TLH LT TRUNG HỌC TLH SƯ PHẠM I Giao tiếp cha mẹ với con cái 1 Các kiểu cha mẹ • Cha mẹ độc đoán Đây là kiểu cha mẹ rất khắt khe, nhất nhất bắt con cái phải đi theo hướng do cha mẹ vạch ra và luôn đò.
Trang 1TLH LT TRUNG HỌC & TLH SƯ PHẠM
I Giao tiếp cha mẹ với con cái
1 Các kiểu cha mẹ:
• Cha mẹ độc đoán:
- Đây là kiểu cha mẹ rất khắt khe, nhất nhất bắt con cái phải đi theo hướng do cha mẹ vạch ra và luôn đòi hỏi con cái phải nỗ lực
- Kiểu cha mẹ độc đoán thường ít trao đổi bàn bạc với con, quản lý gắt gao, khống chế con hoàn toàn
- Thường làm cho con cái có những khiếm khuyết về mặt hành vi xã hội Các em thường thụ động hoặc chống đối
- Các em thường thiếu kỹ năng giao tiếp, gặp nhiếu khó khăn khi khởi sự, hành động thường sợ sệt, lo lắng, bất an
- VD: Đứa trẻ không có khả năng học tập tốt các môn học thuộc khối khoa học tự nhiên, nhưng gia đình vẫn kiên quyết bắt ép con của mình phải theo học, làm theo ý mình
• Cha mẹ quyền uy:
- Đây là kiểu cha mẹ thường khuyến khích con cái độc lập nhưng vẫn đặt ra giới hạn cần thiết và kiểm soát những hành động của con cái
- Cha mẹ cho phép con cái được trao đổi thoải mái và luôn bày tỏ tình cảm với con
- Con cái được học cách ứng xử từ cha mẹ, các em tự tin, tin cậy cha mẹ mình, dễ dàng chia sẻ tâm tư tình cảm
- Các em thường có kỹ năng giao tiếp xã hội tốt, tự tin trong cuộc sống, cơ hội thành công nhiều
- Kiểu cha mẹ quyền uy sẽ làm giảm những hành vi có vấn đề và cải thiện thành tích học tập của con cái
- VD: Cha mẹ luôn là người lắng nghe con cái nói Chẳng hạn, con cứ nói, mẹ nghe Hay việc làm của con rất tốt, nhưng theo cha (mẹ) con nên làm như thế này…
• Cha mẹ thờ ơ:
- Là kiểu cha mẹ không quan tâm đến cuộc sống của con cái
- Kiểu cha mẹ này không biết con mình đi đâu, làm gì, con cái có gặp vấn đề gì cũng không rõ
- Những đứa con của cha mẹ thờ ơ thường thiếu tình cảm, luôn có nhu cầu được quan tâm, yêu thương
và chăm sóc Các em thường nghĩ cha mẹ mình coi trọng việc khác hơn
- Các em thường có cảm xúc và suy nghĩ tiêu cực, thường kém cỏi trong giao tiếp xã hội, thiếu sự tự tin, thiếu kỹ năng giao tiếp xã hội, không có khả năng tự chủ và xử lý các tình huống phát sinh trong cuộc sống một cách độc lập
- VD: Cha mẹ chỉ lo làm việc không dành thời gian, quan tâm con cái khi con cần Ngay cả khi con mình mắc phải sai lầm nào đó thay vì nhắc nhở để con khắc phục thì cha mẹ lại tỏ ra dửng dưng, thờ ơ không biết mặc cho con cứ tiếp tục vi phạm
• Cha mẹ nuông chiều:
- Là mẫu cha mẹ rất quan tâm đến con cái nhưng lại ít đặt ra giới hạn và yêu cầu cho con
- Luôn chiều chuộng và cho phép con cái của họ làm những điều con muốn
- Với kiểu cha mẹ này các em không học được cách làm chủ bản thân mà luôn trông chờ vào sự giúp
đỡ từ người khác
Trang 2- Cha mẹ nuông chiều con cái thường dẫn đến sự kém cỏi về kỹ năng xã hội, giao tiếp kém, sống ích kỷ
và thiếu tự tin
- VD: Khi trẻ thấy xung quanh mình đều xài điện thoại mới liền đòi hỏi cha mẹ phải mua ngay cho mình Với kiểu cha mẹ này, họ luôn chiều chuộng con miễn là con mình mong muốn mà không đặt ra những yêu cầu hay giới hạn nào cho con
➢ Kết luận sư phạm:
- Cha mẹ nên tìm hiểu tâm sinh lý của học sinh lứa tuổi này để chia sẻ và thông cảm với các em
- Cha mẹ nên cho con cái mình có cơ hội trình bày ý kiến của mình, điều này giúp cho các em có cơ hội bày tỏ quan điểm và được thấu hiểu
- Cha mẹ nên khuyến khích các con độc lập nhưng vẫn cần đặt ra các giới hạn cần thiết, kiểm soát những hoạt động của con
- Trang bị cho các em các kỹ năng mềm, đặc biệt là kỹ năng ứng xử giao tiếp để các em tự tin trong giao tiếp và làm chủ các mối quan hệ
- Cha mẹ nên quan tâm, chăm sóc và yêu thương các em, tránh tình trạng nuông chiểu, thả lỏng tự do một cách vô điều kiện
2 Các kiểu quan hệ ứng xử của người lớn với thiếu niên:
• Phong cách dân chủ bình đẳng:
- Đây là kiểu giao tiếp dân chủ hợp tác giữa người lớn với thiếu niên
- Người lớn quan tâm đến sự biến đổi sinh lý của các em, từ đó có sự thay đổi suy nghĩ và hành động phù hợp với đặc điểm tâm lý của lứa tuổi này
- Người lớn thể hiện sự tôn trọng, tin tưởng các em, đặt các em vào vị trí của người bạn và người đồng hành
- Người lớn và các em có sự chia sẻ, đồng cảm, gắn bó về tình cảm
- Kiểu quan hệ này giảm sự xung đột thế hệ giữa người lớn và thiếu niên, giúp cho sự phát triển tâm lý của các em theo xu hướng tích cực
- VD: Đứa trẻ có thể tự chăm sóc bản thân, tự mua những thứ mình muốn Nếu có vấn đề gì cha mẹ có thể tâm sự với các em
➢ Kết luận sư phạm:
- Cha mẹ nên quan tâm đến sự biến đổi về tâm sinh lý của các em, từ đó có sự thay đổi trong suy nghĩ
và hành động cho phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của các em ở lứa tuổi này
- Cha mẹ nên thể hiện sự tôn trọng, tin tưởng các em, đặt các em vào vị trí người bạn và người đồng hành cùng mình trong cuộc sống
- Cha mẹ và người lớn nên đồng cảm, chia sẻ, gắn bó tình cảm với các em Điều này giúp các em có sự tin tưởng, cảm thông và dễ dàng chia sẻ những tâm tư, nguyện vọng của mình Làm giảm xung đột giữa mối quan hệ cha mẹ và con cái
• Phong cách độc đoán:
- Đây là kiểu giao tiếp áp đặt của người lớn cho thiếu niên
- Người lớn thường không xem trọng nhu cầu độc lập của các em
- Người lớn thường xuyên áp đặt tư tưởng, thái độ, hành vi của mình lên các em
- Đối xử với các em như trẻ nhỏ, bắt các em phải tuân theo mệnh lệnh của người lớn một cách cứng nhắc, khuôn phép
Trang 3- Kiểu giao tiếp này chứa đựng nhiều mâu thuẫn, nảy sinh nhiều xung đột, làm kìm hãm phát triển tâm
lý của các em
- VD: Cha mẹ áp đặt tư tưởng của mình, mong muốn con trở thành bác sĩ trong tương lai vì nghĩ nghề bác sĩ kiếm được nhiều tiền nhưng trẻ thì lại muốn trở thành giáo viên thay vì bác sĩ Chính vì việc áp đặt tư tưởng đó của cha mẹ, vô hình chung khiến các em cảm thấy như bị ép buộc học tập không phải
vì thỏa niềm đam mê, sở thích mà chỉ để thỏa lòng mong muốn của cha mẹ Đồng thời, điều này còn dễ dẫn đến những cuộc xung đột, mâu thuẫn
➢ Kết luận sư phạm:
- Cha mẹ nên xem trọng nhu cầu độc lập của các em ở lừa tuổi này Điều này giúp các em phát huy khả năng tự ý thức của bản thân Các em tự tin trong cuộc sống và làm chủ các mối quan hệ
- Cha mẹ không nên áp đặt tư tưởng,thái độ và hành vi của bản thân lên các em
- Không nên đối xử với các em như trẻ nhỏ Điều này làm cho các em cảm thấy bị thiếu tôn trọng nên các em càng tỏ thái độ chống đối, gây ra những xung đột và mâu thuẫn với người lớn
• Phong cách tự do:
- Đây là kiểu giao tiếp người lớn lại quá xem trọng yêu cầu của thiếu niên
- Người lớn để cho thiếu niên muốn làm gì thì làm, muốn gì được ấy
- Kiểu giao tiếp này luôn xuất hiện hai mặt:
+ Những thiếu niên có tính tự giác cao thì cảm thấy thoái mái, phát huy được tính độc lập, tự chủ và phát triển hoàn thiện bản thân
+ Những thiếu niên ý thức tự giác kém, hay đòi hỏi, hay ra điều kiện và lợi dụng sự tự do này sẽ phát triển theo xu hướng tiêu cực, kéo theo nhiều hệ lụy trong cuộc sống của các em
- VD: Khi điện thoại Iphone 14 vừa ra mắt, vì muốn theo kịp bạn bè, đứa trẻ liền yêu cầu cha mẹ phải mua ngay cho mình và cha mẹ liền đáp ứng ngay, miễn là con muốn
➢ Kết luận sư phạm:
- Cha mẹ nên xem xét các yêu cầu của thiếu niên với mình, định hướng và hướng dẫn những yêu cầu phù hợp Tránh tình trạng nuông chiều một cách tự do muốn làm gì thì làm
- Đối với những học sinh có tính tự giác cao, cha mẹ nên phát huy tính độc lập, tự chủ, tự giác của các
em Giúp cho các em tự tin vào bản thân và trong các hoạt động của mình
- Đối với những học sinh không tự giác thì cha mẹ phải hướng dẫn, theo sát và động viên các em Giúp các em thấy được sự quan tâm của cha mẹ với mình để cố gắng trong mọi hoạt động
II Cấu trúc, tiêu chuẩn đánh giá hành vi đạo đức:
• Khái niệm và tiêu chuẩn đánh giá hành vi đạo đức:
* Khái niệm:
- Hành vi đạo đức là một hành động tự giác được thúc đẩy bởi động cơ có ý nghĩa về mặt đạo đức
- VD: Cứu giúp người khác trong dòng nước lũ được xã hội tôn vinh
* Tiêu chuẩn:
- Tính tự giác của hành vi:
+ Tính tự giác của người thực hiện hành vi được coi là yếu tố quan trọng
+ Thể hiện ở chỗ chủ thể thực hiện hành vi là người có ý thức đạo đức đầy đủ, nghĩa là đủ ba khía cạnh: hiểu rõ mục đích của hành động, có thái độ tự nguyện và có sự tham gia của ý chí đạo đức
Trang 4+ VD: Khi đi xe buýt, gặp người bầu hoặc xách đồ nặng trên người ta nên chủ động tự giác nhường chỗ cho những người đó mà không cần phải đợi những người xung quanh nhắc nhở
- Tính có ích của hành vi:
+ Hiểu chữ “có ich” theo nghĩa hành vi đó có ích, có giá trị với con người, nhưng phải là những giá trị tiến bộ, thúc đẩy sự phá triển của con người và XH
+ VD: một băng nhóm buôn lậu (ma túy, hàng gian, hàng dỏm) cấu kết với với nhóm cán bộ biến chất
để vận chuyển, buôn bán trót lọt, cả hai cùng thu lợi, còn người thiệt hại là nhân dân lao động thì hành
vi đó không gọi là có ích được
+ Phụ thuộc vào thể giới quan, nhân sinh quan của chủ thể
- Tính không vụ lợi của hành vi:
+ Cá nhân thực hiện hành vi không vì trước hết để thu lợi cho mình Họ luôn đặt lợi ích của tập thể, của người khác trên lợi ích của mình
+ VD: Những người tự nguyện làm công tác từ thiện, âm thầm, khiêm tốn, không muốn nêu tên và hình ảnh lên báo, đài
+ Nếu hành vi đó vừa có lợi cho bản thân, vừa có lợi cho người khác, cho cộng đồng thì đây là hành vi đạo đức lý tưởng mà con người luôn hướng đến Trong trường hợp những hành vi có lợi cho bản thân nhưng không đem lại lợi ích rõ rệt gì cho người khác, nhưng không làm tổn thương ai và không làm hại
XH thì tuy không được XH ca ngợi nhưng vẫn được mọi người chấp nhận
VD: các công ty cung cấp hàng và tiền của mình cho các chương trình từ thiện, đổi lại sản phẩm và thương hiệu của họ được quảng cáo miễn phí, chiếm được thiện cảm của người tiêu dùng Tất nhiên nếu hàng hóa của họ là chất lượng thì đây chính là một hành vi đạo đức lí tưởng
• Cấu trúc của hành vi đạo đức:
a Tri thức đạo đức
- Khái niệm: Tri thức đạo đức là sự hiểu biết của con người về những chuẩn mực quy định hành vi của
họ trong mối quan hệ với người khác và với XH
+ VD: “uống nước nhớ nguồn”, “tôn sự trọng đạo”, “một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ”,…
- Vai trò:
+ Hành vi đạo đức của cá nhân sẽ được đánh giá là tốt hay xấu dựa trên các chuẩn mực đạo đức mà XH quy định Do đó, để không bị người khác lên án, cá nhân cần hiểu rõ về những hành vi được làm, phải làm và những hành vi bị cấm hoặc chỉ được làm trong mức giới hạn nhất định
+ Nhờ sự hiểu biết mà tri thức đạo đức mang lại, cá nhân có thể dự đoán trước kết quả hành vi, qua đó quyết định thực hiện hay không thực hiện hành vi đó
+ Tri thức đạo đức giống như “một ngọn đèn dẫn lối cho cá nhân nên đi hướng nào, nên tránh hướng nào, nếu vấp ngã thì phải đứng lên ra sao” Nhưng nó không đảm bảo cá nhân đó có đi đến đích được hay không, có không sa ngã hay không
- Kết luận SP:
• Hiểu biết về đạo đức không thể áp đặt, không thể bắt HS học thuộc lòng
VD: Trong giờ GDCD, HS trả bài đầy đủ, chính xác trước cô giáo về hành vi đúng nơi công cộng và nhận điểm 10, nhưng sau đó trên đường về nhà em đã vi phạm đúng hành vi đó
• Nhà giáo dục phải làm cho HS thật sự hiểu được nội dung và bản chất của những hành vi cao đẹp Từ
đó các em mới có ý thức tự giác và tích cực vận dụng những tri thức đạo đức mà mình đã học được vào cuộc sống hằng ngày
Trang 5b Niềm tin đạo đức:
- Khái niệm: Là sự tin tưởng một cách sâu sắc và vững chắc của con người vào tính chính nghĩa, tính
chân lý của các chuẩn mực đạo đức, là sự thừa nhận tính tất yếu phải tôn trọng triệt để các chuẩn mực
ấy
-Vai trò:
+ Là cơ sở để cá nhân bộc lộ những phẩm chất ý chí của đạo đức
+ Cá nhân có niềm tin đạo đức sẽ không ngại hinh sinh bản thân mình để cứu người khác, không bị khuất phục trước thế lực xấu, họ kiên trì bảo vệ những điều mà họ đã tin tưởng như nhân nghĩa thắng hung tàn, kẻ ác rồi sẽ bị chừng trị, cho dù bây giờ điều đó chưa diễn ra
- Kết luận SP:
+ Niềm tin đạo đức phải dực trên sự hiểu biết về các chuẩn mực, nguyên tắc đạo đức Cần giúp HS hiểu rõ cái đúng, sai, những điều cần tôn trọng, cái gì phải lên án
+ Nhà GD cần thiết kể và tổ chức một số chương trình ngoại khóa với những chủ đề cụ thể để tạo cơ hội cho HS thể nghiệm cảm xúc
+ GD của gia đình, niềm tin của cha mẹ dễ lan sang con cái
+ Những hành vi mà cộng đồng ca tụng hay lên án đều định hướng hành vi cá nhân Cơ quan chức năng cần quan tâm định hướng dư luận, không để dư luận tự phá, tùy tiện theo xu hướng của vài nhóm người
c Động cơ đạo đức
- Khái niệm: Là những lực thúc đẩy bên trong, đã được con người ý thức Nó trở thành lực đẩy chính
làm cơ sở cho những hành động của con người trong mối quan hệ giữa người này với người khác và với XH, biến hành động của con người thành hành vi đạo đức
+ VD: sự đồng cảm, sự yêu thương, sự tôn trọng đối với người khác, niềm tin đạo đức,…
- Vai trò:
+ Thúc đẩy cá nhân thực hiện hành vi đạo đức theo tiêu chuẩn của tri thức và niềm tin đã được xác lập + Quy định chiều hướng tâm lí, quy định thái độ của cá nhân khi thực hiện hành vi
+ Tình cảm có thể làm nâng cao hay cản trở vai trò chỉ đạo của tri thức đạo đức (tình bẻ công lý), làm tăng hay giảm sứ mạnh của ý chí (gặp khó khăn hay nản lòng)
- Kết luận SP:
+ Trong công tác giáo dục đạo đức, bên cạnh rèn luyện hành vi, GV cần xây dựng các động cơ đúng, đích thực cho HS, kịp thời chỉ ra động cơ sai trái như để thỏa mãn tự ái, hiếu danh, mưu cầu lợi ích cá nhân
d Tình cảm đạo đức
- Khái niệm: Là những thái độ rung cảm của cá nhân đối với hành vi đạo đức của bản thân hay của
người khác Tình cảm đạo đức cũng là một loại đông cơ đạo đức khá đặc biệt và quan trọng + Ví dụ: chính từ sự ngưỡng mộ đối với những hành vi được XH ca ngợi và tán dương đã thúc đẩy chúng ta học tập và noi theo họ
- Vai trò:
+ Đóng vai trò là chất keo hòa lẫn tri thức, niềm tin đạo đức với ý chí, tạo ra sức mạnh tổng hợp
+ Tình cảm có thể làm nâng cao hay cản trở vai trò chỉ đạo của tri thức đạo đức (tình bẻ cong lý), làm tăng hay giảm sức mạnh của ý chí (gặp khó khăn hay nản lòng)
Trang 6e Ý chí đạo đức
- Khái niệm: Là khả năng giúp các cá nhân hướng đến việc tạo ra các giá trị đạo đức, là yếu tố tạo nên
sức mạnh biến ý thức đạo đức thành hành vi đạo đức
+ Thiện chí: là ý hướng của con người vào việc tạo ra giá trị đạo đức VD: học sinh bị quên công thức toán trong giờ kiểm tra Em phải đấu tranh giữa việc “quay cóp” tài liệu và việc “tuân thủ nội quy” Nếu em coi trọng nội quy, chấp nhận bài làm bị điểm thấp trong lúc có điều kiện lật tài liệu, em đã thể hiện một thiện chí
+ Nghị lực: là sức mạnh của thiện chí giúp con người vượt qua khó khăn, kiểm soát bản thân để có thể phục tùng ý thức đạo đức, thực thi hành vi đạo đức VD: Thầy giáo Nguyễn Ngọc Ký- ông bị bệnh và liệt cả hai tay, nhưng ông đã cố gắng vượt qua số phận của mình, rèn luyện đôi chân thay cho bàn tay
và trở thành nhà giáo ưu tú, lập kỷ lục Việt Nam "Nhà văn Việt Nam đầu tiên viết bằng chân"
- Vai trò:
+ Ý chí đạo đức được xác định khi có đủ cả thiện chí và nghị lực
+ Muốn tạo ra hành vi đạo đức cần phải có thiện chí (chất) Nhưng thiện chí chỉ là điều kiện cần
Không có nghị lực (lượng) thì thiện chí khó thực hiện, con người có thể trở nên nhu nhược
+ Tạo sức mạnh, lực đẩy để các em thực hiện hành vi đạo đức
- Kết luận SP:
+ Trong công tác GD, cần hình thành ở HS cả thiện chí và nghị lực
+ Khi GD ý chí đạo đức, vừa phải cung cấp tri thức đạo đức cho HS, vừa phải tạo các tình huống cụ thể
để buộc HS phải phân tích, hướng đến việc lựa chọn một giá trị đạo đức đúng đắn, phù hợp chuẩn mực đạo đức
f Thói quen đạo đức
- Khái niệm: Là những hành vi đạo đức ổn định của con người, trở thành nhu cầu đạo đức của người
đó
+ Ví dụ: Các em được GD tốt luôn luôn “thưa mẹ con đi học” trước khi bước vào cổng trường và “thưa
mẹ con mới đi học về” khi mẹ rước ở cổng trường
-Vai trò: Là cầu nối, là điều kiện để tạo được sự thống nhất giữa ý thức đạo đức và hành vi đạo đức
- Kết luận sư phạm:
+ Cho các em đi thực tế, tạo điều kiện để các em thường xuyên thực hiện hành vi đạo đức để hình thành thói quen đạo đức
III Năng lực, phẩm chất của giáo viên:
Năng lực:
1 Năng lực đối xử khéo léo SP:
- Khái niệm: Là khả năng sử dụng linh hoạt, sáng tạo những kiến thức sư phạm trong quá trình dạy
học và giáo dục
- Vai trò:
+ Là kỹ năng tìm ra những phương thức tác động đến học sinh một cách hiệu quả
+ Là sự cân nhắc đúng đắn những nhiệm vụ sư phạm cụ thể phù hợp với những đặc điểm và khả năng của cá nhân cũng như của tập thể học sinh trong từng tình huống sư phạm cụ thể
Trang 7- VD: học sinh làm bài bị điểm kém thì không nên trách móc ngay trước lớp mà phải tìm hiểu do cách
dạy của mình hay do học sinh đó không tập trung, không hiểu bài…và từ đó đưa ra phương pháp đúng đắn (cải thiện cách dạy học, nói chuyện riêng với học sinh, chú ý đến học sinh đó hơn,…)
- Biểu hiện:
+ Sự nhạy bén về mức độ sử dụng bất cứ một tác động sư phạm nào VD: trong phương pháp dạy học nêu vấn đề, không phải bất kì bài nào cũng phải đặt vấn đề ở mở bài, hoặc không phải phần nào cũng đặt vấn đề là phù hợp
+ Phát hiện kịp thời, giải quyết khéo léo những vấn đề xảy ra bất ngờ, không nóng vội, không thô bạo VD: Trong quá trình dạy học có biết bao tình huống xảy ra trong lớp học như: học sinh ngủ trong lớp,
đi học muộn, ăn trong lớp, rúc rích cười không hiểu vì sao hay học sinh đánh nhau…Nếu như gặp phải những tình huống trên, giáo viên không xác định kịp thời và có những biện pháp xử lí thích hợp sẽ gây
ra những hậu quả khó kiểm soát
+ Biết biến cái bị động thành cái chủ động, giải quyết một cách mau lẹ những vấn đề phức tạp đặt ra trong công tác dạy học và GD VD: Một tri thức thầy nói sai, không chính xác, khi học sinh thắc mắc thầy không lúng túng mà bình tĩnh kiểm tra lại, nếu sai thì thành thực xin lỗi HS
+ Biết ứng xử với GĐ phụ huynh HS, các tầng lớp khác trong XH Ngoài ra còn thể hiện sự tế nhị trong đối xử với HS, gia đình HS VD: tiếp xúc với gia đình HS mắc khuyết điểm, người GV không được có lời lẽ xúc phạm, không đổ lỗi cho gia đình
- Kết luận sư phạm:
+ Giáo viên cần phải biết kết hợp, sử dụng linh hoạt, sáng tạo những kiến thức sư phạm trong các tình huống dạy học và giáo dục
+ Thường xuyên quan tâm chu đáo đến đặc điểm tâm sinh lí của từng cá nhân và tập thể học sinh để tìm ra phương pháp giáo dục, tác động phù hợp
+ Phải thường xuyên trau dồi kiến thức sư phạm, bồi dưỡng đạo đức thông qua các buổi tập huấn do nhà trường, sở giáo dục tổ chức
+ Rèn luyện tính kiên nhẫn, luôn sẵn sàng lắng nghe học sinh và tìm cách giải quyết vấn đề xảy ra một cách hợp tình, hợp lí tránh nóng giận dẫn đến những sự việc không đáng có
+ Linh hoạt trong việc giải quyết, xử lí vấn đề đặt ra trong công tác giáo dục
+ Có lương tâm nghề nghiệp, lòng yêu nghề, niềm tin yêu và lòng tôn trọng người mà mình dạy dỗ, tinh thông nghề nghiệp
+ Nếu không đối xử khéo léo sư phạm, giáo viên sẽ tạo ra khoảng cách với học sinh, điều này dễ dẫn đến sự hiểu lầm, thành kiến, thiếu tin tưởng và tôn trọng từ phía học sinh
2 Năng lực cảm hóa:
- Khái niệm: Là khả năng làm cho học sinh nghe, tin và làm theo mình bằng tình cảm và bằng niềm
tin
- VD: Trong một lớp học sẽ luôn có những thành phần học sinh không chịu học tập nghiêm túc, chơi
bời Nhiệm vụ của giáo viên chính là giúp các em ấy hiểu ra vấn đề, vượt qua nghịch cảnh, tập trung học tập vì tương lai, hay nói cách khác- cảm hóa em ấy
- Vai trò:
+ Làm cho học sinh biết vâng lời thầy cô
+ Làm theo những điều hay, lẽ phải mà thầy cô, cha mẹ mình mong muốn
+ Tỏ lòng kính trọng, biết ơn thầy cô, quan tâm và giúp đỡ thầy cô
Trang 8- Biểu hiện:
-Tinh thần trách nhiệm và nhiệt tình trong công tác, lối sống lành mạnh
- Niềm tin vào sự nghiệp chính nghĩa cũng như kỹ năng truyền đạt niềm tin đó, cảm hóa học sinh bằng uy tín thật, tài năng của chính bản thân mình
-Lòng tôn trọng học sinh, phong cách dân chủ nhưng trên cơ sở yêu cầu cao đối với học sinh (cần tránh sự khoan dung vô nguyên tắc, sự cả tin một cách ngây thơ, sự thiếu kiên quyết của người giáo viên)
- Sự chu đáo và khéo léo trong đối xử của người giáo viên
- Lòng vị tha và các phẩm chất ý chí
- Kết luận sư phạm:
+ Để có thể cảm hóa học sinh, trước hết giáo viên phải có một nếp sống văn hóa cao, là một tấm gương sáng để học sinh học tập và noi theo cũng như tin tưởng và làm theo những lời khuyên của mình + Đồng thời, người giáo viên phải là một người có phong cách mẫu mực nhằm tạo ra uy tín chân chính
mà thực sự, biểu hiện từ cử chỉ, lời nói đến tinh thần lao động hăng say, sáng tạo
+ Cần tìm hiểu, nắm vững tâm lý học sinh, để từ đó tìm ra biện pháp, đưa ra lời khuyên phù hợp với mỗi em học sinh
+ Giáo viên cần phải là người có tình yêu thương và tin tưởng học sinh, dân chủ công bằng và gương mẫu về mọi mặt
+ Bên cạnh lòng yêu trẻ để bồi dưỡng năng lực này thì người giáo viên còn cần phải có nguyên tắc, ý thức tổ chức kỉ luật bởi nếu nếu thương mà không nghiêm thì học sinh dễ sinh hư
+ Có tinh thần trách nhiệm cao, có niềm tin và có kĩ năng truyền đạt niềm tin đến các em học sinh
3 Năng lực ngôn ngữ:
- Khái niệm: là năng lực biểu đạt rõ ràng và mạch lạc ý nghĩa, tình cảm của mình bằng lời nói cũng
như nét mặt và điệu bộ
- Biểu hiện: Ngôn ngữ của giáo viên được biểu hiện ở cả nội dung và hình thức của nó (đặc điểm
bên trong lẫn đặc điểm bên ngoài)
+ Nội dung lời nói, bài giảng đòi hỏi phải chứa đựng mật độ thông tin lớn
+ Trình độ sử dụng ngôn ngữ của thầy: vốn từ, cách dùng từ, ngữ pháp…
+ Đặc điểm nét mặt, cử chỉ, điệu bộ khi nói
+ Cách dùng từ, cách đặt câu hỏi
- Vai trò:
+ Là một phương tiện để tổ chức và điều khiển hoạt động học của học sinh: Truyền thụ kiến thức mới, kiểm tra kiến thức cũ, hướng dẫn học sinh nẳm bắt khái niệm, qua ngôn ngữ của thầy học sinh lĩnh hội, tri thức, ý nghĩ, niềm tin,
- VD: Trong một lớp học, việc giáo viên dùng cử chỉ ,điệu bộ và đặc biệt là lời nói của mình khơi gợi
cho học sinh sự chú ý và tự mình tư duy về bài học, tìm hiểu về bài học và đưa ra ý kiến của mình góp phần giúp học sinh dễ dàng hiểu bài hơn và giờ học đó thêm phần thú vị hơn là chỉ nói ra toàn bộ để học sinh tiếp thu một cách thụ động
- Kết luận sư phạm:
+ Người GV cần phải hiểu sâu sắc nghĩa của từ và biết kết hợp từ ngữ
Trang 9VD: Cùng một nội dung nhưng nếu người GV biết kết hợp từ ngữ thì sẽ diễn đạt nó chính xác, cô đọng chứ không như người GV nói nhiều mà trình bày ít thông tin
+ Vốn từ phong phú rất thuận lợi, nó giúp cho người GV diễn đạt dễ dàng, chính xác điều họ muốn nói, hơn nữa còn có thể diễn đạt một cách hấp dẫn với sức thuyết phục cao
+ Người GV tránh nói những lời cầu kỳ, hoa mỹ, xa lạ, với vốn tri thức, vốn kinh nghiệm của HS Ngôn ngữ càng giản dị, trong sáng HS càng dễ chịu, tránh những câu dài, cấu trúc phức tạp và những câu quá ngắn, HS khó hiểu
+ Khi giảng bài, người GV phải kết hợp giọng điệu với nét mặt, cử chỉ, có tác dụng làm cho lời nói trở nên sôi nổi, có hồn Cử chỉ biểu hiện cũng nên cân nhắc tùy tình huống, có chừng mực
+ Giáo viên cần sử dụng ngôn ngữ của mình một cách chắt lọc, sâu sắc chứa đựng nhiều nội dung và có sức tác động lớn đến học sinh
+ Tùy thuộc vào từng đối tượng học sinh mà vận dụng năng lực ngôn ngữ của mình một cách phù hợp + Người giáo viên cần am hiểu về kiến thức, biết kết hợp đan xen giữa năng lực ngôn ngữ và phi ngôn ngữ trong bài giảng của mình tùy thuộc vào từng bài giảng khác nhau một cách phù hợp
4 Năng lực giao tiếp sư phạm:
- Khái niệm:
+ Là năng lực nhận thức nhanh chóng những biểu hiện bên ngoài và diễn biến tâm lý bên trong của học sinh và bản thân, đồng thời sử dụng hợp lý các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, biểt cách tổ chức, điều khiển và điều chỉnh quá trình giao tiếp nhằm mục đích giáo dục
- Biểu hiện:
+ Kĩ năng định hướng giao tiếp: Dựa vào sự biểu lộ bên ngoài , phán đoán chính xác về nhân cách , mỗi quan hệ giữa giáo viên và học sinh
+ Kĩ năng định vị: là sự đồng cảm giữa chủ thể và đối tượng, xác định vị trí trong giao tiếp, đặt vị trí của mình vào vị trí của đối tượng, tạo điều kiện để đối tượng chủ động, thoải mái khi giao tiếp
+ Kỹ năng điều khiển quá trình giao tiếp: xác định được hứng thú nguyện vọng của đối phương, tìm ra
đề tài giao tiếp thích hợp
+ Ngoài ra, còn thể hiện trong sự tiếp xúc với đồng nghiệp, với phụ huynh học sinh, với các tổ chức xã hội khác
- VD:
+ Mẫu mực về trang phục, hành vi cử chỉ, hành vi ngôn ngữ nói phải thống nhất
+ Đánh giá, nhận xét học sinh khi làm bài, “tạm ứng niềm tin” để học sinh phấn đấu vươn lên
+ Quan tâm, tìm hiểu, nắm vững hoàn cảnh gia đình các em
- Vai trò:
+ Truyền đạt tri thức, kỹ năng kỹ xảo, hành vi xã hội cho học sinh
+ Giáo dục nhân cách cho học sinh phù hợp với xã hội
+ Tạo khả năng thích ứng với xã hội cho học sinh
- Kết luận sư phạm:
+ Trong giao tiếp sư phạm, giáo viên cần có nhân cách mẫu mực, tôn trọng, có thiện chí và đồng cảm, truyền đạt tri thức cho học sinh với thiện chí của mình
+ Giáo viên đem hết tài năng, trí lực ra hướng dẫn học sinh
+ Giáo viên biết đặt vị trí mình vào vị trí học sinh trong quá trình giao tiếp sư phạm
Trang 10 Phẩm chất:
1 Lý tưởng đào tạo thế hệ trẻ:
- Khái niệm: Là đào tạo thế hệ trẻ, nhiều trò ngoan, trò giỏi, nhiều nhân tài cho đất nước
- Vai trò:
+ Là “ngôi sao dẫn đường” giúp giáo viên đi trên con đường đã định của mình
+ Giúp giáo viên trang bị cho bản thân những tri thức khoa học, phương pháp giảng dạy, phương pháp giáo dục không phải cho bản thân mình mà truyền đạt đến học sinh, dùng nhân cách để giáo dục học sinh
+ Giúp giáo viên vượt qua khó khăn về vật chất và tinh thần nhằm hoàn thành tốt sứ mệnh của mình, để lại dấu ấn trong học sinh trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách
- Biểu hiện:
+ Có lòng yêu nghề, yêu trẻ, lương tâm nghề nghiệp
+ Tận tụy với công việc, tác phong cần cù, trách nhiệm, lối sống giản dị thân tình
+ Luôn làm việc với tinh thần trách nhiệm cao, tích cực cải thiện nội dung, phương pháp
- Kết luận sư phạm:
+ Trau dồi cho bản thân những tri thức khoa học, phương pháp giảng dạy, phương pháp giáo dục nhằm đạt hiệu quả cao trong công tác giáo dục
+ Thực hiện lối sống cần cù, có trách nhiệm, tinh thần trách nhiệm cao, vượt khó
2 Lòng yêu nghề:
- Khái niệm: Lòng yêu nghề là tình yêu, gắn bó, say mê và không ngừng phấn đấu với nghề mà mình
đã chọn
- Vai trò:
+ Tìm thấy niềm vui khi giúp đỡ, dạy dỗ các em học sinh
+ Giúp họ mến trẻ, gặt hái được nhiều thành công trong cuộc sống
+ Có yêu nghề, giáo viên mới cảm nhận được hết giá trị của nghề, có quyết tâm phấn đấu vì nghề + Tham gia nhiều hoạt động liên quan đến nghề dạy học
+ Tận tụy với nghề, say mê, toàn tâm toàn ý với nghề
- Biểu hiện:
+ Đam mê trong hoạt động sư phạm, có hứng thú với bộ môn mình phụ trách, nhiệt tình trong giảng dạy
+ Luôn nghĩ đến việc cống hiến cho sự nghiệp đào tạo thế hệ trẻ của mình
+ Luôn làm việc với tinh thần trách nhiệm cao, tích cực cải tiến nội dung, phương pháp
+ Không tự thỏa mãn với trình độ, sự hiểu biết và tay nghề của mình
- Kết luận sư phạm:
+ Muốn giữ được niềm đam mê, tình yêu với nghề dạy học của mình, người giáo viên cần đặt ra những mục tiêu, kế hoạch rèn luyện cho bản thân
+ Không ngừng trau dồi, cải thiện các phương pháp, nội dung giảng dạy của mình phù hợp với từng đối tượng học sinh giúp các em tiếp thu bài một cách hiệu quả
+ Luôn nuôi giữ những cảm xúc tích cực tránh để những cảm xúc tiêu cực bên ngoài tác động vào nghề
mà chúng ta đang theo đuổi