ĐỀ CƯƠNG TÂM LÍ HỌC TIỂU HỌC Câu 1 Tại sao sự phát triển tâm lí là kết quả hoạt động của chính đứa trẻ với những đối tượng do loài người tạo ra? Cho ví dụ minh họa Hoạt động là quá trình tác động qua.
Trang 1ĐỀ CƯƠNG TÂM LÍ HỌC TIỂU HỌC
Câu 1: Tại sao sự phát triển tâm lí là kết quả hoạt động của chính đứa trẻ với những đối tượng do loài người tạo ra? Cho ví dụ minh họa.
- Hoạt động là quá trình tác động qua lại giữa con người và thế giới xung
quanh để tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới và về phía con người
- Hoạt động của trẻ là yếu tố quyết định trực tiếp sự phát triển tâm lí Bởi vì, bằng lao động của mình, con người ghi lại kinh nghiệm, năng lực…Trong các công cụ sản xuất, các đồ dùng hàng ngày, các sản phẩm văn hóa nghệ thuật…Loài người đã tích lũy kinh nghiệm thực tiễn xã hội của mình trong các đối tượng do con người tạo ra và trong các quan hệ giữa con người với con người
- Ngay từ khi ra đời, đứa trẻ đã sống trong thế giới đối tượng và những quan hệ
đó Nhưng đứa trẻ không thích nghi với thế giới đồ vật và hiện tượng do con người tạo ra, mà nó phải hoạt động để lĩnh hội thế giới đó Trẻ càng tích cực hoạt động bao nhiêu thì tâm lí phát triển bấy nhiêu
- Đứa trẻ phải tiến hành những hoạt động căn bản tương ứng với những hoạt động mà trước đó loài người đã thể hiện vào trong đồ vật, hiện tượng Nhờ tíchcực tiến hành những hoạt động như vậy, đứa trẻ lĩnh hội được những kinh nghiệm cho mình Quá trình đó là quá trình tâm lí trẻ phát triển
=> Như vậy, sự phát triển tâm lí là kết quả hoạt động của chính đứa trẻ với những đối tượng do loài người tạo ra, chỉ có những yếu tố nào của môi trường trẻ tích cực tác động để tiếp thu nó thì yếu tố đó mới là nguồn gốc trực tiếp của
sự phát triển tâm lí trẻ và tính tích cực hoạt động của trẻ quyết định trực tiếp chất lượng phát triển tâm lí
- Ví dụ minh họa: Để vẽ một bức tranh hoàn thiện Đầu tiên cần dùng bút chì
vẽ trước, sau đó dùng tẩy để tẩy những chỗ vẽ sai, cuối cùng dùng màu tô bức tranh
Trẻ em 3-6 tuổi muốn tiếp thu quy tắc này cần thực hiện theo cách mà người đitrước đã làm
Trang 2Câu 2: Vận dụng nguyên lí phát triển của phép biện chứng duy vật vào việc nghiên cứu tâm lí trẻ em như thế nào? Cho ví dụ minh họa.
- Nguyên lý về sự phát triển là nguyên tắc lý luận mà trong đó khi xem xét sự
vật, hiện tượng khách quan phải luôn đặt chúng vào quá trình luôn luôn vận động và phát triển Phát triển là một phạm trù triết học dùng để khái quát hoá quá trình vận động tiến hoá từ thấp lên cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn
- Đứng vững trên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, các nhà tâm lí học khoa học coi sự phát triển tâm lí trẻ gắn liền với sự xuất hiện những đặc điểm tâm lí mới về chất, những cấu tạo tâm lí mới ở những giai đoạn lứa tuổi khác nhau
- Bất cứ một mức độ nào của trình độ phát triển đi trước cũng là sự chuẩn bị vàchuyển hóa cho trình độ sau cao hơn Sự phát triển tâm lí diễn ra từ thấp tới cao, theo từng giai đoạn như một quá trình, trong đó có những bước nhảy và những đột biến Sự phát triển tâm lí trong từng giai đoạn lứa tuổi phụ thuộc vàohoạt động chủ đạo của từng lứa tuổi đó
VD:
+ 0-2 tuổi: Giai đoạn cảm giác – vận động
+ 2-8 tuổi: sử dụng ngôn ngữ và chức năng tượng trưng
+ 8-12 tuổi: Giải quyết vấn đề thông qua thao tác bằng tay
+ 12-15 tuổi: Giải quyết vấn đề thực tế và giả định bằng cách dùng các kí hiệu trừu tượng
- Sự phát triển của thực thể bao hàm trong bản thân nó, có 2 phương thức kế thừa diễn ra liên tiếp:
+ Thứ nhất, kế thừa bằng hoàn thiện: nghĩa là cái đã có ở thực tế vẫn tiếp tục phát triển, chưa chuyển động sang cái khác
VD: Chó con – Chó nhỡ - Chó già ( vẫn nằm trong khái niệm về “con chó”)+ Thứ hai, kế thừa bằng phủ định: nghĩa là tạo ra cái mới vè chất của thực thể cũng là quá trình thực thể bước sang một giai đoạn phát triển mới Kế thừa bằng phủ định mới tạo ra sự phát triển của một thực thể
Trang 3VD: Sự phát triển của quả trứng – Con gà
Câu 3: Trình bày những đặc điểm nhu cầu nhận thức của học sinh tiểu học.
Từ đó, nêu các ứng dụng sư phạm cần thiết.
- Nhu cầu là những đòi hỏi tất yếu của học sinh về việc tìm tòi, tiếp thu những tri thức, kĩ năng và kĩ xảo cũng như cách thức tiếp cận chúng àm chưa từng có trong kinh nghiệm của học sinh
- Trong các nhu cầu của học sinh tiểu học, nhu cầu nhận thức giữ vai trò chủ đạo Nhu cầu nhận thức là một thành tố cơ bản của động cơ nhận thức Nếu không có nhu cầu nhận thức thì học sinh sẽ không có tính tích cực trí tuệ
Đặc điểm nhu cầu nhận thức của học sinh tiểu học:
- Nhu cầu nhận thức được hình thành và phát triển mạnh ở học sinh tiểu học Nguyên nhân là do yêu cầu của hoạt động học
- Sự hình thành và phát triển nhu cầu nhận thức của học sinh tiểu học được chia làm hai giai đoạn:
+ Học sinh đầu tiểu học có nhu cầu tìm hiểu những sự vật, hiện tượng riêng lẻ, nghĩa là có nhu cầu tìm hiểu “cái này là cái gì”
+ Học sinh cuối cấp tiểu học có nhu cầu tìm hiểu các nguyên nhân, quy luật, các mối quan hệ và quan hệ phụ thuộc giữa các sự vật, hiện tượng, nghĩa là có nhu cầu trả lời các câu hỏi thuộc loại “tại sao”, “như thế nào”
- Nếu nhu cầu nhận thức không được hình thành, học sinh nghĩ rằng mình học
vì cha mẹ, vì giáo viên hay vì cái gì chứ không phải vì sự tiến bộ trong học tập.Thường thì nhu cầu nhận thức, nhu cầu được học là nhu cầu tự nhiên của trẻ
em, nhưng có thể bị ức chế, dập tắt từ chính việc học của các em
- Giáo viên giúp trẻ tìm được sự say mê, niềm cảm xúc của học sinh khi chúng
tự khám phá, tự tìm được lời giải hay của bài toán
Trang 4- Giáo viên phải biết cách làm cho học sinh tin vào khả năng nhận thức của mình.
Câu 4: Nêu khái niệm hoạt động học Vận dụng vào việc nghiên cứu hoạt động học của học sinh tiểu học như thế nào?
- Hoạt động học là hoạt động do học sinh thực hiện nhằm lĩnh hội nội dung cácmôn học do hoạt động dạy tổ chức Trên cơ sở đó, hình thành và phát triển nhân cách học sinh theo mục tiêu giáo dục Tiểu học
- Đối tượng của hoạt động học là các tri thức khoa học và kĩ năng, kĩ xảo tươngứng với các tri thức đó
- Hoạt động học là hoạt động hướng vào làm thay đổi chính chủ thể của hoạt động này Hoạt động học là hoạt động tiếp thu lĩnh hỗi những nội dung và hìnhthức lí luận của tri thức, kĩ năng, kĩ xảo xã hội
- Nội dung cơ bản của hoạt động học là lĩnh hội một cách có hệ thống và khoa học những tri thức khoa học và các kĩ năng tương ứng với chúng
- Chủ thể của hoạt động học là học sinh – những người đang tự làm biến đổi mình bằng cách chiếm lĩnh các đối tượng trên
* Vận dụng hoạt động học vào việc nghiên cứu hoạt động học của học sinh tiểuhọc: Hoạt động học tồn tại trong suốt quãng đời đi học của người học sinh và
là hoạt động chủ yếu của mọi lứa tuổi học sinh
- Hoạt động học là hoạt động xuất hiện lần đầu tiên trong đời sống của trẻ khi các em gia nhập vào trường tiểu học, cho dù những mầm mống của nó đã đượcnảy sinh trong lòng hoạt động vui chơi – hoạt động chủ đạo của lứa tuổi trước đó
- Hoạt động học là hoạt động được hình thành nhờ phương pháp nhà trường Phương pháp nhà trường bao gồm cả xác định mục tiêu, lựa chọn nội dung và phương pháp chiếm lĩnh tri thức lẫn tổ chức việc lĩnh hội một cách chuyên biệt
- Hoạt động học là hoạt động chủ đạo của học sinh tiểu học Có đầy đủ các dấuhiệu của một hoạt động chủ đạo: là hoạt động có đối tượng mới đó là tri thức khoa học; là hoạt động tạo ra cái mới trong tâm lí học sinh
- Hoạt động học quy định các hoạt động khác diễn ra đồng thời cùng với nó
Trang 5Câu 5: Nêu khái niệm động cơ học Tại sao động cơ học chỉ được hình
thành chính trong quá trình học sinh thực hiện hoạt động học.
- Động cơ học của học sinh chính là nhu cầu được mỗi học sinh nhận thức, trở thành động lực thôi thúc các em học, hay nói cách khác là cái mà vì nó học sinh thực hiện hoạt động học
Động cơ học chỉ được hình thành trong quá trình học sinh thực hiện hoạt động học vì:
- Động cơ học không có sẵn ở học sinh ngay từ đầu mà được hình thành dần dần chính trong quá trình học sinh học
- Có 2 loại động cơ học:
+ Động cơ nhận thức (động cơ bên trong): là đối tượng của hoạt động học mà kết quả là sau khi chiếm lĩnh nó, chủ thể thỏa mãn nhu cầu được vật chất hóa trong đối tượng Biểu hiện: học sinh mong muốn có nhiều hiểu biết, tích cực suy nghĩ khi giáo viên đặt câu hỏi, tích cực phát biểu, tích cực làm bài tập không chỉ giáo viên giao mà còn làm tự nguyện, chọn bài tập khó để giải…+ Động cơ xã hội (động cơ bên ngoài): học sinh học để nhận phần thưởng, học
để làm vui lòng bố mẹ, được điểm cao, lựa chọn bài tập dễ để giải, chỉ làm bài tập giáo viên giao
=> Hai loại động cơ trên đều được hình thành ở mỗi học sinh trong một lớp học có cùng đối tượng học tập, chúng có thể chuyển hóa vị trí cho nhau Xét theo quan điểm sư phạm, động cơ nhận thức có giá trị hơn, giúp tạo ra tính tíchcực, tự giác, sự say mê trong học tập của học sinh
- Tương ứng với hai loại động cơ học là hai loại tình huống trong học tập:
+ Tình huống học tập cưỡng bức có mục đích: học tập của học sinh được thúc đẩy bởi động cơ xã hội
+ Tình huống học tập tự giác có mục đích: học tập của học sinh được thúc đẩy bởi động cơ nhận thức
Trang 6- Nếu như trong từng tiết học giáo viên tổ chức được quá trình học sinh tiếp thutri thức để làm bài tập Giáo viên nhận xét, đánh giá, động viên cẩn thận thì dầndần động cơ học tập được hình thành và có thể động cơ nhận thức được xếp thứ bậc cao nhất.
Câu 6: Trình bày hành động cụ thể hóa trong hoạt động học của học sinh tiểu học Cho ví dụ minh họa.
- Trong dạy học ở tiểu học phải làm cho học sinh biêt dùng phương pháp chung
đã được hình thành để giải quyết những trường hợp cụ thể như là biểu hiện riêng của tình huống chung được lựa chọn ban đầu Nhờ vậy mà các em nhanh chóng phân biệt được mọi quan hệ trong đó và biết sử dụng phương pháp
chung đã được hình thành để giải quyết những tình huống mới
- Hành động cụ thể hóa là hành động mà nhờ nó học sinh biết sử dụng các phương pháp chung đã được hình thành để giải quyết những nhiệm vụ thực tiễn, cụ thể Hành động này vừa có tác dụng củng cố, khắc sâu các phương pháp chung đã được hình thành, vừa giúp xã định mức độ hình thành của các phương pháp chung trên Hành động cụ thể hóa được coi là công đoạn luyện tập để hình thành kĩ năng
- Hành động cụ thể hóa được tiến hành như sau:
+ Học sinh phải hiểu đúng mục đích, yêu cầu bài học
+ Học sinh phải tái hiện được kiến thức cũ có liên quan đến việc giải bài tập+ Học sinh xác lập mối quan hệ giữa kiến thức cũ với yêu cầu bài tập từ đó xácđịnh các bước giải
+ Học sinh trình bày các bước giải và trả lời đúng yêu cầu bài tập
- Ví dụ:
Giáo viên đưa ra bài tập như sau: Cho hình vuông và hình chữ nhật có diện tíchbằng nhau Chiều rộng của hình chữ nhật là 2cm, cạnh của hình vuông là 4cm Tính chiều dài của hình chữ nhật
+ Học sinh hiểu mục đích của bài tập: Tính chiều dài của hình chữ nhật
Trang 7+ Học sinh tái hiện kiến thức cũ: Công thức tính diện tích hình vuông và diện tích hình chữ nhật.
+ Học sinh thiết lập mối quan hệ: hình vuông và hình chữ nhật có diện tích bằng nhau, cần phải tìm diện tích hình vuông trước, sau đó tính được chiều dài của hình chữ nhật
+ Học sinh trình bày các bước giải:
Diện tích hình vuông là:
4x4=16 (cm2)Hình vuông và hình chữ nhật có diện tích bằng nhau nên diện tích hình chữ nhật là 16 cm2
Chiều dài của hình chữ nhật có độ dài là:
16 : 2 = 8 (cm) Đáp số: 8 cm
Câu 7: Hành vi đạo đức là gì? Nêu các tiêu chuẩn để đánh giá một hành vi của học sinh là hành vi đạo đức hay không đạo đức Cho ví dụ minh họa.
- Hành vi đạo đức là một loại hành vi của con người Đó là hành động tự giác được thúc đẩy bởi động cơ có ý nghĩa về mặt đạo đức
* Các tiêu chuẩn để đánh giá một hành vi của học sinh là hành vi đạo đức hay không đạo đức:
- Tiêu chuẩn thứ nhất, tính tự giác của hành vi:
+ Hành vi được thực hiện có tự nguyện hay không? Ví dụ nhặt được của rơi, trả lại người mất của học sinh tiểu học chỉ được coi là hành vi đạo đức khi các
em thực hiện hành vi trả tự nguyện chứ không phải do sự bắt buộc của người lớn hoặc thầy cô trong nhà trường
+ Tính tự giác của hành vi được thể hiện ở chỗ: Chủ thể của hành vi đạo đức nhận thức được ý nghĩa, mục đích hành vi của mình và chủ thể hoàn toàn hành động bởi sự thúc đẩy của những động cơ chính nội tâm bản thân mình
- Tiêu chuẩn thứ hai, Tính có ích của hành vi:
Trang 8+ Thể hiện ở chỗ hành vi đó có đem lại lợi ích, sự phát triển của tập thể và cộng đồng người hay không? Đến mức độ nào? Ví dụ hành vi giúp bạn khi bạngặp khó khăn “Hà và Lan cõng nhau đi học” đem lại lợi ích, sự phát triển cho bạn bè, người xung quanh và đặc biệt có ích trong việc khẳng định một lẽ sống,một chuẩn mực đạo đức của xã hội Điều cần chú ý là tính có ích phụ thuộc vào thế giới quan, đặc biệt là nhân sinh quan của chủ thể con người.
VD: giúp đỡ người nghèo, người tàn tật Nhường chỗ cho cụ già, phụ nữ có thai và trẻ nhỏ trên xe bus và những nơi công cộng
- Tiêu chuẩn thứ ba, Tính không vụ lợi của hành vi:
+ Thể hiện ở chỗ, hành vi của con người vì xã hội, lấy lợi ích xã hội làm trung tâm, biết cân đối giữa lợi ích của cá nhân và xã hội
VD: Quyên góp tiền, sách vở giúp đỡ, ủng hộ đồng bào miền Trung mùa lũ lụt
Câu 8: Trình bày ý chí và thói quen đạo đức Nêu các biện pháp giáo dục thói quen đạo đức cho học sinh tiểu học.
* Ý chí
- Ý chí đạo đức là ý chí của con người hướng vào việc tạo ra các giá trị đạo đức, biểu hiện ở năng lực thực hiện các hành vi đạo đức đòi hỏi phải có sự nỗ lực khắc phục khó khăn
- Con người thực hiện hành vi đạo đức thường có sự đấu tranh động cơ, đấu tranh giữa điều muốn và điều phải làm, con người hành động theo hướng nào tùy thuộc vào ý chí đạo đức của người đó
- Các phẩm chất ý chí (tính mục đích, tính độc lập, tính quyết đoán…) vừa là điều kiện cần thiết đểcon người hành động đến cùng theo xu hướng đạo đức của mình, vừa là cơ sở để hiện thực hóa xu hướng đạo đức của nhân cách
* Thói quen đạo đức
- Thói quen đạo đức là những hành vi đạo đức đã ổn định của con người, được thể hiện trong những tình huống muôn hình muôn vẻ, được xem như nhu cầu đạo đức Nhu cầu này được thỏa mãn thì con người thấy thoải mái, hài lòng Nhu cầu không được thỏa mãn thì thấy khó chịu
Trang 9- Muốn có thói quen đạo đức thì phải tổ chức cho học sinh hoạt động một cách
có hệ thống các hành vi đạo đức trong các tình huống khác nhau
* Biện pháp giáo dục thói quen đạo đức cho học sinh tiểu học:
- Giáo viên (người lớn) làm mẫu để học sinh bắt chước
- Hình thành hành vi đúng cho học sinh, tổ chức cho học sinh luyện tập một cách hệ thống các hành vi đó trong những tình huống khác nhau để hành vi đó trở thành nhu cầu, đó là thói quen
Câu 9: Trình bày năng lực hiểu biết rộng của người giáo viên Tại sao
người giáo viên phải có năng lực này?
- Năng lực hiểu biết sâu rộng là năng lực nắm vững nội dung, chương trình, sách giáo khoa và các tài liệu hướng dẫn của từng môn học ở Tiểu học, có nănglực tự bồi dưỡng để hoàn thiện trí thức, tiếp nhận cái mới nhằm không ngừng
mở rộng, nâng cao vốn văn hóa chung và vốn văn hóa sư phạm
- Năng lực này được biểu hiện ở các kĩ năng:
+ Kĩ năng nắm vững nội dung và chương trình các môn học: nắm vững tri thức, nội dung khái niệm và phương pháp làm ra tri thức, nắm được phần mở rộng nội dung các môn học
+ Kĩ năng tự học, tự nghiên cứu để nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp
vụ Biện pháp: căn cứ vào nôi dung các môn học để tìm hiểu nâng cao trình độ,lập kế hoạch để tự bồi dưỡng
+ Thường xuyên theo dõi những thành tựu mới của khoa học thuộc môn mình giảng dạy để cập nhật tri thức
+ Có nhu cầu mở rộng, nâng cao vốn văn hóa chung và vốn văn hóa sư phạm
- Người giáo viên phải có năng lực này vì: giáo viên không chỉ dạy học sinh những kiến thức cơ bản mà còn phải dạy kiến thức nâng cao, ngoài ra người giáo viên có năng lực hiểu biết sâu rộng sẽ giải đáp được các thắc mắc của học sinh liên quan đến khoa học, xã hội… Như vậy, sẽ tạo được sự gần gũi, thân thiết với học sinh hơn
Trang 10Câu 10: Trình bày năng lực vạch dự án sự phát triển nhân cách của học sinh tiểu học Tại sao người giáo viên phải năng lực này?
- Năng lực vạch dự án sự phát triển nhân cách của học sinh tiểu học:
+ Năng lực này là năng lực biết dựa vào mục đích giáo dục, yêu cầu đào tạo, hình dung trước cần phải giáo dục cho học sinh tiểu học những phẩm chất nhâncách nào và hướng hành động của mình và đạt tới hình mẫu của nhân cách nhưmục tiêu cấp học đã quy định
+ Năng lực này được biểu hiện dưới dạng: Dự đoán được sự hình thành và pháttriển những thuộc tính tâm lí của học sinh, biết được nguyên nhân sinh ra cũng như mức độ hình thành và phát triển những thuộc tính đó
+ Năng lực của thầy giáo được thể hiện ngày càng rõ hơn qua sự phát triển những đặc điểm tâm lí, những biểu hiện nhân cách của học sinh dưới tác động giáo dục của người thầy giáo (được nhận định, đánh giá, đối chiếu với mô hìnhnhân cách của học sinh, đối chiếu với đầu vào khi thầy mới tiếp nhận trò)
+ Năng lực này có được do nhiều yếu tố tâm lí, như óc tưởng tượng sư phạm, niềm tin vào học sinh, nhận thức về quy luật giáo dục, quy luật phát triển của con người…
- Người giáo viên phải có năng lực này vì: giáo viên không chỉ dạy học sinh theo nội dung quy định mà còn phải có phương pháp dạy phù hợp theo kế hoạch đã đặt ra từ trước để giúp học sinh hiểu rõ được bản chất của vấn đề - cái
mà người giáo viên muốn truyền đạt
Câu 11: Trình bày khái niệm học sinh tiểu học Từ đó, nêu các ứng dụng sư phạm cần thiết.
* Khái niệm học sinh tiểu học:
- Học sinh tiểu học là một giai đoạn phát triển của trẻ em Hiện nay học sinh tiểu học là những trẻ em từ 6 đến 11-12 tuổi, một trình độ phát triển có những đặc trưng riêng và có thể chủ động tổ chức từ phía nhà trường trên cơ sở nhữngthành tựu mới nhất của khoa học giáo dục
- Học sinh tiểu học là một chỉnh thể, một thực thể hồn nhiên tiềm tàng khả
Trang 11đạo, đó là hoạt động lần đầu tiên xuất hiện với tư cách là chính nó và tạo ra cái mới trong tâm lí, quy định chiều hướng và phát triển tâm lí của con người.
- Học sinh tiểu học phát triển bằng chính hoạt động của các em Các em lĩnh hội vốn văn hóa dân tộc và nhân loại, yếu tố tích cực và tiêu cực thông qua hoạt động học và hoạt động khác
- Học sinh tiểu học là nhân cách đang hình thành, là nhân vật trung tâm của nhà trường Nhờ thực hiện hoạt động học và những hoạt động khác mà khả năng phát triển của các em được mở ra: khả năng giao tiếp, khả năng lĩnh hội tri thức,…
- Học sinh phát triển trong nền văn hóa dành cho chính mình: văn hóa nhà trường, văn hóa gia đình, văn hóa dân tộc…Học sinh tiểu học hình thành cho mình những năng lực người ở trình độ sơ đẳng nhưng rất cơ bản: năng lực sử dụng tiếng mẹ đẻ, năng lực toán, năng lực đặc trung nhất là năng lực thực hiện hoạt động học
* Các ứng dụng sư phạm cần thiết:
- Ở bậc Tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân mặc dù nội dung dạy học còn sơ lược nhưng rất cơ bản, định hướng sự phát triển của học sinh để học sinh học cấp cao hơn Do đó, nội dung học tập là đối tượng củahoạt động chủ đạo của học sinh tiểu học phải là những tri thức khoa học cơ bảnhiện đại và thiết thực
- Giáo viên tổ chức để học sinh thực hiện hoạt động học bằng cách giáo viên thiết kế các nhiệm vụ học và tổ chức cho học sinh thực hiện các hành động họctập để giải quyết nhiệm vụ học
- Những kiến thức hoạt động phải bổ ích, có lợi cho sự phát triển của học sinh, loại bỏ những kiến thức hoạt động xấu trong nhà trường
- Vì giáo viên là thần tượng của học sinh nên giáo viên phải có những bài học, những hành động tốt làm gương cho học sinh noi theo
Câu 12: Trình bày những đặc điểm sinh lí của học sinh tiểu học và nêu các ứng dụng sư phạm cần thiết.
Trang 12* Đặc điểm sinh lí của học sinh tiểu học bao gồm đặc điểm cơ thể và đặc điểm thần kinh:
- Đặc điểm cơ thể:
+ Thể lực của các em phát triển tương đối đồng đều Chiều cao mỗi năm chỉ tăng thêm trên dưới 4 cm, trọng lượng cơ thể mỗi năm tăng 2 kg Trẻ em vào lớp 1 đúng 6 tuổi thì có chiều cao khoảng 107cm (nam); 106cm (nữ) và cân nặng đạt 16,56kg (nam); 15,99kg (nữ) Đây là số liệu trung bình về chiều cao
và cân nặng trẻ, có thể có sự xê dịch, nhưng khi thấy có sự xê dịch quá lớn thì cần đưa trẻ đi khám để tìm rõ căn nguyên
+ Trẻ tiểu học có thể tiến hành những vận động cơ bản của người (đi, đứng, chạy, nhảy, bò, giữ thăng bằng…) một cách mềm mại, nhanh và chính xác + Bộ xương của trẻ tuy bước vào giai đoạn cứng dần nhưng còn nhiều mô sụn
và phát triển chưa hoàn thiện, cân đối, đặc biệt là xương bàn tay, ngón tay còn yếu dẫn đến trẻ khó tiếp thu kĩ thuật viết và không viết được các bài tập quá dài Vì thế cần quan tâm đến tư thế đi, đứng, ngồi…của các em đề phòng cong,vẹo
+ Hệ tuần hoàn chưa hoàn chỉnh Đây là thời kì tim phát triển mạnh, mạch máuthoáng nên khả năng cung cấp và lưu thông máu tốt hơn so với lứa tuổi trước Nhịp tim nhanh, huyết áp động mạch thấp làm cho các em chóng mệt và dễ xúcđộng
- Hệ thần kinh:
+ Hệ thần kinh của học sinh tiểu học đang thời kì phát triển mạnh Đây là thời
kì não bộ phát triển cả về khối lượng, trọng lượng lẫn cấu tạo, đến khoảng 9-10tuổi, não của các em căn bản được hoàn thiện và chất lượng sẽ được giữ lại trong suốt cuộc đời
+ Đây là giai đoạn mà sự hình thành các phản xạ có điều kiện diễn ra nhanh và nhiều
+ So với lứa tuổi trước, sự cân bằng giữa hai quá trình thần kinh cơ bản đã tốt hơn nhiều Tuy nhiên, hưng phấn còn mạnh dẫn đến khả năng ức chế của hệ thần kinh còn yếu Bộ óc và hệ thần kinh đang phát triển dần đến hoàn thiện nên các em dễ bị kích thích
Trang 13+ Bút dùng cho học sinh phải đúng cỡ tay, trọng lượng phù hợp.
- Hướng dẫn tỉ mỉ cho học sinh ngồi đúng tư thế khi học và viết:
+ Ngồi lưng thẳng, đầu hơi cúi, mắt cách vở 25-30cm
+ Khi viết, bút được điều khiển bằng 3 ngón tay: ngón cái, trỏ, giữa Tay trái đểphía bên trên quyển vở, không xê dịch người và vở, trừ khi sang trang
- Tránh để trẻ ngồi viết dựa ngực vào bàn vì có thể gây ảnh hưởng đến hệ tuần hoàn của trẻ
- Học sinh tiểu học dễ hiếu động, khó làm chủ cảm xúc, giáo viên cần chú ý đặc điểm này để giúp học sinh hình thành tính tự chủ, kiên trì, sự kìm hãm bản thân trước những kích thích xung quanh
- Không quát mắng các em vì như thế không những làm tổn thương đến tình cảm mà còn gây tác hại đến sự phát triển hệ thần kinh và bộ óc của các em
Câu 13: Phân tích những đặc điểm tri giác của học sinh tiểu học và nêu các ứng dụng sư phạm cần thiết.
* Khái niệm:
- Tri giác của học sinh là một quá trình nhận thức phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính bề ngoài của sự vật, hiện tượng khi chúng đang trực tiếp tác động vào các giác quan của học sinh Tri giác mang đầy đủ các đặc trưng của nhận thức cảm tính, đó là phản ánh một cách trực tiếp bằng các giác quan, phảnánh những thuộc tính trực quan, cụ thể, bề ngoài của sự vật những mối liên hệ
và quan hệ về không gian, thời gian
* Những đặc điểm tri giác của học sinh tiểu học:
Trang 14- Tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, ít đi sâu vào chi tiết và chủ yếu là tri giác không chủ định, do đó các em phân biệt các đối tượng còn chưa chính xác, dễ mắc sai lầm và có khi còn lẫn lộn Học sinh các lớp đầu cấp Tiểu học tri giác còn yếu nên thường thâu tóm sự vật về toàn bộ, về đại thể để tri giác.
- Tri giác của học sinh tiểu học thường gắn với hành động vật chất, hành động bên ngoài Đối với học sinh, tri giác sự vật có nghĩa là phải làm cái gì đó với sựvật, như cầm nắm, tháo lắp, gộp lại các yếu tố của sự vật Những gì phù hợp với nhu cầu của các em, những gì các em thường gặp trong cuộc sống và gắn với hoạt động của bản thân, những gì được các giáo viên chỉ dẫn thì mới được các em tri giác
- Tri giác của học sinh gắn liền với quá trình xúc cảm Điều mà học sinh tiểu học tri giác đầu tiên từ sự vật là những dấu hiệu, những đặc điểm nào trực tiếp gây cho các em xúc cảm tích cực Vì thế, cái trực quan, cái rực rỡ, cái sinh động được các em tri giác tốt hơn, dễ gây ấn tượng tích cực đối với các em
- Tri giác về không gian và thời gian cũng như ước lượng về không gian và thời gian của học sinh tiểu học còn hạn chế Một số công trình nghiên cứu chuyên biệt đã đi đến kết luận: Học sinh tiểu học thường khó hiểu khoảng cách
về thời gian của các sự kiện, những niên đại lịch sử cũng rất trừu tượng đối với các em
- Tri giác của học sinh tiểu học được phát triển trong quá trình học tập: càng ngày càng có khả năng quan sát tinh tế (tìm ra những dấu hiệu đặc trưng cho sựvật, hiện tượng, biết tìm ra các sắc thái của các chi tiết), có mục đích và
phương hướng rõ ràng
* Ứng dụng sư phạm cần thiết:
- Tri giác của học sinh tiểu học không tự nó phát triển Trong quá trình học tập,khi tri giác trở thành hành động có mục đích, trở thành hành động có phân tích,
có phân hóa hơn thì tri giác sẽ mang tính chất của sự quan sát có tổ chức
- Trong sự phát triển tri giác của học sinh, giáo viên tiểu học có vai trò rất lớn Giáo viên là người hàng ngày không chỉ dạy cách nhìn, hình thành kĩ năng nhìn cho học sinh, mà còn cần chú ý hướng dẫn các em biết xem xét
Trang 15- Không chỉ dạy học sinh nghe mà còn cần chú ý dạy trẻ biết lắng nghe; cần chú ý tổ chức hoạt động của học sinh để tri giác một đối tượng nào đó, nhằm phát hiện những dấu hiệu bản chất của sự vật và hiện tượng.
Câu 14: Phân tích những đặc điểm tưởng tượng của học sinh tiểu học và nêu các ứng dụng sư phạm cần thiết.
- Tưởng tượng của học sinh là một quá trình nhận thức nhờ đó các em phản ánh những các chưa từng có trong kinh nghiệm của mình bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở những biểu tượng đã có
* Đặc điểm tưởng tượng của học sinh tiểu học:
- Tưởng tượng của học sinh tiểu học đã phát triển và phong phú hơn so với trẻ
em tuổi mẫu giáo, đặc biệt là tính có chủ định tăng lên rõ rệt Nó được hình thành và phát triển trong hoạt động học và các hoạt động khác của các em Khuynh hướng chủ yếu trong sự phát triển của tưởng tượng ở học sinh tiểu học
là tiến dần đến phản ánh một cách đúng đắn và đầy đủ hiện thực khách quan trên cơ sở những tri thức tương ứng
- Tưởng tượng của học sinh tiểu học còn tản mạn, ít có tổ chức, hình ảnh tưởngtượng còn đơn giản, hay thay đổi chưa bền vững, học sinh chỉ lặp lại hoặc thay đổi chút ít về kích thước, về hình dạng các biểu tượng đã tri giác được, ví dụ như các em lớp một thường vẽ người ném hòn đá có tay to hơn chân
- Học sinh cuối cấp tiểu học, tưởng tượng của các em gắn với hiện thực hơn
Sở dĩ như vậy là vì các em đã có kinh nghiệm phong phú hơn, đã lĩnh hội đượctri thức khoa học từ quá trình học tập Các em đã có khả năng nhào nặn, gọt rũanhững biểu tượng cũ để sáng tạo ra những biểu tượng mới Học sinh đã biết dựa vào ngôn ngữ, tư duy để xây dựng biểu tượng mang tính khái quát và trừu tượng hơn
- Tưởng tượng tái tạo của học sinh tiểu học hoàn thiện gắn liền với những biểu tượng đã được tri giác trước hoặc tạo ra những biểu tượng phù hợp với điều mô
tả, sơ đồ, hình vẽ… Các hình ảnh của tưởng tượng dần dần trở nên hiện thực hơn, phản ánh đúng đắn hơn nội dung của các môn học, nội dung của câu
Trang 16chuyện các em đã học được, không còn bị đứt đoạn, tản mạn mà hợp nhất thành một hệ thống Tưởng tượng sáng tạo được hình thành và phát triển mạnh.
* Ứng dụng sư phạm:
- Trong dạy học ở Tiểu học, giáo viên cần hình thành cho học sinh biểu tượng thông qua sự mô tả bằng lời nói, cử chỉ, điệu bộ của mình, điều này cũng được xem như là phương tiện trực quan trong dạy học
- Giáo viên cần hình thành cho học sinh các phương pháp của tưởng tượng thông qua từng tiết học, từng bài học
VD: Khi dạy học sinh tiểu học môn Kể chuyện, giáo viên nên sử dụng các kĩ thuật sau:
+ Cụ thể hóa: yêu cầu học sinh mô tả, tưởng tượng các tình huống cụ thể, các đối tượng được nhắc đến trong bài học
+ Nhập vai: Đưa học sinh tách khỏi mình trong một khoảng thời gian nhất định
để hóa thân vào nhân vật trong tình huống, bộc lộ nét tính cách của nhân vật
Câu 15: Phân tích những đặc điểm tư duy của học sinh ở giai đoạn thứ hai tiểu học (học sinh các lớp cuối tiểu học) và nêu ứng dụng sư phạm cần thiết.
- Khái niệm: Tư duy của học sinh là quá trình nhận thức nhờ đó mà các em hiểu được, phản ánh được bản chất của đối tượng, bản chất của các hiện tượng
và sự vật được các em nghiên cứu; xem xét trong quá trình học tập và các dạnghoạt động khác
- Sự phát triển tư duy học sinh phụ thuộc vào hoạt động học tập, vì vậy tư duy của học sinh tiểu học được phân chia làm hai giai đoạn:
+ Giai đoạn thứ nhất tiểu học (lớp 1,2,3)
+ Giai đoạn thứ hai tiểu học (lớp 4,5)
* Đặc điểm tư duy của học sinh ở giai đoạn thứ hai tiểu học (học sinh các lớp 4,5):
- Tư duy cụ thể vẫn tiếp tục phát triển, tư duy trừu tượng phát triển mạnh nghĩa
là tư duy của các em đã thoát ra khỏi tính chất trực tiếp của tri giác và mang
Trang 17dần tính trừu tượng, khái quát Học sinh tiếp thu tri thức dựa vào các kí hiệu quy ước.
- Các thao tác tư duy đã liên kết với nhau thành một cấu trúc tương đối trọn vẹn Thỏa mãn 4 điều kiện:
+ Thao tác trừu tượng hóa và khái quát hóa: Học sinh đã vận dụng tri thức phân tích đối tượng để tách các dấu hiệu bản chất ra khỏi các dấu hiệu không bản chất của đối tượng để khái quát thành khái niệm
- Phán đoán và suy luận: học sinh dựa vào các dấu hiệu bản chất và không bản chất để phán đoán nên phán đoán có tính giả định Học sinh có thể chứng minh,lập luận cho phán đoán của mình Khi suy luận, học sinh đã dựa trên các tài liệu bằng ngôn ngữ và trừu tượng hơn
- Trong quá trình học tập ở nhà trường, tùy thuộc vào nội dung, phương pháp
và phương thức tổ chức cho các em thực hiện hoạt động, giáo viên cần xây dựng nội dung dạy học và phương pháp dạy thay đổi phù hợp để học sinh tiểu học có thể đạt tới trình độ tư duy cao hơn
Trang 18Câu 16: Phân tích những đặc điểm trí nhớ của học sinh tiểu học và nêu ứng dụng sư phạm cần thiết.
- Khái niệm: Trí nhớ của học sinh là quá trình các em ghi nhận, giữ lại thông tin, những tri thức cũng như cách thức tiến hành hoạt động học, các dạng hoạt động khác và khi cần thiết có thể tái hiện lại những gì đã ghi nhận, đã giữ lại
* Đặc điểm trí nhớ của học sinh tiểu học:
- Học sinh tiểu học có trí nhớ trực quan – hình tượng phát triển và chiếm ưu thếhơn trí nhớ từ ngữ - logic, vì ở tuổi này hoạt động của hệ thống tín hiệu thứ nhất ở các em tương đối chiếm ưu thế Các em nhớ và giữ gìn chính xác những
sự vật và hiện tượng cụ thể nhanh hơn và tốt hơn, những định nghĩa và những câu giải thích bằng lời
- Trí nhớ không chủ định vẫn chiếm ưu thế, nhất là các lớp đầu tiểu học Nên khi ghi nhớ, học sinh dễ nhớ các bài hát, bài thơ, truyện cổ tích hơn là các tài liệu học tập Trí nhớ có chủ định được hình thành phát triển, hoc sinh sử dụng các biện pháp để ghi nhớ
- Học sinh nhỏ có khuynh hướng ghi nhớ máy móc bằng cách lặp đi lặp lại nhiều lần, có khi chưa hiểu ý nghĩa tài liệu Nguyên nhận: Do các em chưa hiểucần ghi nhớ cái gì, trong bao lâu, giáo viên ít quan tâm hướng dẫn các em ghi nhớ ý nghĩa Ngôn ngữ của các em còn hạn chế Các em chưa biết sử dụng sơ
đồ logic và dựa vào điểm tựa để ghi nhớ
- Hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định do tính tích cực của học sinh quy định.Hiểu mục đích của ghi nhớ và tạo ra được tâm thế thích hợp là điều rất quan trọng để học sinh ghi nhớ tài liệu học tập
* Ứng dụng sư phạm cần thiết:
- Nhiệm vụ của người giáo viên tiểu học là hình thành cho học sinh tâm thế họctập, ghi nhớ, hướng dẫn các em cách ghi nhớ tài liệu học tập, chỉ cho các em biết đâu là điểm chính, điểm quan trọng của bài học để tránh tình trạng các em phải ghi nhớ quá nhiều, ghi nhớ máy móc, chỉ học vẹt
Trang 19- Giáo viên cần xác định cho học sinh những gì phải ghi nhớ trong thời gian ngắn và những gì cần ghi nhớ trong thời gian dài để định hướng sự ghi nhớ chohọc sinh.
- Giáo viên chủ động hình thành cho học sinh các biện pháp ghi nhớ logic thông qua nội dung bài học bằng cách hướng dẫn cho học sinh các thao tác tư duy, phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng, khái quát hóa tài liệu cần ghi nhớ
- Hướng dẫn học sinh cách ghi nhớ theo điểm tựa:
+ Hướng dẫn học sinh trên cơ sở để hiểu nội dung cần nhắc nhở
+ Hướng dẫn học sinh phân chia nội dung các giai đoạn
+ Hướng dẫn học sinh nối liền điểm tựa để tạo dàn ý, dàn bài
- Hướng dẫn học sinh tái hiện tài liệu từ 2-3 lần nhưng không được tri giác tài liệu đó, đồng thời ghi ra giấy những nội dung ta cần ghi nhớ
Câu 17: Phân tích nhiệm vụ học Cho ví dụ minh họa.
- Khái niệm: Nhiệm vụ học là hình thức cụ thể hóa nội dung học thành mục đích và phương tiện học
- Mục đích học là biểu hiện cụ thể một khâu trong chuỗi logic của đối tượng học Nói cách khác, mỗi khái niệm khoa học trong từng tiết học, từng bài học
là những mục đích của hành động học
- Phương tiện học là những cái học sinh dùng để đạt mục đích học Trong hoạt động học, học sinh phải sử dụng hai loại phương tiện: phương tiện bên ngoài (sách giáo khoa, sách tham khảo, giấy, mực, bút, máy tính,…) và phương tiện bên trong (các khái niệm, các thao tác, các hành động học đã được hình thành ởhọc sinh)
- Trong quá trình học tập luôn luôn có sự chuyển hóa mục đích học thành
phương tiện học ở học sinh Đây là quy luật cơ bản của hoạt động học Khi đang hình thành, khái niệm là mục đích của hành động học Nhưng một khi đã
Trang 20được hình thành, khái niệm trở thành công cụ, phương tiện để thực hiện các hành động học khác.
- Nhiệm vụ học là một nhân tố quan trọng của hoạt động học, vì không có nó thì hoạt động học không được cụ thể hóa (không thể thực hiện các hành động, các thao tác học), như vậy sẽ không đạt tới kết quả Nhiệm vụ của giáo viên là căn cứ vào nội dung của từng bài học để thiết kế thành các nhiệm vụ học, các việc làm cho học sinh
- Sự hình thành nhiệm vụ học: Quá trình học sinh học là quá trình giải quyết nhiệm vụ học, để giải quyết được nhiệm vụ học học sinh phải hiểu được nhiệm
vụ học trên cơ sở phân tích để xác định mục đích, phương tiện và mối quan hệ giữa chúng từ đó lập kế hoạch giải quyết nhiệm vụ học, đây là giai đoạn định hướng hành động và quyết định vào chất lượng phần thực hiện hành động
Ví dụ: Khi học sinh được học khái niệm về phân số:
+ Mục đích của học sinh: Hiểu được khái niệm thế nào là phân số, áp dụng sử dụng phân số trong việc giải bài tập
+ Phương tiện học: Sử dụng sách giáo khoa, sách tham khảo, nắm được khái niệm phân số, ứng dụng của phân số
+ Học sinh thực hiện nhiệm vụ học bằng các hành động học Hành động học bao gồm hành động phân tích, hành động mô hình hóa, hành động cụ thể hóa, hành động kiểm tra và đánh giá
Câu 18: Nêu khái niệm hành động học Tại sao hành động học là yếu tố quyết định trực tiếp quá trình học sinh tiếp thu tri thức.
- Hành động học là quá trình học sinh giải quyết nhiệm vụ học để tạo sản phẩmđạt được các chỉ tiêu đã định trước
* Hành động học là yếu tố quyết định trực tiếp quá trình học sinh tiếp thu tri thức vì:
- Mỗi hành động học bao gồm một hệ thống các thao tác Thao tác là phần kĩ thuật của hành động, là cách thức thực hiện hành động Các thao tác của một hành động phải thỏa mãn các tính chất sau:
Trang 21+ Tính chất hữu hạn
+ Tính chất hiệu quả
Thao tác học không có sẵn ở học sinh được học sinh làm ra chính trong quá trình học Muốn có thao tác học, học sinh phải thực hiện hành động học và sử dụng nó để thực hiện hành động khác thì hành động đó chuyển hóa thành thao tác
+ Hình thức tinh thần, ở trong đầu, cá thể
- Tương ứng với ba hình thức của tri thức khoa học là ba hình thức của hành động học tập:
+ Hình thức hành động vật chất trên vật thật (hoặc vật thay thế) Ở đây chủ thể dùng những thao tác để tháo lắp, chuyển dời, sắp xếp, đặt tương ứng… vật thật (hoặc vật thay thế) Đây là hình thức hành động cơ bản nhất, thông qua hình thức hành động này làm cho bản chất đối tượng được bộc lộ ra ngoài, nghĩa là học sinh có được tri thức về sự vật
+ Hình thức hành động ngôn ngữ tương ứng với đối tượng Mục đích của hình thức hành động này là chủ thể dùng lời nói để chuyển logic của khái niệm đã phát hiện ở hình thức hành động vật chất vào trong tâm lí chủ thể hành động.+ Hình thức hành động tinh thần (hành động trí óc) Đến đây logic của khái niệm đã được chuyển hẳn vào trong (tâm lí)
Ba hình thức này chung cho các hành động để hình thành tâm lí nói chung Bởi
vì, thông qua ba hình thức của hành động đã chuyển cái vật chất thành cái tinh thần, cái bên ngoài thành cái bên trong tâm lí con người
=> Như vật, hành động học là yếu tố quyết định trực tiếp quá trình học sinh tiếp thu tri thức
Trang 22Câu 19: Nêu khái niệm kĩ năng học Trình bày các giai đoạn hình thành kĩ năng học.
- Khái niệm: Kĩ năng học là khả năng học sinh vận dụng kiến thức để giải đượcbài tập trong quá trình học tập
- Một hành động học tập trở thành kĩ năng phải thỏa mãn các tiểu chuẩn sau:+ Học sinh phải xác định đúng mục đích của hành động
+ Học sinh xác đinh phương pháp để giải bài tập
+ Xác định được công cụ cần thiết để thực hiện đúng hành động
+ Thực hiện hành động theo đúng yêu cầu
+ Đạt được kết quả phù hợp với mục đích đề ra
- Kĩ năng có nội dung là những quá trình tâm lí: hiểu mục đích hành động, biết cách thức đi đến kết quả, xác định đucợ những điều kiện cần thiết để thực hiện hành động
- Học sinh thực hiện hành đông theo đúng yêu cầu và đạt được kết quả phù hợpvới mục đích đề ra Bởi vậy, kĩ năng là tổ hợp cách thức hành động được học sinh nắm vững thể hiện năng lực của học sinh
- Có hai loại kĩ năng:
+ Kĩ năng đơn giản: là trình độ vận dụng kiến thức cũ để giải những bài tập thông thường
+ Kĩ năng phức tạp: là vận dụng kiến thức để giải bài tập phức tạp
* Các giai đoạn hình thành kĩ năng học:
- Giai đoạn nhận thức: Trước khi thực hiện hành động học, học sinh đucợ giáo viên hướng dẫn xác định đúng mục đích của hành động học, cách thức thực hiện hành động học và những điều kiện thực hiện hành động học
- Giai đoạn thực hiện hành động:
+ Giáo viên hướng dẫn cho học sinh thực hiện hành động giải bài tập theo sự định hướng ở giai đoạn trên
+ Yêu cầu: học sinh thực hiện đầy đủ các thao tác của hành động và thực hiện