Mục tiêu của chúng ta lànguyên tắc dòng chảy, dựa trên cân bằng về vật liệu và năng lượng cũng nhưđầu vào/ra về tài chính, phải đóng vai trò then chốt trong tất cả các quyết địnhtương la
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
Cách đây khoảng 20 năm, quá trình đô thị hóa bắt đầu diễn ra ở Việt Nam
và Trong khoảng 10 năm trở lại đây, đô thị hóa đang diễn ra một cáchmạnh mẽ và nhanh chóng Năm 1990, tỷ lệ đô thị hoá mới đạt khoảng 17-18%,đến năm 2000, con số này đã là 23,6% và hiện nay đạt 28% Dự báo, năm 2020,
tỷ lệ đô thị hoá của Việt Nam sẽ đạt khoảng 45% Trong xu thế đó, cùng vớithành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội là một trong hai thành phố có tốc độ đô thị hóacao nhất Ước tính đến năm 2011, tỷ lệ đô thị hóa đạt ở Hà Nội là 35 - 40% vànhảy vọt thành 55 - 65% vào năm 2020 Song song với quá trình này là sự giatăng dân số tại thủ đô Năm 1990, Hà Nội mới chỉ có 2 triệu người, đến năm 2000lên được 2,67 triệu thì đến năm 2009 đã đạt tới con số 6,5 triệu dân Như vậytrong vòng 10 năm, dân số Hà Nội đã tăng lên khoảng 4 triệu người, tạo sức éplớn cho thành phố về vấn đề nhà ở cũng như các tiện ích xã hội phục vụ dân cư
Để đáp ứng tốc độ đô thị hóa, đồng thời giải quyết bài toán nhà ở cho dân cư,một trong các giải pháp được thành phố Hà Nội đưa ra là xây dựng các khu đôthị mới Tính đến giữa năm 2012, trên địa bàn thành phố có khoảng hơn 200 dự
án đô thị mới, với tổng diện tích khoảng 30.000 ha, và đang có xu hướng tăngmạnh trong tương lai Tuy nhiên, thực tế vẫn còn rất nhiều vấn đề đang tồn tạitrong các khu đô thị mới này Đó là tình trạng hệ thống hạ tầng cơ sở thiếu đồng
bộ, mật độ xây dựng quá dày, thiếu các tiện ích xã hội như siêu thị, trung tâmchăm sóc sức khỏe, công viên, trường học, hệ thống giao thông công cộng; ônhiễm môi trường nước, không khí, thu gom và xử lý rác thải và nhiều vấn đềkhác liên quan đến công tác quản lý Xuất phát từ thực tế phát triển các đô thịhiện nay, còn rất nhiều vần đề bất cập như đã nêu Chỉ có con đường duy nhất đểcải thiện tình trạng trên là phát triển bền vững các đô thị Phát triển đô thị bềnvững là mục tiêu mà các quốc gia đang hướng tới trong đó có Việt Nam Hà Nội,
là trung tâm văn hóa, chính trị của cả nước thì quá trình phát triển bền vững các
đô thị là một tất yếu khách quan
Trang 2Để các đô thị thực sự phát triển bền vững, cần có những nghiên cứu, đánhgiá hiện trạng phát triển, từ đó tìm ra các vấn đề còn bất cập để có hướngphát triển trong tương lai Do đó, việc nghiên cứu thực trạng phát triển bền vữngcác đô thị để từ đó đề xuất các giải pháp, biện pháp phát triển các khu đô thị mớitrên địa bàn Hà Nội là hết sức cần thiết.Với mong muốn đóng góp vào việc giảiquyết một vần đề cấp bách của thực tiễn hiện nay, em xin được chọn tiểu luậnnghiên cứu với đề tài: Phát triển bền vững các khu đô thị mới Đánh giá thực
tế trên địa bàn thành phố Hà Nội và trên cơ sở đó, đưa ra các giải pháp cũng nhưcác kiến nghị để khắc phục và phát triển các khu đô thị này
Trang 3CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN
BỀN VỮNG ĐÔ THỊ
1 1 Khái niệm về phát triển đô thị bền vững.
1.1.1 Phát triển bền vững nói chung
Khái niệm về phát triển bền vững đầu tiên được đề cập vào năm 1987trong báo cáo của Ủy ban Môi trường và phát triển của Ngân hàng Thế giới(Brundtland Commission 1987) Khái niệm này cho rằng sự phát triển phảithỏa mãn nhu cầu của con người không chỉ trong giai đoạn hiện tại mà còn cho cảtương lai, phải đáp ứng cả yêu cầu kinh tế lẫn bảo vệ môi trường Năm 1991Ngân hàng châu Á (ADB) xác định thêm nội dung của phát triển bền vững, nhấnmạnh thêm khả năng của thế hệ hiện tại đáp ứng cho các nhu cầu của các thế hệtương lai Kể từ đó một phương pháp phát triển mới được định hình và được chấpnhận rộng rãi
Như vậy phát triển bền vững có mục tiêu rõ ràng: thứ nhất, phát triển sảnxuất phải đi đôi với vấn đề sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môitrường; thứ hai, phải chú trọng đến mối quan hệ giữa các thế hệ, thế hệ ngàynay phải có trách nhiệm với các thế hệ sau trong việc để lại những di sản và tàinguyên có giá trị Phương thức phát triển mới này được xây dựng với nội dungbao gồm ba vế phát triển kinh tế, phát triển môi trường và phát triển xã hội, là sựtổng hợp của các chỉ tiêu chủ yếu về kinh tế, xã hội, môi trường và nhất là hướngtới tương lai
1.1.2 Phát triển đô thị bền vững
Cho đến này, chưa có một khái niệm thống nhất về phát triển bền vững đôthị Rất khó để đưa ra được một định nghĩa hay hệ khái niệm được coi là thốngnhất về phát triển đô thị bền vững vì bản chất đa dạng và đa chiều của đối tượngnghiên cứu Tùy thuộc vào mục đích và phương pháp nghiên cứu mà các tác giả
sẽ có những quan điểm khác nhau Các quan điểm về phát triển đô thị bềnvững được trình bày rất đa dạng Quan điểm của thế giới
Trang 4- Xuất phát từ bản báo cáo của Ủy ban Brundtland, tại hội nghị URBAN21(tổ chức tại Berlin tháng 7/2000), người ta đã đưa ra định nghĩa về phát triển đôthị bền vững: "Cải thiện chất lượng cuộc sống trong một thành phố, bao gồm cảcác thành phần sinh thái, văn hóa, chính trị, thể chế, xã hội và kinh tế nhưngkhông để lại gánh nặng cho các thế hệ tương lai, một gánh nặng bị gây ra bởi sựsút giảm nguồn vốn tự nhiên và nợ địa phương quá lớn Mục tiêu của chúng ta lànguyên tắc dòng chảy, dựa trên cân bằng về vật liệu và năng lượng cũng nhưđầu vào/ra về tài chính, phải đóng vai trò then chốt trong tất cả các quyết địnhtương lai về phát triển các khu vực đô thị "Phát triển đô thị bền vững trên thực tếđược định nghĩa chi tiết hơn tùy theo từng khu vực địa lý, trình độ phát triển vàgóc nhìn.
Phát triển đô thị bền vững cũng được xem xét dưới một thuật ngữ khác, đó là
“phát triển cộng đồng bền vững” theo đó: "Phát triển cộng đồng bền vững là nănglực đưa ra quyết định phát triển tôn trọng mối tương quan giữa ba
- Trung Tâm môi trường khu vực miền Trung và Đông Âu ( REC), một tổchức quốc tế với nhiệm vụ trợ giúp trong việc giải quyết các vần đề môi trường,trong đó có phát triển đô thị bền vững đã đưa ra các quan điểm khác nhau vềphát triển đô thị bền vững:
* Ấn Độ, một quốc gia đang và sẽ là nước có tốc độ đô thị hóa hàng đầuChâu Á đã đưa ra định nghĩa về phát triển bền vững:
"Một cộng đồng sử dụng bền vững nguồn tài nguyên của mình để đáp ứngnhu cầu hiện tại, trong khi đảm bảo đủ nguồn lực có sẵn cho các thế hệ tương lai
Nó tìm cách cải thiện sức khỏe cộng đồng và một cuộc sống chất lượng tốt hơncho tất cả cư dân của nó bằng cách hạn chế chất thải, ngăn chặn ô nhiễm, bảo tồn
và phát huy tối đa hiệu quả, và phát triển nguồn lực địa phương để khôi phục nềnkinh tế địa phương
* Quan điểm của Argentina về phát triển đô thị bền vững “Một thành phốbền vững kết hợp hài hòa yếu tố môi trường với các ngành kinh tế và xã hội để
Trang 5đáp ứng nhu cầu của các thế hệ hiện tại mà không ảnh hưởng đến nhữngthế hệ tương lai”
* Quan điểm của Việt Nam về phát triển đô thị bền vững:
- Theo Viện Quy Hoạch Đô Thị - Nông Thôn - Bộ Xây Dựng (Dự án VIE),trên cơ sở các khái niệm về PTBV, một phạm trù PTĐTBV đô thị cũng được xâydựng mang tính đặc thù hơn Nhìn chung PTBV đô thị tập trung giải quyếtcác vần đề sau:
* Phát triển kinh tế đô thị ổn định, tạo công ăn việc làm cho dân cư đô thị,đặc biệt cho người có thu nhập thấp, người nghèo đô thị
* Đảm bảo đời sống vật chất văn hóa tinh thần, giữ gìn bản sắc truyền thốngdân tộc, đảm bảo công bằng xã hội
* Tôn tạo, giữ gìn và bảo vệ môi trường đô thị luôn xanh, sạch, đẹp với đầy
đủ ý nghĩa vật thể và phi vật thể đô thị Như vậy PTĐTBV luôn đồng hành vớiPTBV nói chung Đương nhiên, theo ý nghĩa này, PTĐTBV không bó hẹp theoquan điểm và nhiệm vụ của các nhà quy hoạch mà cần mở rộng hơn nhiều lĩnhvực Phát triển đô thị cần được lồng ghép và tiếp cận theo cách nhìn nhận mà các
- Giảm nghèo đói đô thị ở đây có 3 tiêu chí nghèo đô thị là nghèo tiền, nghèobất động sản và nghèo quyền do đó cần có một chính sách toàn diện mới giảiquyết được 3 tiều chí quan trọng này Muốn vậy cần xây dựng một cơ chế bềnvững về phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường tại cộng đồng dân cư đặcbiệt là đối với người nghèo Cung cấp đầy đủ thông tin cho cộng đồng để họ cóthể tiếp cận học hỏi thực hiện và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình
Trang 6- Quản lý môi trường đô thị là cải thiện các điều kiện môi trường và làmgiảm các chất thải sinh hoạt và các chất thải công nghiệp trong đô thị Cải tiếncông tác tiếp cận đồng bộ trong viêc cung cấp các dịch vụ môi trường Bảo vệmôi trường, đảm bảo sức khỏe, an toàn dịch bệnh để hỗ trợ đầy đủ phát triển đôthị bền vững.
- Phát triển kinh tế địa phương cho đến nay, hầu hết các nước trên thế giớiđều công nhận chính sách phi tập trung là cần thiết và có hiệu quả Điều ấy cónghĩa, các nhà chức trách địa phương có trách nhiệm cao hơn, nặng nề hơn trongcông cuộc phát triển kinh tế cho địa phương mình, cho đô thị mình Tuy nhiên,năng lực của chính quyền địa phương nói chung còn rất hạn chế Vì thế việc nângcao năng lực cho chính quyền địa phương là yếu tố quyết định sự thành côngcủa công cuộc PTBV kinh tế địa phương
- Quản lý và điều hành đô thị theo các tiêu chí: Khuyến khích tư vấn thảoluận và đối thoại giữa cộng đồng, những người có liên quan đến các quyết định,
sự ưu tiên và sở hữu Sử dụng phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi để xây dựngcác tiêu chí đánh giá Nâng cao năng lực thông qua việc chia sẻ kinh ngiệm vàthông tin Hình thành mạng lưới truyền thông liên kết người dân với chính quyềnđịa phương, chính quyền quốc gia và toàn cầu
Tóm lại, PTĐTBV là một lĩnh vực đặc thù, PTĐTBV cần sự phối hợpphát triển đa nghành, đa cấp và của đại bộ phận dân cư PTĐTBV thể hiện mộtcách thức suy nghĩ và một hướng giải quyết về đô thị hóa mà trong đó việc xâydựng các đô thi sẽ được diễn giải trên cơ sở duy trì những hiểu biết về kinh tế,văn hóa và bảo vệ môi trường PTĐTBV là nền tảng vững chắc để công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước Do đó có thể hiểu một cách đơn giản PTĐTBV làmột cách sửa chữa những thiếu sót của quá trình đô thị hóa, trên cơ sở xemxét lại toàn bộ cách thức quy hoạch xây dựng đô thị hiện nay và tìm ra một xuthế phát triển mới trường tồn trong tương lai
1.2 Nguyên tắc, tiêu chí đánh giá PTĐTBV
Trang 7Mặc dù, mỗi quốc gia, mỗi tác giả có cách nhìn nhận khác nhau vềPTĐTBV, nhưng tựu chung lại PTĐTBV phải đảm bảo các yêu cầu chung nhất.1.2.1 Nguyên tắc phát triển đô thị bền vững
Nguyên lý mang tính quy luật của phát triển đô thị bền vững, đó là sự kếthợp tối ưu giữa các quy luật vận động của tự nhiên và các quy luật vận động kinh
tế - xã hội của đô thị, nhằm xây dựng nên một môi trường nhân tạo (kỹ thuật),đảm bảo mối quan hệ hài hòa về: Kinh tế, xã hội và môi trường trong đô thị, vùnglãnh thổ đô thị và ngoài vùng lãnh thổ đô thị theo những giai đoạn phát triển nhấtđịnh Điều đó có nghĩa là: đô thị sẽ có những biến đổi về chất và lượng (quy mô)theo không gian và thời gian
Nguyên tắc bao trùm của phát triển bền vững là: thỏa mãn các nhu cầu pháttriển của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến nhu cầu phát triển của thế hệtương lai Cụ thể, phát triển bền vững đô thị có các nguyên tắc cơ bản sau:
* Xu hướng phát triển của đô thị không làm thế hệ tương lai phải trả giá, bởi
sự yếu kém về: Chiến lược phát triển, quy hoạch và quản lý đô thị, nợ nần, suythoái môi trường, cũng như các hậu quả xấu khác của thế hệ hiện tại để lại
* Đô thị phát triển cần bằng giữa các mặt kinh tế, xã hội và môi trường Nóimột cách khác, nó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình phát triển, đó là sự thay thếliên tục từ trạng thái cân bằng này đến trạng thái cân bằng khác
* Một đô thị chỉ phát triển bền vững trong mối quan hệ bền vững với vùnglãnh thổ đô thị, các vùng và các đô thị khác mà nó chịu ảnh hưởng cũng phát triểnbền vững (thông qua các luồng trao đổi vật chất, thông tin, văn hóa )
1.2.2 Yêu cầu đối với quá trình PTĐTBV
1.2.2.1 Phát triển kinh tế Đô thị cần được tính toán phát triển phù hợp vớitiềm năng sẵn có và triển vọng phát triển kinh tế của địa phương Cân đốivốn đầu tư theo khả năng tăng trưởng KT-XH theo từng giai đoạn/theo từngnhóm ngành/theo kế hoạch PTĐT ngắn và dài hạn đã được QHXDĐT đượcduy ệt quy định, ngoài ra kinh tế đô thị cần được tính toàn sử dụng hiệu quả, tiếtkiệm các nguồn tài nguyên: đất đai, nguồn nước, năng lực và lao động đô thị
Trang 81.2.2.2 Phát triển dân số lành mạnh về yếu tố xã hội, đô thị cần được đánhgiá đầy đủ về dân số lao động, tỷ lệ đô thị hóa, dòng dịch cư và xu hướng di dân,sức chứa tối đa, khả năng chịu tác động của thiên tài, tác động của địa chấn đếnphát triển dân số đô thị Tăng cường quản lý dân số từ ngoài thành phố vào, điềuchỉnh phân bố dân cư thúc đẩy phát triển dân số hài hòa với phát triển KT-XH vàbảo vệ giữ gìn tài nguyên môi trường.
1.2.2.3 Quy hoạch xây dựng đô thị tạo sự hấp dẫn cho đô thị
Quy hoạch xây dựng đô thị phải đánh giá đầy đủ điều kiện địa lý và nguồntài nguyên để đánh giá đúng vị trí, chức năng, vai trò của từng đô thị Cân đốiđất đai, cơ sở vật chất và tạo lập môi trường thích hợp cho người dân là chủ thểcủa đô thị được sống, làm việc và nghỉ ngơi tốt nhất để tái tạo sức lao động caonhất cho xã hội Quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất đai đô thị phải được lập theohướng cân bằng giữa đô thị và nông thôn, giữa phát triển mới và cũ và có kếhoạch dài hạn với các khu đất dự phòng
Quy hoạch phải đề xuất được một hệ thống kết nối không gian tạo sự hấpdẫn cho đô thị (hấp dẫn mang cả ý nghĩa tạo vẻ đẹp cho đô thị và tạo sự hấp dẫncho các nhà phát triển) Đảm bảo đánh giá tác động môi trường cho các dự ánquy hoạch cải tạo và quy hoạch PTĐT; đề xuất được các dự báo PTĐT ngắn vàdài hạn đúng và đủ đối với điều kiện KT - XH - MT của địa phương
1.2.2.4 Cung cấp đầy đủ các dịch vụ hạ tầng Hạ tầng kỹ thuật đô thị cầnđược quan tâm xây dựng và quản lý đồng bộ các mặt như: Chuẩn bị kỹ thuật đôthị; Hệ thống giao thông đô thị; Hệ thống cấp nước và thoát nước đô thị; Hệthống cấp năng lượng điện, chất đốt đô thị và chiếu sáng đô thị; Hệ thống quản lýtài chế chất thải rắn, nước thải, vệ sinh môi trường đô thị; Hệ thống quản lý nghĩatrang và các chất phát thải Việc xây dựng và cung cấp các dịch vụ này phải đượcthực hiện trên quan điểm tiết kiệm, chống hao mòn thất thoát, chống gây ô nhiễmmôi trường
1.2.2.5 Xử lý ô nhiễm, bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn tài nguyên Môitrường đô thị cần quan tâm xử lý môi trường ô nhiễm (gồm phòng chống ô
Trang 9nhiễm không khí, ô nhiễm nước, ô nhiễm chất thải rắn, ô nhiễm công nghiệp, ônhiễm tiếng ồn, điện tử, hóa chất độc hại và các chất phóng xạ) Cải thiện môitrường sinh thái đô thị (gồm xây dựng các tuyến vành đai xanh đô thị, tăngcường bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên đất đai, tăng cường quản lý nguồnnguyên liệu sử dụng để sản xuất vật liệu xây dựng)
Tạo dựng môi trường cảnh quan, môi trường văn hóa, xã hội phù hợp vớisinh thái địa phương và thể hiện rõ tất cả các giá trị vật chất và tinh thần của đôthị
1.2.2.6 Xã hội hóa công tác quy hoạch và PTĐT và ĐT hóa bền vững
Xã hội hóa công tác PTĐT trên cơ sở quan tâm nâng cao sự hiểu biết củachính quyền địa phương và cộng đồng về công tác PTĐT và ĐT hóa bềnvững, đồng thời khuyến khích họ tham gia vào công tác lập, thực hiện vàquản lý quy hoạch, phát triển đô thị
Các nội dung trên phải được nồng ghép vào các chương trình lập quy hoạch
và kế hoạch hành động PTĐT và ĐT hóa bền vững quốc gia Đương nhiên theo ýnghĩa này, PTĐT và ĐT hóa bên vững phải được thực hiện cả theo định hướngcủa nhà nước và cũng rất cần các chương trình hành động thể hiện sự đồng tìnhủng hộ của đông đảo các cấp chính quyền địa phương và cộng đồng
1.3 Tiêu chí đánh giá phát triển đô thị bền vững
Dù cùng xuất phát từ khái niệm phát triển bền vững của Brundtland, nhiềunhà khoa học, dưới sự chi phối của lĩnh vực hoạt động của mình, đã đưa ra cáctiêu chí đánh giá khác nhau về phát triển đô thị bền vững
1.3.1 Các nhà sinh thái đưa ra các tiêu chuẩn để phát triển đô thị bền vữngnhư sau:
- Phát triển nhà ở theo chiều cao để tiết kiệm nguy ên, nhiên vật liệu vàmặt bằng;
- Bảo tồn địa hình địa mạo tự nhiên;
- Tránh xây dựng thành phố trong thung lũng vì đất ở đấy phì nhiêu và dễ lở;
- Bảo vệ và phát triển cây xanh đô thị;
Trang 10- Khuyến khích tiết kiệm nước;
- Hạn chế sử dụng phương tiện di chuyển có động cơ;
- Tái sinh vật liệu phế thải
1.3.2 Các nhà ngân hàng chú trọng đến lĩnh vực tài chính Theo họ, pháttriển đô thị bền vững có 4 tiêu chí:
- Đảm bảo và phát triển khả năng cạnh tranh của thành phố;
- Đảm bảo cuộc sống của cư dân tốt hơn;
- Nền tài chính lành mạnh (nguồn thu, các chính sách tài chính, nguồn lực);
- Quản lý đô thị tốt
1.3.3 Các nhà nghiên cứu và quản lý chú trọng đến đường lối:
- Lấy chỉ tiêu HDI để đánh giá đô thị chứ không dựa vào quy mô dân số,kinh tế hay xây dựng như trước đây;
- Giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa nông thôn và thành thị;
- Sự phối hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa và quản lý
1.4 Thực tiễn về phát triển đô thị bền vững
1.4.1 Tình hình phát triển tại các đô thị trên thế giới
Phát triển đô thị bền vững đã có hơn 30 năm trước Tuy nhiên mức độ pháttriển đô thị bền vững phụ thuộc vào tỷ lệ đô thị hóa của từng quốc gia Đối vớicác nước phát triển công nghiệp hóa cao như các nước Tây Âu, Mỹ, Nhật… tỷ lệdân tập trung tại các đô thị trên 70% thì xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuậtPTĐTBV đã đạt được mức độ cao và từng bước đáp ứng được các yêu cầu vềPTĐTBV
Như chúng ta đã thấy đô thị phản ánh cả hai mặt tốt và xấu Cái được haykhông được là ở chỗ nó sẽ trở nên tốt hay xấu Thực tế cho thấy sự phát triển tốthay xấu có ảnh hưởng rất nhiều đến người dân đô thị Ngày nay, hiện đại hoángày càng được phổ cập và lan rộng, không gian đô thị ngày càng được nâng cấpcải tạo và khuyếch chương
1.4.2 Mối quan tâm của các tổ chức quốc tế tới PTBV
Trang 11Thế giới đã quan tâm tới phát triển đô thị như thế nào? Liên hợpquốc (UNESCO) quan tâm hàng đầu tới vấn đề con người tới việc thoả mãn nhucầu sống và làm việc cho con người tại các khu đô thị với 5 mục tiêu chính: (1)Nhằm vào các khu dân nghèo thành thị (2) Việc cung cấp dich vụ, h àng hoá, tái
sử dụng các vật liệu và xử lý môi trường (3) Kiểm soát dân số (4) Vấn đề khíhậu môi trường và những biện pháp giảm thiểu việc sử dụng nhiên liệu (5) Vấn
đề tắc nghẽn giao thông, chống ô nhiễm tiếng ồn và dich bệnh Bằng những nỗlực lớn nhất, Liên hợp quốc đã dành khá nhiều đầu tư tìm kiến giải phát PTBVcho toàn cầu, trước tiên đến với chiến lược bảo vệ môi trường (trong thập kỷ 80của thế kỷ 20), trên cơ sở xác định bảo vệ môi trường là một trong những biệnpháp sống còn của nhân loại Ngân hàng thế giới hưởng ứng chương trình hànhđộng của LHQ bằng việc tập trung vốnđầu tư bảo vệ sinh thái môi trường và tíchcực giúp đỡ chương trình xoá đói giảm
nghèo cùng lúc đó đầu tư cho văn hoá với các dự án bảo tồn di sản Sau 1995,UNESCO bắt đầu dành những ngân quỹ lớn hơn cho các đề tài
nghiên cứu về văn hoá - môi trường và PTBV Hiệu quả bước đầu thể hiện quaviệc tái thiết lập lại các chính sách văn hoá đồng thời xúc tiến xem xét lại sự tồntại của các nền văn hoá trên toàn thế giới Tại các hội nghị thượng đỉnh văn hoáđược xem như là mục tiêu hướng tới phát triển, với hy vọng mang lại sự thịnhvượng cho mọi người ở tất cả mọi nơi trên trái đất Văn hoá sáng tạo và biểu lộ sựtrưởng thành của các dân tộc vì vậy việc giữ gìn và củng cố “tính đa dạng vănhoá” là chiến lược mang tính toàn cầu (UNESCO,1998)
Hiện nay LHQ cùng các các tổ chức quốc tế đang dốc toàn lực nhằm
hỗ trợ các quốc gia xây dựng các tiêu chí PTBV cho riêng họ
1.5 Thực tiễn phát triển đô thị và đô thị hóa bền vững tại Việt Nam
Công cuộc đổi mới đất nước trong gần 20 năm qua chứng kiến nhiều thànhtựu vĩ đại của dân tộc ta, trong đó có sự nghiệp đô thị hóa Từ một nước nôngnghiệp lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá nặng nề trong nhiều năm dài, chúng ta đãdành được độc lập, thống nhất đất nước và tạo đà tăng trưởng kinh tế toàn diện
Trang 12làm cho bộ mặt đất nước thay đổi từng ngày, nhất là ở khu vực đô thị với tỷ lệtăng từ 17% lên đến 25% trong quá trình đổi mới đất nước.
Theo số liệu mới nhất được Bộ Xây dựng công bố, tính đến tháng 12/2010,
cả nước có 755 đô thị Tỷ lệ đô thị hóa hiện đạt gần 30% Ngoài 2 đô thị loại đặcbiệt (Hà Nội, TP HCM), có 10 đô thị loại I, 12 đô thị loại II, 47 đô thị loại III, 50
đô thị lo ại IV và 634 đô thị loại V Đó là kết quả của một thời kỳ chuyển đổisang nền kinh tế thị trường cùng các chính sách mở cửa, chính sách mới về nhàđất và sự quan tâm của Nhà nước đối với công tắc quy hoạch, đầu tư cải tạo vàxây dựng cơ sở hạ tầng… giúp cho các đô thị nước ta phát triển nhanh cả về sốlượng và chất lượng, tạo nên một khối lượng xây dựng gấp hàng chục lần trướcđây, đáp ứng được sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, trở thành nhữngnhân tố tích cực và chủ yếu của quá trình phát triển hệ thống đô thị nói riêng vàphát triển kinh tế - xã hội nói chung Trên bình diện đó các đô thị đã đảm nhiệmđược vai trò là trung tâm phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thươngmại, dịch vụ, các ngành nghề mới, trung tâm phát triển và chuyển giao công nghệtrong vùng, trung tâm giao lưu thương mại trong và ngoài nước; thu hút đầu tưnước ngooài, phát triển kinh tế đối ngoại; phát triển văn hóa, giáo dục, nâng caođầu tư trong nước và phát triển nguồn lực; giữ vai trò quan trọng làm tăng thungân sách cho Nhà nước hàng năm và góp phần to lớn đảm bảo an ninh, quốcphòng
Tuy nhiên so với các nước phát triển và một số nước đang phát triển trongkhu vực, tỷ lệ đô thị hóa ở nước ta vẫn còn thấp, vị trí đô thị vẫn còn tình trạnglạc hậu do kết quả của những năm chiến tranh tàn phá nặng nề, cùng với trình độphát triển lực lượng săn xuất ở mức thấp làm cho nền kinh tế còn kém hiệu quả,
bị tác động bởi cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp trong dài hạn, cộngthêm với một số quyết định chưa thật thích hợp trong chính sách quản lý và pháttriển đô thị, đặc biệt là sự tác động của nền kinh tế thị trường trong giai đoạn đầu
đã để lại những mâu thuẫn khá gay gắt ở các điểm sau:
Trang 13* Cơ sở kinh tế - kỹ thuật hoặc động lực phát triển đô thị còn yếu, tăngtrưởng kinh tế chưa cân đối vơi tăng trưởng dân số Điều này được phản ánh quatốc độ tăng trưởng kinh tế đô thị trung bình hàng năm của đô thị tuy đạt 13-15%,mỗi năm giải quyết được việc làm cho trên dưới 1 triệu lao động, nhưng haingành dịch vụ và công ngiệp - những động lực phát triển đô thị quan trọng nhấtmới chỉ thu hút được 27,7% tổng số lao động xã hội Trên thực tế tỷ lệ dân sốtrong đô tuổi lao động chưa có việc làm tại các đô thị vẫn còn cao, nhất là các đôthị lớn chiếm khoảng 15-20% Số người sống lang thang, cơ nhỡ, vô gia cư; cáckhu định cư bất hợp pháp, kém chất lượng đang là một trong những vần đề xãhội và môi trường bức xúc, cũng phần lớn xảy ra ở các đô thị lớn.
* Tình trạng phân bố dân cư và sử dụng đất nông nghiệp vào mục đích xâydựng đô thị đang tiềm ẩn mối nguy cơ không nhỏ đối với vần đề an toàn lươngthực và thực phẩm Thực tế hiện nay cho thấy, trên 70% đô thị và dân số đô thịđược phấn bố tại các vùng đồng bằng, ven biển, nơi tập trung chủ yếu quỹ đấtnông nghiệp cả nước, trong đó phân lớn là đất tốt cho năng suất sản phẩm câylương thực cao Nếu giữ nguyên tình trạng phân bố dân cư như hiện nay thì quỹđất nông nghiệp sẽ giảm đi trung bình mỗi năm khoảng 3.800 ha Một con số báođộng cho vấn đề an toàn lương thực, thực phẩm
* Cơ cấu tổ chức không gian hệ thống phân bố dân cư trên địa bàn cả nướcmất cân đối, đang tạo ra sự cách biệt giữa đô thị-nông thôn, giữa phát triển -kém phát triển còn lớn và đang có xu thế diễn biến ngày một xấu hơn Thực tếcho thấy hình thức phân bố dân cư đô thị - nông thôn ở nước ta trước đây có mốiquan hệ tương đôi gắn bó giờ đây đang trở nên cách biệt hơn về kinh tế, xã hôi,văn hóa, dịch vụ và nghỉ ngơi giải trí Tình trạng này đang duy trì một tỷ lệ cáchbiệt lớn giữa vùng chậm phát triển và chưa phát triển chiếm 82% diện tích tựnhiên cả nước, trong khi chỉ có 18% diện tích thuộc về phát triển Về toàn cụcthế cân bằng chiến lược phát triển giữa ba vùng Bắc - Trung - Nam chưa đượchình thành Trong khi đó hệ thống các đô thị trung tâm vẫn chưa hình thành đềukhắp các vùng; có đến gần 50% dân số đô thị hiện nay đang tập trung tại 2 thành
Trang 14phố lớn Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh Tại các vùng trung du, miền núi và hải đảocòn thiếu các đô thị - trung tâm tạo cực tăng trưởng cho việc thúc đẩy tăng trưởngkinh tế - xã hội trong vùng Ngược lại các đô thị lớn có sức hút mạnh đang tạo ra
sự tập trung dân cư - công nghiệp quá tải, gây áp lực lớn cho môi trường sốngdân cư ở các nơi đó Trên thực tế các đô thị nhỏ và vừa hiện nay còn kém sứchấp dẫn, rất khó có khả năng đảm đương nhiệm vụ một cách trọn vẹn vị trí và vaitrò trung tâm của mình trong mạng lưới đô thị của tỉnh,vùng cũng như Quốc gia
* Quá trình đô thị hóa và phát triển đô thị chưa phản ánh thật đậm đà bảnsắc văn hóa văn hóa dân tộc, các đặc thù sinh thái nhân văn và sinh thái tự nhiêntrong quy hoạch và kiến trúc đô thị Điều này rất dễ nhận dạng khi không ítnhững đô thị miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, vùng đồng bằng Sông Hồng, vùngven biển, vùng đồng bằng sông Cửu Long được nghiên cứu qua những đồ án quyhoạch và triển khai xây dựng không khác biệt nhiều để thể hiện tính đặc thùtrong các nét bản địa, tính đặc trưng văn hóa, nét kiên trúc địa phương, các biểutrưng về sinh thái tự nhiên, sinh thái xã hội Trong các giải pháp quy hoạch tổchức không gian, bố cục cơ cấu chức năng và xây dựng từng công trình thườngchỉ hướng đến đô thị hiện đại mà quá ít đầu tư cho những đặc thù truyền thốngcủa mỗi đô thị
* Cơ sở hạ tầng đô thị còn phát triển hạn chế không nhìn nhận đồng bộtrên diện rộng, nhiều nơi còn xây dựng manh mún và nói chung còn yếu kém,không đảm bảo các tiêu chuẩn phát triển đô thị tương xứng với điều kiện côngnghiệp hóa hiện đại hóa Một số nét nổi bật về vần đề này cho thấy:
+ Về hạ tầng xã hội, sự hạn chế rõ rệt là diện tích nhà đô thị mới đạt bìnhquân 5,8m2 người Những tình trạng bất bình đẳng về nhu cầu ở còn chênh lệchcao làm cho một bộ phận dân cư vẫn phải sống trong điều kiện hết sức khó khăn.Nhìn chung cơ sở hạ tầng xã hội công cộng và kỹ thuật ở các khu đô thị vẫn cònrất thiếu đồng bộ, nhiều nơi bị xuống câp nghiêm trọng đã tác động tiêu cựckhông ít đến chất lượng môi trường ở đô thị
Trang 15+ Về hạ tầng kỹ thuật tuy đã có nhiều cố gắng trong đầu tư xây dựng, nhưngmọi hoạt động vận hành vẫn còn xa mới đáp ứng yêu cầu cuộc sống Hoạt độnggiao thông vẫn chưa thuận lợi trong lưu thông giữa đô thị với các vùng lân cận,với nông thôn; chưa thỏa mãn được việc liên kết giữa ba môi trường làm việc,sinh hoạt và nghỉ ngơi giải trí Tại các đô thị lớn giao thông công cộng cònchiếm tỷ lệ rất thấp đã dẫn đến tình trạng ách tắc giao thông phổ biến Nhìn chung
tỷ lệ đất dành cho giao thông, nhất là giao thông tĩnh chỉ đạt dưới 5% diện tíchđất đô thị Cấp nước mới chỉ đảm bảo cho khoảng 47% dân cư đô thị, trong khi tỷ
lệ thất thoát nước có nơi lên tới 45% Kế hoạch khai thác toàn diện nguồnnước cho phát triển công nghiệp, sinh hoạt đô thị chưa đặt ra hợp lý Trong khi
đó mạng lưới thoát nước và vệ sinh đô thị giải quyết chưa tốt và không triệt đểcho từng khu vực đã dẫn đến nạn ngập úng, ô nhiễm môi trường khá nghiêmtrọng, nhất là ở các thành phố lớn Công tác phân loại thu gom, vận chuyển và xử
lý chất thải rắn cũng đang là một vần đề bức xúc vì hiện nay mới có khoảng 50%chất thải rắn được thu gom và xử xý tại các thành phố lớn
* Những vấn đề thời sự có tầm vĩ mô trong mối quan hệ vùng, đô thi vớicông tác bảo vệ môi trường đang là mối quan tâm lớn đối với sự phát triển bềnvững của cả nước Đó là việc tài nguyên thiên nhiên sử dụng chưa thật sựhợp lý thiếu kế hoạch đang làm cho quỹ rừng bị suy giảm rất nghiêm trọng, nhất
là đối với rừng phòng hộ và rừng đầu nguồn nên khí hậu đang có nhiều biếnđộng với thiên tai thường xuyên xảy ra và ngày càng đe dọa nghiêm trọng cuộcsống dân cư ở nhiều nơi Trong đó ở các vùng đô thị hóa, bộ khung bảo vệthiên nhiên đang bị xâm phạm, không được quy hoạch và có biện pháp bảo vệnghiêm ngặt đối với các vành đai xanh, hệ thống công viên, vườn hoa, mạnglưới hồ điều hòa… Nhiều di sản văn hóa, lịch sử có giá trị cũng chưa được quantâm đúng mức đang bị cuộc sống đô thị chen lấn, vi phạm và có chiếu hướng suythoái dần theo thời gian Nhìn chung tình trạng nay đang dẫn đến mức báo động
về tình trạng ô nhiễm nước, đất và không khí ở một số khu công nghiệp và đô thị
Trang 16* Công tác quản lý đô thị tuy đã được quan tâm, chỉ đạo và quán triệt đếncác cấp hành chính đô thị nhưng vẫn đang còn nhiều tồn tại Phản ánh tổng quan
về vấn đề này thể hiện ở chỗ nhận thức về nội dung, khái niệm trong công tácquản lý Nhà nước về đô thị còn chưa được đổi mới, thậm chí đôi khi còn chưathật rõ ràng Điều này ảnh hưởng rất lớn đến yêu cầu phát triển đô thị vừa hiệnđại, vừa đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc; đồng thời bảo đảm được sức trường tồncủa môi trường sinh thái trong quá trình phát triển bền vững ; Thực tế đó dẫn đếntình trạng phát triển đô thị lộn xộn, vi phạm dọc các trục quốc lộ, thực hiện sai ý
đồ quy hoachh, coi thường pháp luật trong xây dựng…đang còn khá phổ biếnnhưng chưa có biện pháp hữu hiệu ngăn chặn Kiến trúc đô thị phát triển chưa cóđịnh hướng Các ồn tại lịch sử trong quản lý đô thị chậm được giải quyết… Tất
cả đang là trở ngại cho việc lập lại trật tự kỷ cương trong quản lý đô thị cũng nhưhuy động mọi nguồn lực có thể vào phát triển đô thị
Thực trạng nói trên đang đặt động thái đô thị hóa, phân bố dân cư và pháttriển đô thị - nông thôn ở nước ta trước những thách thức phải vượt qua để đảmbảo sự phát triển bền vững trong tương lai Đó cũng là một nhiệm vụ quan trọngtrong quá trình hòa nhập của nước ta để cam kết cùng cộng đồng quốc tế thựchiện nghiêm túc Chương Trình nghị sự 21(Agenda 21) đã đề ra tại Hội nghịthượng đỉnh trái đất về nông thôn và phát triển ở Riode Janero (Braxin) năm 1992
và khẳng định lại tại Hội nghị thượng đỉnh Thế giới về phát triển bển vững ởJohannesburg (C.H Nam Phi) năm 2002 vừa qua Tinh thần này đã được Thủtướng Chính Phủ phê duyệt thành Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam vềđịnh hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam theo Quyết đ ịnh số153/2004/QĐ-TTg, ngày 17 tháng 8 năm 2004
Như vậy là mục tiêu phát triển của nước ta trong 10-15 năm đều phải songhành giải quyết 2 nhiệm vụ chiến lược là « Đưa đất nước ra khỏi tình trạng kémphát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân; tạonền tảng để đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp …
» và phải đạt được sự tăng trưởng kinh tế ổn định với cơ cấu hợp lý, đáp ứng