định. Tiếp nối các nỗi lo về nhận thức, họ tiếp tục khá đồng ý (m=3,03) với mong muốn tăng mức phí dịch vụ kiểm toán, tuy nhiên lại không mặn mà (m=2,91) với việc mong muốn giảm tỷ lệ phí dịch vụ NAS. Có thể thấy rằng nhận thức về nhân tố mức phí NAS của các NĐT tham gia khảo sát là đúng đắn và có cơ sở kiến thức bởi trong tỷ lệ phí dịch vụ NAS 15%/ tổng phí DV kiểm toán đang được áp dụng theo luật định tại Việt Nam là thấp so với trên thế giới là 25%. Tuy rằng không có mong muốn tăng mức phí dịch vụ NAS nhưng họ đồng ý (m=3,72) rằng để gia đảm bảo Tính độc lập của KTV về mặt hình thức, mức phí mà khách hàng trả cho các dịch vụ NAS đồng thời với dịch vụ kiểm toán BCTC cần được thêm vào như một danh mục bắt buộc trong BCTC được công bố sau kiểm toán.

5.1.4. Về nhiệm kỳ kiểm toán:

Với giả thuyết H4, đa số câu trả lời thu được từ phiếu khảo sát đều đồng ý (tổng tỷ trọng lên đến 68%) rằng: Nhiệm kỳ kiểm toán có độ dài > 5 năm khiến cho mối quan hệ giữa khách hàng và KTV trở nên mật thiết, là tiền đề dẫn đến sự suy giảm Tính độc lập của KTV. Kết quả nghiên cứu của nhóm đưa ra là phù hợp và tương quan với các nghiên cứu trước đây của Carey & Simnett, 2006; Coupley & Doucet, 1993;

Deis & Giroux, 1992; Nagy, 2005) đã đề cập tới ở chương 3.

Giả thuyết H4 được chấp nhận với sự đồng tình từ đa số các Nhà đầu tư tham gia thực hiện khảo sát, nhận định “Nhiệm kỳ Kiểm toán dài > 5 năm khiến cho mối quan hệ giữa khách hàng và KTV trở nên mật thiết, là tiền đề dẫn đến sự suy giảm tính độc lập của KTV” (m=3,72). Sự khẳng định tiếp theo về nhận định cho rằng “Nhiệm kỳ Kiểm toán > 5 năm có thể khiến cho KTV trở nên bất cẩn trong quá trình kiểm toán và đưa ra ý kiến kiểm toán mang tính chủ quan bởi sự “quen thuộc”” cũng khá cao (m=3,59).

Ngoài ra, các Nhà đầu tư tham gia khảo sát phần lớn đều đồng tình quan điểm nhóm nghiên cứu đứa ra: KTV không nên được cho phép thực hiện kiểm toán cho

cùng một khách hàng trên 5 năm, công ty kiểm toán cần bảo đảm sự luân chuyển của các thành viên đóng vai trò chủ chốt trong nhóm kiểm toán sau 5 năm thực hiện và phía DN niêm yết cần luân chuyển công ty kiểm toán sau 5 năm.

5.1.5. Về nhân sự thực hiện kiểm toán

Sau quá trình tham khảo, nghiên cứu và khảo sát, bài nghiên cứu chỉ ra Sự tách biệt giữa nhân viên thực hiện kiểm toán BCTC và nhân viên cung cấp dịch vụ tư vấn cho công ty là vấn đề không ảnh hưởng tới Tính độc lập của KTV dưới góc nhìn của NĐT. Trái lại với các kết quả nghiên cứu trước đây của Titard, 1971; Pany & Reckers, 1983; Lowe & Pany, 1995; Canning & William, 1999; Lowe và cộng sự, 1999;

Swanger & Chewning, 2001; Hill & Booker, 2007. Số liệu mà nhóm nghiên cứu thu thập được thể hiện như sau: Dựa vào Bảng 4.20, có một biến độc lập có giá trị Sig. >

0,05 là biến “Nhân sự” (0,353). Do đó, biến độc lập này không có ý nghĩa trong mô hình dẫn tới loại bỏ giả thuyết H3.

Điều này là hoàn toàn phù hợp với tình hình Việt Nam hiện nay, nhận thấy Khoản 5,6 Điều 19 Chương 2 của Luật số 67/2011/QH12 là một trong những minh chứng rõ ràng về tính chặt chẽ trong quản lý, điều hành nhân sự thực hiện kiểm toán tại nước ta. Kết quả thu được cũng tương đồng với các nghiên cứu từ Đan Mạch bởi Quick & Warming-Rasmussen (2005). Vì vậy, việc tách nhân viên thực hiện kiểm toán BCTC và nhân viên cung cấp dịch vụ tư vấn cho công ty là không cần thiết, hay không tác động vào sự suy giảm Tính độc lập của KTV.

5.1.6. Về loại hình dịch vụ NAS:

Nhóm nghiên cứu đã đưa ra và khảo sát các dịch vụ NAS đang được cung cấp tại Việt Nam như sau:

(1) Dịch vụ ghi sổ kế toán (2) Dịch vụ tư vấn thuế (3) Dịch vụ tư vấn quản lý (4) Dịch vụ tư vấn tài chính

(5) Dịch vụ thiết kế hệ thống thông tin kế toán (6) Dịch vụ thiết kế kiểm soát nội bộ

(7) Dịch vụ đánh giá kiểm soát nội bộ

(8) Dịch vụ cung cấp phần mềm kế toán và thuế (9) Dịch vụ kế toán quản trị

(10) Định giá doanh nghiệp

(11) Tư vấn niêm yết/cổ phần hóa doanh nghiệp (12) Dịch vụ đào tạo

Qua số liệu thống kê đã thu thập được nhóm nghiên cứu đã tiến hành phân tích và xác định được nhận thức của các NĐT cá nhân Việt Nam về mức độ ảnh hưởng của mỗi loại hình dịch vụ NAS được cung cấp là khác nhau. Từ dữ liệu khảo sát thu thập được nhóm chúng tôi đưa ra bảng xếp hạng mức độ ảnh của các loại hình NAS đến Tính độc lập của KTV theo nhận thức của các NĐT cá nhân Việt Nam như sau (các số liệu chi tiết đã được trình bày đầy đủ ở Chương 4 và phần Phụ lục):

Bảng 5.1. Xếp hạng mức độ ảnh hưởng của các loại hình dịch vụ NAS

(Nguồn: Kết quả phân tích của nhóm nghiên cứu)

*Sắp xếp theo theo thứ từ từ dịch vụ có ảnh hưởng nhiều nhất đến dịch vụ có ảnh hưởng ít nhất

Xếp hạng Loại hình dịch vụ

(1) Dịch vụ cung cấp phần mềm kế toán và thuế (2) Dịch vụ tư vấn thuế

(3) Dịch vụ định giá doanh nghiệp (4) Dịch vụ ghi sổ kế toán

(5) Dịch vụ niêm yết/ cổ phần hóa doanh nghiệp (6) Dịch vụ tư vấn tài chính

(7) Dịch vụ tư vấn quản lý

(8) Dịch vụ đánh giá kiểm soát nội bộ (9) Dịch vụ thiết kế kiểm soát nội bộ (10) Dịch vụ đào tạo

(11) Dịch vụ kế toán quản trị

(12) Dịch vụ thiết kế hệ thống thông tin kế toán

Nhìn chung, bài nghiên cứu đã xác định được nhận thức của các NĐT cá nhân tại Việt Nam trong việc ảnh hưởng của cung cấp các dịch vụ NAS đến Tính độc lập của KTV dưới góc nhìn của NĐT tại Việt Nam, bao gồm ảnh hưởng của các nhân tố nhân khẩu học. Với hoàn cảnh các nhà đầu tư tham gia thị trường ngày một tăng mạnh như hiện nay, Việt Nam chưa có nghiên cứu chính thức về vấn đề này, bài nghiên cứu của nhóm tác giả mang tính khái quát cao, có thể tham khảo để đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng ngành kiểm toán hoặc định hướng các nghiên cứu tiếp theo.

5.2 Hạn chế của nghiên cứu & định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo:

Các kết quả của nghiên cứu đã phần nào làm sáng tỏ bức tranh toàn cảnh về sự ảnh hưởng của việc cung cấp các dịch vụ NAS đến Tính độc lập của KTV dưới góc nhìn của NĐT tại Việt Nam. Tuy nhiên, vì giới hạn về thời gian và nguồn lực nên nhóm tác giả chưa thể thực hiện được khảo sát định tính diện rộng mà chỉ tiến hành nghiên cứu định lượng. Thêm vào đó, do dịch bệnh căng thẳng (Covid-19), giãn cách xã hội trong thời gian thực hiện nghiên cứu nên nhóm tác giả chưa thể thực hiện phỏng vấn định tính các chuyên gia có kinh nghiệm đầu tư lâu năm, gây ra khó khăn nhất định trong quá trình thu thập dữ liệu định lượng diện rộng vì một số ngôn ngữ học

thuật gây khó hiểu cho phía NĐT cá nhân khi làm khảo sát. Đặc biệt, đây là một đề tài nghiên cứu liên quan đến nhận thức nhưng cũng do ảnh hưởng của dịch bệnh kéo dài nên nhóm chúng tôi đã không tiến hành khảo sát định tính trên diện rộng các NĐT cá nhân được, các phân tích chỉ được tiến hành dựa trên dữ liệu định lượng được thu thập, điều này có thể dẫn đến các kết luận mang tính chủ quan.

Nhóm tác giả hi vọng rằng, kết quả của nghiên cứu này sẽ là tiền đề cho các nghiên cứu khác trong tương lai về sự ảnh hưởng của việc cung cấp các dịch vụ NAS đến Tính độc lập của KTV góp phần nâng cao chất lượng của BCTC đến các đối tượng sử dụng thông tin; đồng thời, bảo vệ quyền lợi của các NĐT cá nhân khi họ không có quyền truy cập vào các loại tài loại nào đặc biệt khác ngoài BCTC được công bố. Điều này là rất cần thiết trong bối cảnh của TTCK Việt Nam hiện nay, số lượng nhà đầu tư F0 tăng đột biến trong những năm gần đây và đầu tư chứng khoán đang dần trở thành xu hướng.

Mặc dù vậy, kết quả của bài nghiên cứu cũng đã phần nào giúp cho nhóm tác giả xây dựng được một số khuyến nghị nhằm nâng cao niềm tin của các NĐT vào chất lượng của BCTC được công bố sau kiểm toán.

Một phần của tài liệu Nghiên Cứu Khoa Học 2021_Official (1).Pdf (Trang 99 - 104)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(130 trang)