TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH Thực hiện THÁI HOÀNG MAI ANH Lớp D03 MSSV 030834180016 Giảng viên TRẦN MẠNH KIÊN TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ PHÁT TRIỂN GIẢI PHÁP PHÁT HUY NGUỒN LỰC DÂN TỘC THIỂU.
Trang 1
-Thực hiện: THÁI HOÀNG MAI ANH
Giảng viên: TRẦN MẠNH KIÊN
TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ PHÁT TRIỂN
GIẢI PHÁP PHÁT HUY NGUỒN LỰC DÂN TỘC THIỂU SỐ
TP.HỒ CHÍ MINH, tháng 4-2020
Trang 2MỤC LỤC
1 MỞ ĐẦU 2
SUMMARY 2
2 NGUYÊN NHÂN 2
2.1 Khái niệm dân tộc thiểu số 2
2.2 Vai trò của nguồn lực dân tộc thiểu số đối với sự phát triển kinh tế 4
2.3 Thực trạng các nguồn lực dân tộc thiểu số 4
2.3.1 Nền kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số 5
2.3.2 Giáo dục 7
2.3.3 Y tế 10
3 KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP 14
3.1 Giải pháp phát triển giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số 14
3.2 Giải pháp tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ y tế cho đồng bào dân tộc thiểu số 15
3.3 Phát triển kinh tế của vùng 15
3.4 Kết luận 16
TÀI LIỆU THAM KHẢO 17
Trang 31 MỞ ĐẦU
Phát huy nguồn lực là một trong những nhân tố quan trọng quyết định đến sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Việt Nam có 54 dân tộc anh em, trong đó có 53 dân tộc thiểu số với gần 13,5 triệu người, sinh sống thành cộng đồng ở 52 tỉnh, thành phố, 458 huyện, 5.266 xã Họ chủ yếu ở vùng miền núi, biên giới, khu vực rừng phòng hộ, nơi đầu nguồn sinh thủy, có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, môi trường sinh thái và đa dạng sinh học Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Đảng và Nhà nước ta đã xác định vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ
và Tây Duyên hải miền trung là những khu vực trọng yếu, giữ vị trí chiến lược quan trọng của đất nước Tuy nhiên, hiện nay vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi vẫn là vùng khó khăn nhất, chất lượng nguồn nhân lực thấp nhất, kinh tế - xã hội phát triển chậm nhất, tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản thấp nhất, tỷ lệ hộ nghèo cao nhất Vì vậy cần có những giải pháp phát huy nguồn lực dân tộc thiểu số để thực hiện mục tiêu công bằng xã hội và phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam
SUMMARY
The promotion of resources is one of the important factors determining the economic development of each country Vietnam has 54 ethnic groups, including 53 ethnic minorities with nearly 13.5 million people, living in communities in 52 provinces and cities, 458 districts and 5,266 communes They are mainly located in mountainous areas, border areas, protection forest areas, and watersheds, which are particularly strategically important in terms of politics, economy, national defense, security, ecological environment and Biodiversity In our socio-economic development strategy, the Party and the State have identified ethnic minority and mountainous areas in the Northwest, Central Highlands, Southwest and Central Coastal regions as important areas, holding an important strategic position of the country However, ethnic minority and mountainous areas are still the most difficult areas, with the lowest quality of human resources, the slowest socio-economic development, and low access to basic social services and have the highest poverty rate So it is necessary to have solutions to promote ethnic minority resources in order to implementation of the goal of social equality and sustainable socio-economic development in Vietnam
2 NGUYÊN NHÂN
2.1 Khái niệm dân tộc thiểu số
Khái niệm dân tộc thiểu số được định nghĩa theo Khoản 2 Điều 4 Nghị định
05/2011/NĐ-CP là: “Dân tộc thiểu số là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân
tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.”
Trong đó, “dân tộc đa số” là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng số dân
cả nước, theo điều tra dân số của quốc gia
Việt Nam là một quốc gia với 54 dân tộc cùng nhau sinh sống, trong đó đông nhất là người Kinh chiếm 85,3% dân số cả nước, còn lại 53 dân tộc với gần 14.123 nghìn người chỉ chiếm khoảng 14,7% dân số Việt Nam Như thế, dân tộc Kinh chính là dân tộc đa số, và Chính phủ đã dùng thuật ngữ “dân tộc thiểu số” để chỉ
Trang 4chung cho những người không phải dân tộc Kinh, thể hiện chủ trương “thống nhất trong đa dạng” của Chính phủ Trong số đó, người Hoa có nhiều đặc điểm văn hóa tương đồng Việt Nam và cũng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế nước nhà, nên người Hoa thường không được xem là dân tộc thiểu số Các dân tộc có nhiều đặc điểm khác biệt nhau và điển hình nhất chính là ngôn ngữ Dựa theo sự khác biệt này, dân tộc Việt Nam được chia thành 8 nhóm:
Nhóm Việt - Mường có 4 dân tộc là: Chứt, Kinh, Mường, Thổ
Nhóm Tày - Thái có 8 dân tộc là: Bố Y, Giáy, Lào, Lự, Nùng, Sán Chay, Tày, Thái
Nhóm Môn - Khmer có 21 dân tộc là: Ba na, Brâu, Bru-Vân kiều, Chơ-ro,
Co, Cơ-ho, Cơ-tu, Gié-triêng, Hrê, Kháng, Khmer, Khơ mú, Mạ, Mảng, M'Nông, Ơ-đu, Rơ-măm, Tà-ôi, Xinh-mun, Xơ-đăng, Xtiêng
Nhóm Mông - Dao có 3 dân tộc là: Dao, Mông, Pà thẻn
Nhóm Kađai có 4 dân tộc là: Cờ lao, La Chí, La ha, Pu péo
Nhóm Nam đảo có 5 dân tộc là: Chăm, Chu-ru, Ê đê, Gia-rai, Ra-glai
Nhóm Hán có 3 dân tộc là: Hoa, Ngái, Sán dìu
Nhóm Tạng có 6 dân tộc là: Cống, Hà nhì, La hủ, Lô lô, Phù lá, Si la
Mặc dù tiếng nói của các dân tộc thuộc nhiều nhóm khác nhau, nhưng do họ thường sống xen kẻ với nhau nên thường một dân tộc biết nhiều tiếng của các dân tộc khác có quan hệ hàng ngày với họ Và điều đặc biệt ở đây chính là họ vẫn giữ vững bản sắc riêng của dân tộc mình dù sống xen kẽ và thường xuyên giao lưu văn hóa với nhau
Quy mô, cơ cấu dân số các nhóm dân tộc theo vùng kinh tế - xã hội
giai đoạn 2009 - 2019
Nguồn: Tổng điểu tra dân số và nhà ở năm 2019
Đồng bào các dân tộc thiểu số phân bố rải rác khắp lãnh thổ Việt Nam do tác động của chiến tranh và di cư nhưng chủ yếu là tập trung ở vùng núi và vùng sâu
Trang 5vùng xa Tại Trung du và miền núi phía Bắc dân tộc thiểu số tập trung đông nhất, chiếm tỷ lệ lớn (56,2%) trong tổng dân số của vùng, tiếp đó Tây Nguyên cũng không kém cạnh với tỷ lệ chiếm 37,7% dân số của vùng
Gắn với môi trường tự nhiên có tính sinh học cao, từ lâu người dân các dân tộc thiểu số chủ yếu kiếm sống từ nông nghiệp Các hộ tiến hành hoạt động sản xuất nông nghiệp tập trung vào trong trọt và chăn nuôi Tuy nhiên, các hộ dân tộc thiểu
số vẫn chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực trồng trọt, hoạt động chăn nuôi chỉ tập trung phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của người dân và cúng lễ Ở các tỉnh miền núi phía Bắc, người dân trồng lúa ở cả ruộng trũng và nương rẫy Bên cạnh đó, các loại cây hoa màu như ngô, sắn, đậu tương, là nguồn cung cấp lương thực chủ yếu cho các cộng đồng Tương tự thì các tỉnh Tây Nguyên, người dân cũng chủ yếu trồng trọt các loại cây hoa màu như lúa rẫy, các loại đậu đỗ, ngô, cà phê, bông vải
2.2 Vai trò của nguồn lực dân tộc thiểu số đối với sự phát triển kinh tế
Khu vực sinh sống của đồng bào dân tộc thiểu số chủ yếu là vùng đồi núi Nơi đây mang trong mình rất nhiều thế mạnh giúp phát triển kinh tế Khu vực đồi núi, đặc biệt là vùng trung du và miền núi phía Bắc, tập trung nhiều loại khoáng sản
có nguồn nội sinh như chì, đồng, sắt, pyrit, niken, crôm,…và các loại khoáng sản có nguồn gốc ngoại sinh như bôxit, apatit, đá vôi, than đá,… Đó chính là các nguyên nhiên liệu phục vụ ngành công nghiệp Ngoài ra, tài nguyên rừng và đất trồng rất phong phú nơi người dân tộc thiểu số sinh sống còn tạo cơ sở phát triển nền nông -lâm nghiệp nhiệt đới Miền núi nước ta còn có các cao nguyên và thung lũng, tạo thuận lợi cho việc hình thành các vùng chuyên canh cây công nghiệp, cây ăn quả, phát triển chăn nuôi đại gia súc Mặt khác, do địa hình bị chia cắt mạnh chủ yếu là đồi núi cùng với các con sông lớn chảy qua đã tạo nhiều thuận lợi cho ngành thủy điện, điển hình là nhà máy thủy điện Sơn La (2.400MW) trên sông Đà có quy môn lớn nhất nước, ở Tây Nguyên có thủy điện Ialy (700MW) trên sông Xê San Ở đây cũng ẩn chưa nhiều tiềm năng du lịch lớn, đặc biệt là phát triển loại hình du dịch tham quan, nghỉ dưỡng, sinh thái,…
Ngoài ra, Tây Nguyên có vị trí chiến lược thuộc Khu vực Tam giác phát triển Campuhi - Lào - Việt Nam, có tiềm năng lớn về phát triển thủy điện, điện mặt trời, nông lâm nghiệp (cây công nghiệp, cây ăn trái, chăn nuôi đại gia súc, rừng…), chế biến nông lâm sản, du lịch Tây Nguyên có thể coi là “mái nhà của miền Trung”, có chức năng phòng hộ rất lớn, là hậu phương, là nguồn nước ngọt cho sự phát triển ổn định và bền vững của cả vùng miền Trung và Tây Nguyên
Với tiềm năng, lợi thế nguồn lực to lớn như vậy, vùng dân tộc thiểu số và miền núi nên cần được đẩy mạnh đầu tư phát triển sẽ đem lại một nền kinh tế phát triển đồng đều và vững mạnh cho nước nhà Thế nhưng hiện trạng nơi đây lại không mấy phát triển, chất lượng cuộc sống của người dân còn thấp, nghèo nàn thiếu thốn, những phong tục lạc hậu vẫn tồn tại tiếp diễn, nền kinh tế không mấy khá khẩm, cả
số lượng lẫn chất lượng nguồn nhân lực đều thiếu và yếu kém
2.3 Thực trạng các nguồn lực dân tộc thiểu số
Các dân tộc thiểu số thường cư trú tập trung tại vùng núi cao, biên giới, thuộc các thôn, xã, bản làng đặc biệt khó khăn Giao thông đi lại khó khăn do độ dốc lớn, vào mùa mưa hàu hết các bản bị cô lập với khu vực cung quanh; điện nước
Trang 6sinh hoạt khó khăn; trang thiết bị cơ sở y tế chưa đáp ứng đủ nhu cầu chăm lo sức khỏe của người dân
2.3.1 Nền kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Đất nước ngày càng phát triển, vùng đồng bào dân tộc thiểu số cũng đã có những cải thiện so với trước đây Thế nhưng, đây vẫn là những vùng nghèo nhất của
cả nước
Sau nhiều năm nổ lực đẩy mạnh phát triển kinh tế, vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ đã đạt được những thành tựu đáng kể.Thế nhưng so với cả nước con số vẫn ở ngưỡng rất thấp, thu nhập bình quân đầu người của vùng khoảng 2455 (nghìn đồng/người/tháng), kém xa so với cả nước là 3876 (nghìn đồng/người/tháng), và chính là vùng có thu nhập trung bình thấp nhất năm 2018 (Tổng cục Thống kê)
Thu nhập bình quân đầu người một tháng theo giá hiện hành phân theo vùng
kinh tế năm 2018
Do xu thế phát triển ngày nay, ứng dụng nhiều khoa học công nghệ vào trong sản xuất, người nông dân của vùng đã có thể phát huy vai trò chủ thể, tích cực chuyển đổi cơ cấu sản xuất Tuy nhiên, vùng vẫn còn gặp nhiều hạn chế như sản xuất vẫn ở hình thức nhỏ lẻ, manh mún, tự cung tự cấp, khó hình thành các vùng sản xuất quy mô lớn Công nghệ khoa học hiện đại vẫn chưa được sử dụng hiệu quả, quá trình bảo quản, chế biến sau thu hoạch vẫn chủ yếu ở dạng sơ chế khiến giá tri
3876
4834
2455
3588 5709
Trang 7thấp, giảm lợi thế cạnh tranh Hầu hết phần lớn lực lượng lao động của các tỉnh trong vùng đều thuộc khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản (trong đó hơn 60% lao động trong khu vực nông nghiệp) Trung du và miền núi Bắc Bộ được coi là vùng
có năng suất lao động thấp nhất cả nước Và đặc điểm của lao động ở khu vực nông nghiệp chính là trình độ và kỹ năng chưa cao, nên việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang các ngành khác của vùng rất khó, đặc biệt là ngành áp dụng kỹ thuật cao, công nghệ mới và có tính kỷ luật nghiêm ngặt
Xu hướng tăng trưởng kinh tế và đóng góp của NSLĐ, việc làm vào tăng trưởng của các tỉnh khu vực Trung du miền núi Bắc Bộ
Năm 2017 mặc dù còn rất nhiều khó khăn thách thức nhưng kinh tế vùng Tây Nguyên vẫn đạt được những kết quả tích cực (tổng giá trị sản phẩm trên địa bàn đạt gần 165500 tỷ đồng, tăng hơn 8% so với năm 2016) Sản xuất nông nghiệp tiếp tục
ổn định và phát triển, đầu tư tập trung phát triển theo hướng thị trường Tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp đạt hơn 5,35% Xuất khẩu từng bước phục hồi và có nhiều khởi sắc, với kim ngạnh đạt 2662 tỷ USD, tăng gần 23% Thế nhưng thu nhập bình quân đầu người một tháng tính theo giá hiện của vùng chỉ có 2896 nghìn đồng/người/tháng, thấp thứ hải cả nước Theo đánh giá của Ban Chỉ đạo tỉnh Tây
Trang 8nguyên: “Tốc độ tăng trưởng chưa thực sự bền vững, vẫn còn thấp so với tiềm năng lợi thế của vùng; chất lượng nền kinh tế chưa cao, thiếu ổn định Sản xuất nông nghiệp chưa tạo được sự gắn kết giữa doanh nghiệp với người sản xuất, giữa sản xuất với chế biến, giá cả một số mặt hàng chủ lực không ổn định Công tác quản lý bảo vệ rừng còn nhiều bất cập Tình hình tranh chấp, lấn chiếm đất rừng và khiếu nại liên quan đến đất đai của các đồng bào dân tộc thiểu số ở một số nơi diễn biến phức tạp”
Một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô chính của các tỉnh khu vực Tây Nguyên
giai đoạn 2010-2016
Vùng đồng bằng dân tộc thiểu số có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế nhưng vẫn nền kinh tế của các vùng vẫn đứng ở hàng thấp nhất cả nước do rất nhiều nguyên nhân khách quan Vấn đề mấu chốt của việc phát triển kinh tế chính là do nguồn nhân lực nơi đây vẫn còn yếu kém Các dịch dụ giáo dục, y tế không đủ mạnh để giúp nâng cao nguồn nhân lực giúp họ tiếp cận sự phát triển
2.3.2 Giáo dục
Giáo dục là một trong những điều kiện bảo đảm công bằng và cơ hội phát triển cho mỗi cá nhân trong xã hội Việc tiếp cận dịch vụ giáo dục, đặc biệt là học sinh dân tộc thiểu số ở Việt Nam còn có nhiều hạn chế dẫn đến sự chênh lệch về tỷ
lệ nhập học đúng độ tuổi giữa các nhóm dân tộc ở các cấp học trong hệ thống giáo dục quốc dân, cấp học càng cao thì sự khác biệt càng lớn Có nhiều lý do làm cản trở đến việc tiếp cận dịch vụ giáo dục của người dân dân tộc thiểu số có thể là từ phía cung cấp dịch vụ giáo dục hoặc từ người tiếp nhận giáo dục, các yếu tố như điều kiện kinh tế xã hội, vị trí địa lý của địa phương,…
a Thực trạng khả năng tiếp cận giáo dục của dân tộc thiểu số
Khả năng tiếp cận giáo dục sẽ được tìm hiểu dựa theo các chỉ tiêu: tỷ lệ đi học chung, tỷ lệ đi học đúng tuổi, tình hình biết đọc biết viết
Trang 9Tỷ lệ đi học là chỉ tiêu phản ánh đầu vào của giáo dục Tỷ lệ đi học chung là
số học sinh(sinh viên) đang tham gia vào một cấp giáo dục, không kể tuổi tác, tính trên 100 người trong tuổi đến trường của cấp học đó Tỷ lệ đi học đúng tuổi là số học sinh(sinh viên) trong tuổi đến trường của một cấp học đang tham gia vào cấp học đó tính trên 100 người trong tuổi đến trường của cấp học đó
Theo kết quả sơ bộ Tổng điều tra dân số, năm 2019 Việt Nam có 101,0%là tỷ
lệ đi học chung của bậc Tiểu học, bậc THCS là 92,8%, bậc THPT là 72,3% Ở cấp Tiểu học không có sự chênh lệch nhiều giữa vùng mà người dân tộc thiểu số tập trung sinh sống là Tây Nguyên và trung du, vùng núi phía Bắc với các vùng kinh tế
xã hội khác Nhưng ở các cấp cao hơn thì khoảng cách càng lớn Cụ thể, ở cấp THCS, Trung du và miền núi phía Bắc giảm xuống còn 93,4%, Tây Nguyên giảm xuống còn 86,9% Đến cấp THPT, tỷ lệ đi học chung của Trung du và miền núi phía Bắc chỉ còn 68,4% và Tây Nguyên là 60,7% Có thể thấy rằng, ở cấp Tiểu học, tỷ lệ nhập học đúng tuổi của người dân dân tộc thiểu số khá cao và chênh lệch không nhiều so với dân tộc Kinh Ở các bậc cao hơn thì sự phân hóa thể hiện rõ rệt và đây chính là một trong những vấn đề của người dân dân tộc thiểu số
Tỷ lệ đi học chung và tỷ lệ đi học đúng tuổi theo cấp học,khu vực
và vùng kinh tế – xã hội
(Đơn vị: %)
Nguồn: Tổng điểu tra dân số và nhà ở năm 2019
So với năm 2009, tỷ lệ đi học đúng tuổi của người dân tộc thiểu số năm 2019
đã tăng cao hơn trước đáng kể Mặt khác, sự chênh lệch giữa các vùng, miền lại khá lớn và những vùng miền tập trung đông đúc dân tộc thiểu số lại chính là nơi có tỷ lệ
đi học chung và đi học đúng tuổi thấp Mức chênh lệch tỷ lệ đi học chung của Vùng Trung du và miền núi phía Bắc so với vùng có tỷ lệ cao nhất (đồng bằng sông Hồng)
là 18,6 điểm phần trăm đối với cấp học THPT
Tình hình biết đọc, biết viết (biết chữ) cũng là một chỉ tiêu chung nhất phản ánh đầu ra của giáo dục Biết đọc, biết viết là khả năng đọc và viết mọt đoạn văn
Trang 10đơn giản trong sinh hoạt hàng ngày bằng tiếng quốc ngữ, tiếng dân tộc hay tiếng nước ngoài
Tỷ lệ biết đọc, biết viết của dân số từ 15 tuổi trở lên theo khu vực và
vùng kinh tế - xã hội (2019)
Đơn vị: %
Kết quả Tổng điểu tra 2019 cho thấy tỷ lệ biết chữ của dân số từ 15 tuổi trở lên ở vùng dân tộc thiểu số Trung du và miền núi phía Bắc là thấp nhất cả nước (89,9%), và đây cũng là vùng có sự chênh lệch giữa thành thị và nông thôn cao nhất
cả nước (10,1 điểm phần trăm), tiếp theo là vùng Tây Nguyên là 91,3% (chênh lệch giữa thành thị và nông thôn là 8,6 điểm phần trăm), trong khi sự chênh lệch giữa các vùng còn lại chỉ giao động trong khoảng dưới 3,0 điểm phần trăm
Nhìn chung, trình độ dân trí của đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn có những khoảng cách đáng kể so với dân tộc đa số Chất lượng của nguồn nhân lực dân tộc thiểu số còn nhiều hạn chế, số lượng đội ngũ cán bộ dân tọc thiểu số ít ỏi và một bộ phận lớn yếu về trình độ chuyên môn So với mặt bằng chung cả nước, vùng dân tộc thiểu số có rất nhiều hạn chế, tỷ lệ biết chữ của trẻ em rất tháp so với cả nước, tỷ lệ
hộ nghèo cao đến 30% (hiện còn hơn 2000 xã và trên 18.000 thôn, bản đặc biệt khó khăn) Tỷ lệ người có trình dộ học vấn cao là rất thấp (dân tộc Braau là dân tộc chưa
có người đi học đại học)
b Nguyên nhân hạn chế
Ở vùng miền núi nơi dân tộc thiểu số tập trung sinh sống, địa hình phức tạp, không thuận lợi, cơ sở vật chất, trường lớp thiếu thốn Thế nên công tác phát triển giáo dục, nâng cao trình độ học vấn của đồng bào còn nhiều hạn chế Mặc dù Chính phủ rất quan tâm đến vấn đề giáo dục, ban hành nhiều chính sách, giải pháp phát triển giáo dục, đặc biệt cho các vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc, tuy nhiên
do hạn chế về nguồn lực nên việc thực hiện các chính sách còn chưa phù hợp với vùng miền và chưa đủ mạnh, khả năng đầu tư ở các vùng khó khăn còn hạn hẹp Vấn đề là do quá trình thực hiện chính sách phát triển giáo dục ở vùng dân tộc thiểu
số còn nhiều thiếu sót từ chương trình của sách giáo khoa, phương pháp giáo dục và dạy học cho đến chính sách đối với giáo viên và cán bộ quản lí giáo dục nơi đây