Để kiểm định giả thuyết này, những người tham gia vào khát sát của đề tài chúng tôi cần phải cho chúng tôi biết quan điểm của họ về các nhận định theo thang đo Likert từ 1 đến 5 mà trong đó:
1: Hoàn toàn không đồng ý 2: Không đồng ý
3: Không có ý kiến 4: Đồng ý
5: Hoàn toàn đồng ý
Giả thuyết H4 phát biểu rằng: “Trong nhận thức của các NĐT Việt Nam Tính độc lập của KTV sẽ bị suy giảm do khách hàng sử dụng cùng một KTV trong hơn 5 năm.”
Để kiểm định giả thuyết này, những người tham gia cần cho chúng tôi biết quan điểm của họ về các nhận định:
(1) Nhiệm kỳ Kiểm toán dài > 5 năm khiến cho mối quan hệ giữa khách hàng và KTV trở nên mật thiết, là tiền đề dẫn đến sự suy giảm Tính độc lập của KTV.
(2) Nhiệm kỳ Kiểm toán dài > 5 năm có thể khiến cho KTV trở nên bất cẩn trong quá trình kiểm toán và đưa ra ý kiến kiểm toán mang tính chủ quan bởi sự
“quen thuộc”.
(3) Nhiệm kỳ Kiểm toán dài > 5 năm giúp KTV quen thuộc với cơ cấu, tổ chức của công ty khách hàng, từ đó giúp cho quá trình kiểm toán trở nên dễ dàng và hiệu quả hơn, đồng thời tiết kiệm chi phí cho khách hàng.
(4) KTV không nên được cho phép thực hiện kiểm toán cho cùng một khách hàng quá 5 năm.
(5) Công ty kiểm toán cần đảm bảo rằng các thành viên có vai trò chủ chốt trong nhóm kiểm toán được luân chuyển sau 5 năm.
(6) Công ty khách hàng cần luân chuyển công ty kiểm toán sau 5 năm.
1 Difference agree/ disagree sig. = 0,03
Biểu đồ 4.5. Tóm tắt kết quả khảo sát cho H1
(Nguồn: Kết quả phân tích của nhóm nghiên cứu)
Nhận thức của các NĐT cá nhân tại Việt Nam về độ dài của nhiệm kỳ kiểm toán đã được trình bày ở Biểu đồ 4.4. Có thể thấy rằng đa số các NĐT cá nhân tham gia khảo sát đều đồng ý (tổng tỷ trọng lên đến 68%) rằng: Nhiệm kỳ kiểm toán có độ dài > 5 năm khiến cho mối quan hệ giữa khách hàng và KTV trở nên mật thiết, là tiền đề dẫn đến sự suy giảm Tính độc lập của KTV. Kết quả này được xem như tương đồng với phát hiện của Baker & Cộng sự (2005) và Jennings & Cộng sự (2006) đó là gần một nửa số nhà đầu tư tư nhân là những người ủng hộ việc luân chuyển công ty kiểm toán bắt buộc như một phương thức để bảo vệ tốt hơn các khoản đầu tư. Tuy nhiên, ngược lại với kết quả này, Eleanor Dart (2011), Hussey & Lan (2001) đều không đồng ý với nhận định “Mối quan hệ lâu dài giữa KTV và công ty khách hàng là mối đe dọa đối với Tính độc lập của KTV”. Đặc biệt là Firth (1981) còn khẳng định rằng các NĐT tổ chức 2 thực sự coi mối quan hệ KTV – khách hàng lâu dài là một lợi thế.
2 NĐT tổ chức (Nhà đầu tư tổ chức): Nhà đầu tư tổ chức (institutional investors) là định chế tài chính thu thập các khoản tiết kiệm và tiền gửi khác để đầu tư dài hạn vào trái phiếu, cổ phần thông thường, bất động sản và các chứng khoán bằng ngoại tệ.
Nhiệm kỳ kiểm toán có thể được hiểu là thời kỳ mà các công ty kiểm toán cung cấp dịch vụ kiểm toán cho công ty khách hàng. Theo như Giả thuyết H4, nhiệm kỳ kiểm toán kéo dài > 5 năm có thể dẫn tới sự bất cẩn của KTV do cái nhìn chủ quan.
Tính độc lập của KTV lúc này sẽ bị phá hủy bởi mối quan hệ mật thiết với bên điều hành và quản lý của công ty khách hàng, làm gia tăng mức độ ảnh hưởng của khách hàng lên ý kiến kiểm toán.
Ở Việt Nam hiện nay, quy định về thời kỳ kiểm toán và luân chuyển KTV hành nghề được quy định rất rõ trong các văn bản Luật và chuẩn mực kiểm toán. Luật Kiểm toán độc lập năm 2011 quy định tại Điều 58: “Doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam không được bố trí KTV hành nghề thực hiện kiểm toán cho một đơn vị có lợi ích công chứng trong năm năm tài chính liên tục” khi kiểm toán cho các công ty đã được niêm yết. Nhưng, tại Điều 16 Nghị định số 17/2012/NĐ-CP Chính phủ ngày 13/3/2012 lại quy định rằng: “KTV hành nghề không được ký báo cáo kiểm toán cho một đơn vị được kiểm toán quá 03 năm liên tục”. Có thể thấy quy định về thời gian kiểm toán ở văn bản 2012 ngắn hơn năm 2011. Tuy nhiên, các lập pháp Việt Nam cũng không nên coi nhẹ tầm quan trọng của sự quen thuộc trong quá trình kiểm toán của các KTV vì hạn mức 03 năm trở xuống so với luật định trên thế giới được coi là ngắn. Nhiệm kỳ kiểm toán ngắn như vậy có thể khiến cho KTV gặp phải những khó khăn và rủi ro khó lường trước trong việc làm quen và tìm hiểu lại từ đầu với một công ty khách hàng mới khác. Đồng thời, nhiệm kỳ kiểm toán ngắn sẽ làm giảm chất lượng kiểm toán bởi sự thiếu hụt hiểu biết về thông tin khách hàng kiểm toán.
Mặt khác, trong quá trình tìm hiểu và tiến hành phân tích sâu các nghiên cứu trên thế giới về biến “Nhiệm kỳ kiểm toán”, nhóm nghiên cứu chúng tôi nhận ra rằng, nhiều nghiên cứu trên thế giới trước đó cho thấy rằng thực hiện kiểm toán cho một công ty khách hàng trong thời gian dài, KTV có xu hướng giảm thiểu thái độ hoài nghi nghề nghiệp và chủ quan trong quá trình truy vết các bằng chứng kiểm toán. Lý giải cho điều này có thể do sợ mất đi khách hàng dẫn đến làm suy giảm doanh thu của công ty kiểm toán, dẫn đến KTV dù đã nhận ra nhưng cố ý bỏ qua các sai phạm, đặc biệt là đối với các khách hàng có mối quan hệ thân thiết (theo Davis & cộng sự, 2003; Myers, Myers & cộng sự, 2003; Gavious, 2007). Không chỉ là các KTV, có quan điểm cho
rằng cần có sự luân chuyển các Chủ phần hùn kiểm toán (Partners) chứ không phải các KTV (Theo trang Phân tích tài chính), lý giải cho điều này nhóm chúng tôi cho rằng bởi vì họ mới là những người thiết lập các bản hợp đồng và đặt nền móng cho các mối quan hệ thân thiết với khách hàng của Công ty mình. Bởi vậy, nhóm chúng tôi thấy rằng không chỉ là hạn định đối với KTV trực tiếp ký lên BCTC, mà một giới hạn bắt buộc về nhiệm kỳ kiểm toán đối với một Công ty kiểm toán là cần thiết.
Giả thuyết 4 (H4) được chấp nhận.