Microsoft Word lv moi truong 48 doc PHẦN MỞ ĐẦU 1 Tính cấp thiết của đề tài Cách đây khoảng 20 năm, quá trình đô thị hóa bắt đầu diễn ra ở Việt Nam, và trong khoảng 10 năm trở lại đây, đô thị hóa đang.
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cách đây khoảng 20 năm, quá trình đô thị hóa bắt đầu diễn ra ở Việt Nam, và trongkhoảng 10 năm trở lại đây, đô thị hóa đang diễn ra một cách mạnh mẽ và nhanh chóng.Năm 1990, tỷ lệ đô thị hoá mới đạt khoảng 17-18%, đến năm 2000, con số này đã là23,6% và hiện nay đạt 28% Dự báo, năm 2020, tỷ lệ đô thị hoá của Việt Nam sẽ đạtkhoảng 45% Trong xu thế đó, cùng với thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội là một trong haithành phố có tốc độ đô thị hóa cao nhất Ước tính đến năm 2011, tỷ lệ đô thị hóa đạt ở HàNội là 35 - 40% và nhảy vọt thành 55 - 65% vào năm 2020 Song song với quá trình này
là sự gia tăng dân số tại thủ đô Năm 1990, Hà Nội mới chỉ có 2 triệu người, đến năm
2000 lên được 2,67 triệu thì đến năm 2009 đã đạt tới con số 6,5 triệu dân Như vậy trongvòng 10 năm, dân số Hà Nội đã tăng lên khoảng 4 triệu người, tạo sức ép lớn cho thànhphố về vấn đề nhà ở cũng như các tiện ích xã hội phục vụ dân cư
Để đáp ứng tốc độ đô thị hóa, đồng thời giải quyết bài toán nhà ở cho dân cư, mộttrong các giải pháp được thành phố Hà Nội đưa ra là xây dựng các khu đô thị mới Tínhđến giữa năm 2010, trên địa bàn thành phố có khoảng hơn 200 dự án đô thị mới, với tổngdiện tích khoảng 30.000 ha, và đang có xu hướng tăng mạnh trong tương lai
Tuy nhiên, thực tế vẫn còn rất nhiều vấn đề đang tồn tại trong các khu đô thị mớinày Đó là tình trạng hệ thống hạ tầng cơ sở thiếu đồng bộ, mật độ xây dựng quá dày,thiếu các tiện ích xã hội như siêu thị, trung tâm chăm sóc sức khỏe,công viên, trườnghọc, hệ thống giao thông công cộng; ô nhiễm môi trường nước, không khí, thu gom và
xử lý rác thải và nhiều vấn đề khác liên quan đến công tác quản lý
Xuất phát từ thực tế phát triển các đô thị hiện nay, còn rất nhiều vần đề bất cậpnhư đã nêu Chỉ có con đường duy nhất để cải thiện tình trạng trên là phát triển bền vữngcác đô thị (PTĐTBV) Phát triển đô thị bền vững là mục tiêu mà các quốc gia đanghướng tới trong đó có Việt Nam Hà Nội, là trung tâm văn hóa, chính trị của cả nước thìquá trình phát triển bền vững các đô thị là một tất yếu khách quan
Để các đô thị thực sự phát triển bền vững, cần có những nghiên cứu, đánh giá hiệntrạng phát triển, từ đó tìm ra các vấn đề còn bất cập để có hướng phát triển trong tươnglai Do đó, việc nghiên cứu thực trạng phát triển bền vững các đô thị để từ đó đề xuất cácgiải pháp, biện pháp phát triển các khu đô thị mới trên địa bàn Hà Nội là hết sứccầnthiết.Với
Trang 2mong muốnđóng góp vào việc quyết một vần đề cấp bách của thực tiễn hiện nay,nhóm nghiên cứu đã chọn thực hiện đề tài: Phát triển bền vững các khu đô thị mới: Tổngquan kinh nghiệm quốc tế, trong nước và đánh giá thực tế tại Hà Nội
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu của nhóm hướng tới hai mục tiêu chính là nghiên cứu các kinhnghiệm PTBVDT trên thế giới, đồng thời phát hiện các vấn đề đang tồn tại ở các khu đôthị mới trên địa bàn thành phố Hà Nội, và trên cơ sở đó, đưa ra các giải pháp cũng nhưcác kiến nghị để khắc phục và phát triển các khu đô thị này
3 Đối tượng nghiên cứu
- Thực tế tình hình phát triển đô thị bền vững trên thế giới, các nghiên cứu báo cáo
về PTĐTBV
- Thực trạng PTĐTBV tại Hà Nội
4 Phạm vi nghiên cứu của chuyên đề
- Về mặt nội dung: Trong khuôn khổ của nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu chỉgiới hạn trong việc tìm hiêu kinh nghiệm của các nước trong việc thực hiện phát triên bềnvững đô thị
- Về mặt không gian: Nhóm nghiên cứu tiến hành điều tra thực tế tại 5 khu đô thịmới: Khu ĐTM Định Công, KĐTM Đại Kim, KĐTM Linh Đàm, KĐTM Lĩnh Nam,KĐTM Nam Trung Yên và KĐTM Trung Hòa Nhân Chính
5 Phương pháp nghiên cứu
* Tổng quan, phân tích, tổng hợp các tài liệu, báo cáo trong và ngoài nước vềPTBV,PTBVĐT
+ Phương pháp thống kê phân tích tổng hợp: sử dụng số liệu thống kê về phát triên
đô thị mới tại Hà Nội
+ Phương pháp điều tra xã hội học ( phương pháp chọn mẫu phi ngẫu nhiên,phương pháp phỏng vấn cá nhân trực tiếp ) các số liệu thu thập được qua điều tra đượcnhóm tiến hành xử lý, phân tích bằng phần mềm excel
* Nguồn số liệu: nhóm nghiên cứu sử dụng nguồn số liệu thứ cấp và sơ cấp
+ Các số liệu thứ cấp được lấy từ các báo cáo của các Bộ, Viện, phòng ban, các cuộchội nghị hội thảo, các đề tài nghiên cứu khoa học của các tổ chức cá nhân trong vàngoài nước;
+ Các số liệu sơ cấp được thu thập qua điều tra khảo sát tai các khu đô thị
Trang 36 Kết cấu, nội dung của đề tài
Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, chuyên đề gồm các chương sau:
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển bền vững đô thị Chương II: Kinh nghiệm phát triển bền vững đô thị và đánh giá phát triển bền vững các đô thị trên thế giới
Chương III: Thực trạng phát triển và tính bền vững trong phát triển các đô thị mới tại Hà Nội
Chương IV: Điều tra mức độ phát triển bền vũng các đô thị mới tại Hà Nội
Chương V: Phương hướng và giải pháp nhằm đẩy mạnh việc phát triên các khu đôthị mới của Hà
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG ĐÔ
THỊ
1 1 Khái niệm về phát triển đô thị bền vững
1.1.1 Phát triển bền vững nói chung
Khái niệm về phát triển bền vững đầu tiên được đề cập vào năm1987 trong báocáo của Ủy ban Môi trường và phát triển của Ngân hàng Thế giới (BrundtlandCommission 1987) Khái niệm này cho rằng sự phát triển phải thỏa mãn nhu cầu củacon người không chỉ trong giai đoạn hiện tại mà còn cho cả tương lai, phải đáp ứng cảyêu cầu kinh tế lẫn bảo vệ môi trường Năm 1991 Ngân hàng châu Á (ADB) xác địnhthêm nội dung của phát triển bền vững, nhấn mạnh thêm khả năng của thế hệ hiện tạiđáp ứng cho các nhu cầu của các thế hệ tương lai Kể từ đó một phương pháp pháttriển mới được định hình và được chấp nhận rộng rãi
Như vậy phát triển bền vững có mục tiêu rõ ràng: thứ nhất, phát triển sản xuấtphải đi đôi với vấn đề sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường;thứ hai, phải chú trọng đến mối quan hệ giữa các thế hệ, thế hệ ngày nay phải có tráchnhiệm với các thế hệ sau trong việc để lại những di sản và tài nguyên có giá trị
Phương thức phát triển mới này được xây dựng với nội dung bao gồm ba vếphát triển kinh tế, phát triển môi trường và phát triển xã hội, là sự tổng hợp của cácchỉ tiêu chủ yểu về kinh tế, xã hội, môi trường, văn hóa và nhất là hướng tới tương lai.1.1.2 Phát triển đô thị bền vững (PTĐTBV)
Cho đến này,chưa có một khái niệm thống nhất về phát triển bền vững đô thị.Rất khó để đưa ra được một định nghĩa hay hệ khái niệm được coi là thống nhất về
Trang 4phát triển đô thị bền vững vì bản chất đa dạng và đa chiều của đối tượng nghiêncứu.Tùy thuộc vào mục đích và phương pháp nghiên cứu mà các tác giả sẽ có nhữngquan điểm khác nhau Các quan điểm về phát triển đô thị bền vững được trình bày rất
đa dạng
Quan điểm của thế giới
-Xuất phát từ bản báo cáo của Ủy ban Brundtland, tại hội nghị URBAN21 (tổchức tại Berlin tháng 7/2000), người ta đã đưa ra định nghĩa về phát triển đô thị bềnvững:
”Cải thiện chất lượng cuộc sống trong một thành phố, bao gồm cả các thành phần sinh thái, văn hóa, chính trị, thể chế, xã hội và kinh tế nhưng không để lại gánh nặng cho các thế hệ tương lai,một gánh nặng bị gây ra bởi sự sút giảm nguồn vốn tự nhiên và
nợ địa phương quá lớn Mục tiêu của chúng ta là nguyên tắc dòng chảy, dựa trên cân bằng về vật liệu và năng lượng cũng như đầu vào/ra về tài chính, phải đóng vai trò then chốt trong tất cả các quyết định tương lai về phát triển các khu vực đô thị”
Phát triên đô thị bền vững trên thực tế được định nghĩa chi tiết hơn tùy theo từngkhu vực địa lý, trình độ phát triên và góc nhìn
Phát triên đô thị bền vững cũng được xem xét dưới một thuật ngữ khác, đó là “pháttriên cộng đồng bền vững” theo đó:
"Phát triên cộng đồng bền vững là năng lực đưa ra quyết định phát triên tôn trọngmối tương quan giữa ba khía cạnh - kinh tế, sinh thái, và bình đẳng:
• Kinh tế - Hành vi kinh tế cần đem lại những điều tốt đẹp chung cho cả cộng
đồng, có thê tự làm mới, và tạo ra tài sản và có khả năng tự túc
• Sinh thái - Con người là một phần của tự nhiên, tự nhiên có những giới hạn, và
cộng đồng phải có trách nhiệm bảo vệ và xây dựng các tài sản thiên nhiên
• Bình đẳng - Cơ hội tham dự hoàn toàn trong các hoạt động, lợi ích, và quá trình
ra quyết định của một cộng đồng."
(Swisher, Rezola, & Sterns; 2009)
-Trung Tâm môi trường khu vực miền Trung và Đông Âu ( REC), một tổ chứcquốc tế với nhiệm vụ trợ giúp trong việc giải quyết các vần đề môi trường, trong đó cóphát triên đô thị bền vững đã đưa ra các quan điêm khác nhau về phát triên đô thị bềnvững:
( http://archive rec org/REC/Programs/Sustainablecities/)
Trang 5• Ân Độ, một quốc gia đang và sẽ là nước có tốc độ đô thị hóa hàng đầu Châu Á
đã đưa ra định nghĩa về phát triên bền vững:
"Một cộng đồng sử dụng bền vững nguồn tài nguyên của mình để đáp ứng nhu cầu hiện tại, trong khi đảm bảo đủ nguồn lực có sẵn cho các thế hệ tương lai Nó tìm cách cải thiện sức khỏe cộng đồng và một cuộc sống chất lượng tốt hơn cho tất cả cư dân của
nó bằng cách hạn chế chất thải, ngăn chặn ô nhiễm, bảo tồn và phát huy tối đa hiệu quả,
và phát triển nguồn lực địa phương để khôi phục nền kinh tế địa phương " * Quan điểm
của Argentina về phát triển đô thị bền vững
“ Một thành phố bền vững kết hợp hài hòa yếu tố môi trường với các ngành kinh tế và
xã hội để đáp ứng nhu cầu của các thế hệ hiện tại mà không ảnh hưởng đến những thế
hệ tương lai”
* Theo Viện Môi Trường Stockholm của Thụy Điển, một thành phố bền vững có
thể được định nghĩa là ”một thành phố tại đó tiền hành các hành động được đề ra bởi các chính sách kế hoạch nhằm bảo tồn nguồn tài nguyên sẵn có và thực hiện tái sử dụng,
ổn định xã hội, phát triên các nguồn vốn chủ sở hữu, đảm bảo phát triển kinh tế cho các thế hệ tương lai”.
Quan điểm của Việt Nam về phát triển đô thị bền vững:
- Theo Viện Quy Hoạch Đô Thị-Nông Thôn-Bộ Xây Dựng (Dự án VIE),trên cơ sởcác khái niệm về PTBV, một phạm trù PTĐTBV đô thị cũng được xây dựng mang tínhđặc thù hơn.Nhìn chung PTBV đô thị tập trung giải quyết các vần đề sau:
* Phát triển kinh tế đô thị ổn định, tạo công ăn việc làm cho dân cư đô thị, đặc biệtcho người có thu nhập thấp, người nghèo đô thị
* Đảm bảo đời sống vật chất văn hóa tinh thần, giữ gìn bản sắc truyền thống dântộc, đảm bảo công bằng xã hội
* Tôn tạo, giữ gìn và bảo vệ môi trường đô thị luôn xanh, sạch, đẹp với đầy đủ ýnghĩa vật thể và phi vật thể đô thị
Như vậy PTĐTBV luôn đồng hành với PTBV nói chung.Đương nhiên,theo ýnghĩa này, PTĐTBV không bó hẹp theo quan điểm và nhiệm vụ của các nhà quy hoạch
mà cần mở rộng hơn nhiều lĩnh vực Phát triển đô thị cần được lồng ghép và tiếp cận theocách nhìn nhận mà các tổ chức Quốc tế đã đồng thuận đề ra đó là:
+Là nơi ở cho tất cả mọi người, khái niệm này ý chỉ việc cải thiện nơi ở thông quaviệc thực hiện chính sách nhà ở quốc gia Hình thành thị trường nhà ở với những chức
Trang 6năng đầy đủ và thích hợp Huy động sự tham gia của cộng đồng Cải thiện và đảm bảotính pháp lý và an toàn về quyền sử dụng đất Cải thiện việc huy động tài chính nhà ở Vàcung cấp đầy đủ cở sở hạ tầng dịch vụ cơ bản.
+ Giảm nghèo đói đô thị ở đây có 3 tiêu chí nghèo đô thị là nghèo tiền, nghèo bấtđộng sản và nghèo quyền do đó cần có một chính sách toàn diện mới giải quyết được 3tiều chí quan trọng này Muốn vậy cần xây dựng một cơ chế bền vững về phát triển kinhtế-xã hội và bảo vệ môi trường tại cộng đồng dân cư đặc biệt là đối với người nghèo.Cung cấp đầy đủ thông tin cho cộng đồng để họ có thể tiếp cận học hỏi thực hiện và bảo
vệ quyền lợi hợp pháp của mình
+ Quản lý môi trường đô thị là cải thiện các điều kiện môi trường và làm giảm cácchất thải sinh hoạt và các chất thải công nghiệp trong đô thị Cải tiến công tác tiếp cậnđồng bộ trong viêc cung cấp các dịch vụ môi trường Bảo vệ môi trường, đảm bảo sứckhỏe, an toàn dịch bệnh để hỗ trợ đầy đủ phát triển đô thị bền vững
+Phát triển kinh tế địa phương cho đến nay, hầu hết các nước trên thế giới đều côngnhận chính sách phi tập trung là cần thiết và có hiệu quả Điều ấy có nghĩa, các nhà chứctrách địa phương có trách nhiệm cao hơn, nặng nề hơn trong công cuộc phát triển kinh tếcho địa phương mình, cho đô thị mình Tuy nhiên, năng lực của chính quyền địa phươngnói chung còn rất hạn chế Vì thế việc nâng cao năng lực cho chính quyền địa phương làyếu tố quyết định sự thành công của công cuộc PTBV kinh tế địa phương
+ Quản lý và điều hành đô thị theo các tiêu chí: Khuyến khích tư vấn thảo luận vàđối thoại giữa cộng đồng, những người có liên quan đến các quyết định, sự ưu tiên và sởhữu Sử dụng phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi để xây dựng các tiêu chí đánhgiá.Nâng cao năng lực thông qua việc chia sẻ kinh ngiệm và thông tin.Hình thành mạnglưới truyền thông liên kết người dân với chính quyền địa phương, chính quyền quốc gia
và toàn cầu
-Hội Quy hoạch Phát triển Đô thị Việt Nam (Ashui), đã định nghĩa về phát triển đô thị bền vững như sau:” Mối quan hệ hữu cơ,mật thiết giữa: A) Kinh tế đô thị;B) Văn hóa xã hội đô thị;C) Môi trường-Sinh thái đô thị; D) Cơ sở hạ tầng đô thị và E) Quản lý đô thị ”
Tóm lại, PTĐTBV là một lĩnh vực đặc thù, PTĐTBV cần sự phối hợp phát triển đanghành, đa cấp và của đại bộ phận dân cư PTĐTBV thể hiện một cách thức suy nghĩ vàmột hướng giải quyết về đô thị hóa mà trong đó việc xây dựng các đô thi sẽ được diễngiải trên cơ sở duy trì những hiểu biết về kinh tế,văn hóa và bảo vệ môi trường PTĐTBV
Trang 7là nền tảng vững chắc để công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Do đó có thể hiểu mộtcách đơn giản PTĐTBV là một cách sửa chữa những thiếu sót của quá trình đô thị hóa,trên cơ sở xem xét lại toàn bộ cách thức quy hoạch xây dựng đô thị hiện nay và tìm ramột xu thế phát triên mới trường tồn trong tương lai.
1.2 Nguyên tắc, tiêu chí đánh giá PTĐTBV
Mặc dù, mỗi quốc gia, mỗi tác giả có cách nhìn nhận khác nhau về PTĐTBV, nhưng tựu chung lại PTĐTBV phải đảm bảo các yêu cầu chung nhất
1 2.1 Nguyên tắc phát triển đô thị bền vững
Nguyên lý mang tính quy luật của phát triên đô thị bền vững, đó là sự kết hợp tối
ưu giữa các quy luật vận động của tự nhiên và các quy luật vận động kinh tế- xã hội của
đô thị, nhằm xây dựng nên một môi trường nhân tạo (kỹ thuật), đảm bảo mối quan hệ hàihòa về: Kinh tế, xã hội và môi trường trong đô thị, vùng lãnh thổ đô thị và ngoài vùnglãnh thổ đô thị theo những giai đoạn phát triên nhất định Điều đó có nghĩa là: đô thị sẽ
có những biến đổi về chất và lượng (quy mô) theo không gian và thời gian
Nguyên tắc bao trùm của phát triên bền vững là: thỏa mãn các nhu cầu phát triêncủa thếhệ hiệntại mà không làm tổn hại đến nhu cầu phát triên của thế hệtương lai
Cụ thê, phát triên bền vững đô thị có các nguyên tắc cơ bản sau:
* Xu hướng phát triên của đô thị không làm thế hệ tương lai phải trả giá, bởi sựyếu kém về: Chiến lược phát triên, quy hoạch và quản lý đô thị, nợ nần, suy thoái môitrường, cũng như các hậu quả xấu khác của thế hệ hiện tại đê lại
* Đô thị phát triên cần bằng giữa các mặt kinh tế, xã hội và môi trường Nói mộtcách khác, nó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình phát triên, đó là sự thay thế liên tục từtrạng thái cân bằng này đến trạng thái cân bằng khác
* Một đô thị chỉ phát triên bền vững trong mối quan hệ bền vững với vùng lãnh thổ
đô thị, các vùng và các đô thị khác mà nó chịu ảnh hưởng cũng phát triên bền vững(thông qua các luồng trao đổi vật chất, thông tin, văn hóa )
1.2.2 Yêu cầu đối với quá trình PTĐTBV
1.2.2.1 Phát triển kinh tế
Đô thị cần được tính toán phát triên phù hợp với tiềm năng sẵn có và triên vọngphát triên kinh tế của địa phương.Cân đối vốn đầu tư theo khả năng tăng trưởng KT-XHtheo từng giai đoạn/theo từng nhóm ngành/theo kế hoạch PTĐT ngắn và dài hạn đã được
Trang 8QHXDĐT được duyệt quy định, ngoài ra kinh tế đô thị cần được tính toàn sử dụng hiệuquả, tiết kiệm các nguồn tài nguyên: đất đai, nguồn nước, năng lực và lao động đô thị
1.2.2.2 Phát triển dân số lành mạnh
Về yếu tố xã hội, đô thị cần được đánh giá đầy đủ về dân số lao động, tỷ lệ đô thịhóa, dòng dịch cư và xu hướng di dân, sức chứa tối đa, khả năng chịu tác động của thiêntài, tác động của địa chấn đến phát triển dân số đô thị Tăng cường quản lý dân số từngoài thành phố vào, điều chỉnh phân bố dân cư thúc đẩy phát triển dân số hài hòa vớiphát triển KT-XH và bảo vệ giữ gìn tài nguyên môi trường
1.2.2.3 Quy hoạch xây dựng đô thị tạo sự hấp dẫn cho đô thị
Quy hoạch xây dựng đô thị phải đánh giá đầy đủ điều kiện địa lý và nguồn tàinguyên để đánh giá đúng vị trí, chức năng, vai trò của từng đô thị Cân đối đất đai,cơ sởvật chất và tạo lập môi trường thích hợp cho người dân là chủ thể của đô thị được sống,làm việc và nghỉ ngơi tốt nhất để tái tạo sức lao động cao nhất cho xã hội
Quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất đai đô thị phải được lập theo hướng cân bằnggiữa đô thị và nông thôn, giữa phát triển mới và cũ và có kế hoạch dài hạn với các khuđất dự phòng
Quy hoạch phải đề xuất được một hệ thống kết nối không gian tạo sự hấp dẫn cho
đô thị (hấp dẫn mang cả ý nghĩa tạo vẻ đẹp cho đô thị và tạo sự hấp dẫn cho các nhà pháttriển)
Đảm bảo đánh giá tác động môi trường cho các dự án quy hoạch cải tạo và quyhoạch PTĐT; đề xuất được các dự báo PTĐT ngắn và dài hạn đúng và đủ đối với điềukiện KT-XH-MT của địa phương
1.2.2.4 Cung cấp đầy đủ các dịch vụ hạ tầng
Hạ tầng kỹ thuật đô thị cần được quan tâm xây dựng và quản lý đồng bộ các mặtnhư: Chuẩn bị kỹ thuật đô thị; Hệ thống giao thông đô thị; Hệ thống cấp nước và thoátnước đô thị; Hệ thống cấp năng lượng điện, chất đốt đô thị và chiếu sáng đô thị; Hệ thốngquản lý tài chế chất thải rắn, nước thải, vệ sinh môi trường đô thị; Hệ thống quản lý nghĩatrang và các chất phát thải
Việc xây dựng và cung cấp các dịch vụ này phải được thực hiện trên quan điểm tiếtkiệm, chống hao mòn thất thoát, chống gây ô nhiễm môi trường và phải triệt để tuân thủtheo QHXDĐTBV đã được duyệt
1.2.25 Xử lý ô nhiễm, bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn tài nguyên
Trang 9Môi trường đô thị cần quan tâm xử lý môi trường ô nhiễm (gồm phòng chống ônhiễm không khí, ô nhiễm nước, ô nhiễm chất thải rắn, ô nhiễm công nghiệp, ô nhiễmtiếng ồn, điện tử, hóa chất độc hại và các chất phóng xạ)
Cải thiện môi trường sinh thái đô thị (gồm xây dựng các tuyền vành đai xanh đôthị, tăng cường bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên đất đai, tăng cường quản lý nguồnnguyên liệu sử dụng để sản xuất vật liệu xây dựng)
Tạo dựng môi trường cảnh quan, môi trường văn hóa, xã hội phù hợp với sinh tháiđịa phương và thể hiện rõ tất cả các giá trị vật chất và tinh thần của đô thị
1.2.2.6 Xã hội hóa công tác quy hoạch và PTĐT và ĐThóa bền vững
Xã hội hóa công tác PTĐT trên cơ sở quan tâm nâng cao sự hiểu biết của chínhquyền địa phương và cộng đồng về công tác PTĐT và ĐT hóa bền vững, đồng thờikhuyến khích họ tham gia vào công tác lập, thực hiện và quản lý quy hoạch, phát triển đôthị
1.2.2.7 Quản lý hành chính đô thị
Quản lý thực hiện PTĐT phải được phối hợp hai chiều từ cấp quản lý TW/quản lýđịa phương đến người dân và ngược lại Đề xuất quy chế, gắn kết quy hoạch với thể chếquản lý hành chính công tại địa phương
1.2.2.8 Tài chính đô thị
Huy động và cân đối hợp lý các nguồn tài chính đô thị trên cơ sở tăng cường sựtham gia của cộng đồng trong công tác QHXDĐT Ngoài ra quản lý PTĐT còn cần quantâm điều chỉnh công tác quản lý hành chính và phân phối vốnđầu tư choxây dựng cơ bản theo định kỳ, hàng năm, 5 năm/lần và dài hạn
Các nội dung trên phải được nồng ghép vào các chương trình lập quy hoạch và kếhoạch hành động PTĐT và ĐT hóa bền vững quốc gia Đương nhiên theo ý nghĩa này,PTĐT và ĐT hóa bên vững phải được thực hiện cả theo định hướng của nhà nước vàcũng rất cần các chương trình hành động thể hiện sựđồng tình ủng hộcủa đông đảo các cấp chính quyền địa phương và cộng đồng
1.3 Tiêu chí đánh giá phát triển đô thị bền vững
Dù cùng xuất phát từ khái niệm phát triển bền vững của Brundtland, nhiều nhàkhoa học, dưới sự chi phối của lĩnh vực hoạt động của mình, đã đưa ra các tiêu chí đánhgiá khác nhau về phát triển đô thị bền vững
1.3.1 Các nhà sinh thái
Các nhà sinh thái đưa ra các tiêu chuẩn đê phát triên đô thị bền vững như sau:
Trang 10- Phát triên nhà ở theo chiều cao đê tiết kiệm nguyên, nhiên vật liệu và mặt
bằng;
- Bảo tồn địa hình địa mạo tự nhiên;
- Tránh xây dựng thành phố trong thung lũng vì đất ở đấy phì nhiêu và dễ lở;
- Bảo vệ và phát triên cây xanh đô thị;
- Khuyến khích tiết kiệm nước;
- Hạn chế sử dụng phương tiện di chuyên có động cơ;
- Tái sinh vật liệu phế thải
1.3.2 Các nhà ngân hàng
Các nhà ngân hàng chú trọng đến lĩnh vực tài chính Theo họ, phát triên đô thị bền vững có 4 tiêu chí:
- Đảm bảo và phát triên khả năng cạnh tranh của thành phố;
- Đảm bảo cuộc sống của cư dân tốt hơn;
- Nền tài chính lành mạnh (nguồn thu, các chính sách tài chính, nguồn lực);
- Quản lý đô thị tốt
1.3.3 Các nhà quản lý
Các nhà nghiên cứu và quản lý chú trọng đến đường lối:
- Lấy chỉ tiêu HDI đê đánh giá đô thị chứ không dựa vào quy mô dân số, kinh tế hay xây dựng như trước đây;
- Giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa nông thôn và thành thị;
- Sự phối hợp hài hòa giữa phát triên kinh tế, xã hội, văn hóa và quản lý
1.4 Thực tiễn về phát triển đô thị bền vững
1.4.1 Tình hình phát triển tại các đô thị trên thế giới
Phát triên đô thị bền vững đã có hơn 30 năm trước Tuy nhiên mức độ phát triên
đô thị bền vững phụ thuộc vào tỷ lệ đô thị hóa của từng quốc gia Đối với các nước pháttriên công nghiệp hóa cao như các nước Tây Âu, Mỹ, Nhật tỷ lệ dân tập trung tại các đôthị trên 70% thì xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật PTĐTBV đã đạt được mức độ cao vàtừng bước đáp ứng được các yêu cầu về PTĐTBV
Như chúng ta đã thấy đô thị phản ánh cả hai mặt tốt và xấu Cái được hay không được
là ở chỗ nó sẽ trở nên tốt hay xấu Thực tế cho thấy sự phát triên tốt hay xấu có ảnhhưởng rất nhiều đến người dân đô thị Ngày nay, hiện đại hoá ngày càng được phổ cập vàlan rộng, không gian đô thị ngày càng được nâng cấp cải tạo và khuyếch chương Ví dụ
Trang 11từ năm 1980 đến 1990, dân số châu Á tăng rất nhanh, hiện chiếm khoảng 62% dân số thếgiới Trong đó có 990 triệu người sống ở đô thị và trong tương lai đến 2020 con số này sẽ
là 2,4 t ỷ, tại Châu Á sẽ có nữa số dân sống ở các đô thị (Johanna Son,1995) Nhìn lạithời điểm những năm 1950, toàn thế giới chỉ có 83 thành phố có dân số 1 triệu người, đếnnay con số này đã tăng lên 280 và vượt 500 tại thời điểm 2015
Ngoài ra cũng còn nhiều thống kê khác cho thấy giai đoan từ 1950 -1990 dân số ở cácnước chậm phát triển đã tăng gấp 5 lần, trong đó dân số đô thị chiếm 40% (Robert D.Kaplan, 1996) Cụ thể ví dụ, năm 1990 Trung Quốc có 467 thành phố lớn nhỏ, 2000 tănglên thành 660 thành phố lớn và 17.000 thị xã thi trấn, đưa dân số đô thị của Trung Quốcthành 350 triệu người, theo dự kiến các thành phố lớn của Trung Quốc sẽ còn tăng lêntrên con số 800 vào đầu thế kỷ 21 và sẽ có 630 triêu người dân sẽ sống ở đô thị Ba thànhphố lớn nhất Trung Quốc là Bắc Kinh, Thượng Hải, Thẩm Quyến là 3 thành phố nằmtrong danh sách các thành phố cực lớn (Megar-City) của thế giới với dân số lớn hơn 10triệu người (Antoaneta Bezlova,1997)
1.4.2 Mối quan tâm của các tổ chức quốc tế tới PTBV
Thế giới đã quan tâm tới phát triển đô thị như thế nào? Liên hợp quốc (UNESCO)quan tâm hàng đầu tới vấn đề con người tới việc thoả mãn nhu cầu sống và làm việc chocon người tại các khu đô thị với 5 mục tiêu chính: (1) Nhằm vào các khu dân nghèothành thị (2) Việc cung cấp dich vụ, hàng hoá, tái sử dụng các vật liệu và xử lý môitrường (3) Kiểm soát dân số (4) Vấn đề khí hậu môi trường và những biện pháp giảmthiểu việc sử dụng nhiên liệu (5) Vấn đề tắc nghẽn giao thông, chống ô nhiễm tiếng ồn
và dich bệnh Bằng những nỗ lực lớn nhất, Liên hợp quốc đã dành khá nhiều đầu tư tìmkiến giải phát PTBV cho toàn cầu, trước tiên đến với chiến lược bảo vệ môi trường(trong thập kỷ 80 của thế kỷ 20), trên cơ sở xác định bảo vệ môi trường là một trongnhững biện pháp sống còn của nhân loại Ngân hàng thế giới hưởng ứng chương trìnhhành động của LHQ bằng việc tập trung vốn đầu tư bảo vệ sinh thái môi trường và tíchcực giúp đỡ chương trình xoá đói giảm nghèo cùng lúc đó đầu tư cho văn hoá với các dự
án bảo tồn di sản
Sau 1995, UNESCO bắt đầu dành những ngân quỹ lớn hơn cho các đề tài nghiêncứu về văn hoá - môi trường và PTBV Hiệu quả bước đầu thể hiện qua việc tái thiết lậplại các chính sách văn hoá đồng thời xúc tiến xem xét lại sự tồn tại của các nền văn hoá
Trang 12trên toàn thế giới Tại các hội nghị thượng đỉnh văn hoá được xem như là mục tiêu hướngtới phát triển, với hy vọng mang lại sự thịnh vượng cho mọi người ở tất cả mọi nơi trêntrái đất Văn hoá sáng tạo và biểu lộ sự trưởng thành của các dân tộc vì vậy việc giữ gìn
và củng cố “tính đa dạng văn hoá” là chiến lược mang tính toàn cầu (UNESCO,1998 )Xung quanh chủ đề PTBV vẫn còn khá nhiều tranh cãi, Munn (1992) cho rằngPTBV là (1) Qua trình tiến hoá nhưng giữ vững được nhịp độ (2) Một số sự cơi nới đượcchấp nhận và đáng mong chờ (3) Cải thiện chất lượng cuộc sống Còn Giles Clarke(1994) thì cho rằng PTBV cho bất cứ đô thị nào trên thế giới phải tính đến: (1) Hiệu quảkinh tế trong việc sử dụng nguồn lực phát triển mà vẫn duy trì được tiềm lực tự nhiêntheo hoặc trên mức độ hiện tại của các của các đô thị (2) Bình đẳng xã hội trong việcphân phối của sự phát triển giữa chi phí và lợi ích (3) Tránh những thế chấp không cầnthiết cho sự lựa chọn trong tương lai; Dovers (1996) nhấn mạnh vào mục tiêu chung của
xã hội coi trọng đạo đức và tính công bằng giữa các thế hệ, coi trọng các chính sách và
kế hoạch thực hiện cụ thể của chính phủ Hiện nay LHQ cùng các các tổ chức quốc tếđang dốc toàn lực nhằm hỗ trợ các quốc gia xây dựng các tiêu chí PTBV cho riêng họ.1.5 Thực tiễn phát triển đô thị và đô thị hóa bền vững tại Việt Nam
Công cuộc đổi mới đất nước trong gần 20 năm qua chứng kiến nhiều thành tựu vĩđại của dân tộc ta, trong đó có sự nghiệp đô thị hóa Từ một nước nông nghiệp lạc hậu, bịchiến tranh tàn phá nặng nề trong nhiều năm dài, chúng ta đã dành được độc lập, thốngnhất đất nước và tạo đà tăng trưởng kinh tế toàn diện làm cho bộ mặt đất nước thay đổitừng ngày, nhất là ở khu vực đô thị với tỷ lệ tăng từ 17% lên đến 25% trong quá trình đổimới đất nước
Theo số liệu mới nhất được Bộ Xây dựng công bố, tính đến tháng 12/2010, cả nước
có 755 đô thị Tỷ lệ đô thị hóa hiện đạt gần 30% Ngoài 2 đô thị loại đặc biệt (Hà Nội, TPHCM), có 10 đô thị loại I, 12 đô thị loại II, 47 đô thị loại III, 50 đô thị loại IV và 634 đôthị loại V Đó là kết quả của một thời kỳ chuyển đổi sang nền kinh tế thị trườngcùng các
quan tâm của Nhà nước đối với công tắc quy hoạch, đầu tư cải tạo và xây dựng cơ sở hạtầng giúp cho các đô thị nước ta phát triên nhanh cả về số lượng và chất lượng, tạo nênmột khối lượng xây dựng gấp hàng chục lần trước đây, đáp ứng được sự phát triên kinh
tế-xã hội của cả nước,trở thành những nhân tố tích cựcvà
Trang 13chủ yếu của quá trình phát triên hệ thống đô thị nói riêng và phát triên kinh tế-xã hội nóichung Trên bình diện đó các đô thị đã đảm nhiệm được vai trò là trung tâm phát triêncông nghiệp, tiêu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ, các ngành nghề mới, trung tâmphát triên và chuyên giao công nghệ trong vùng, trung tâm giao lưu thương mại trong vàngoài nước ; thu hút đầu tư nước ngooài, phát triên kinh tế đối ngoại ; phát triên văn hóa,giáo dục, nâng cao đầu tư trong nước và phát triên nguồn lực ; giữ vai trò quan trọng làmtăng thu ngân sách cho Nhà nước hàng năm và góp phần to lớn đảm bảo an ninh, quốcphòng.
Tuy nhiên so với các nước phát triên và một số nước đang phát triên trong khu vực,
tỷ lệ đô thị hóa ở nước ta vẫn còn thấp, vị trí đô thị vẫn còn tình trạng lạc hậu do kết quảcủa những năm chiến tranh tàn phá nặng nề, cùng với trình độ phát triên lực lượng sănxuất ở mức thấp làm cho nền kinh tế còn kém hiệu quả, bị tác động bởi cơ chế quản lýtập trung quan liêu bao cấp trong dài hạn, cộng thêm với một số quyết định chưa thậtthích hợp trong chính sách quản lý và phát triên đô thị, đặc biệt là sự tác động của nềnkinh tế thị trường trong giai đoạn đầu đã đê lại những mâu thuẫn khá gay gắt ở các điêmsau:
* Cơ sở kinh tế-kỹ thuật hoặc động lực phát triên đô thị cò yếu, tăng trưởng kinh tếchưa cân đối vơi tăng trưởng dân số Điều này được phản ánh qua tốc độ tăng trưởngkinh tế đô thị trung bình hàng năm của đô thị tuy đạt 13-15 %, mỗi năm giải quyết đượcviệc làm cho trên dưới 1 triệu lao động, nhưng hai ngành dịch vụ và công ngiệp - nhữngđộng lực phát triên đô thị quan trọng nhất mới chỉ thu hút được 27,7% tổng số lao động
xã hội.Trên thực tế tỷ lệ dân số trong đô tuổi lao động chưa có việc làm tại các đô thị vẫncòn cao, nhất là các đô thị lớn chiếm khoảng 15-20% Số người sống lang thang, cơ nhỡ,
vô gia cư; các khu định cư bất hợp pháp, kém chất lượng đang là một trong những vần đề
xã hội và môi trường bức xúc, cũng phần lớn xảy ra ở các đô thị lớn
* Tình trạng phân bố dân cư và sử dụng đất nông nghiệp vào mục đích xây dựng
đô thị đang tiềm ẩn mối nguy cơ không nhỏ đối với vần đề an toàn lương thực và thựcphẩm Thực tế hiện nay cho thấy, trên 70% đô thị và dân số đô thị được phấn bố tại cácvùng đồng bằng, ven biên, nơi tập trung chủ yếu quỹ đất nông nghiệp cả nước, trong đóphân lớn là đất tốt cho năng suất sản phẩm cây lương thực cao Nếu giữ nguyên tìnhtrạng phân bố dân cư như hiện nay thì quỹ đất nông nghiệp sẽ giảm đi trung bình mỗinăm khoảng 3.800 ha Một con số báo động cho vấn đề an toàn lương thực, thực phẩm
Trang 14* Cơ cấu tổ chức không gian hệ thống phân bố dân cư trên địa bàn cả nước mấtcân đối, đang tạo ra sự cách biệt giữa đô thị-nông thôn, giữa phát triển-kém phát triển cònlớn và đang có xu thế diễn biến ngày một xấu hơn Thực tế cho thấy hình thức phân bốdân cư đô thi-nông thôn ở nước ta trước đây có mối quan hệ tương đôi gắn bó giờ đâyđang trở nên cách biệt hơn về kinh tế, xã hôi, văn hóa, dịch vụ và nghỉ ngơi giải trí Tìnhtrạng này đang duy trì một tỷ lệ cách biệt lớn giữa vùng chậm phát triển và chưa pháttriển chiếm 82% diện tích tự nhiên cả nước, trong khi chỉ có 18% diện tích thuộc về pháttriển Về toàn cục thế cân bằng chiến lược phát triển giữa ba vùng Bắc-Trung-Nam chưađược hình thành Điểm cốt yếu là khu vực miền Trung vẫn chưa có được các trung tâmkinh tế lớn xứng đáng là đối trọng với các vùng kinh tế trọng điểm miền Bắc và miềnNam Trong khi đó hệ thống các đô thị trung tâm vẫn chưa hình thành đều khắp cácvùng; có đến gần 50% dân số đô thị hiện nay đang tập trung tại 2 thành phố lớn Hà Nội
và Tp Hồ Chí Minh.Tại các vùng trung du, miền núi và hải đảo còn thiếu các đô thị-trungtâm tạo cực tăng trưởng cho việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế-xã hội trong vùng Ngượclại các đô thị lớn có sức hút mạnh đang tọa ra sự tập trung dân cư-công nghiệp quá tải,gây áp lực lớn cho môi trường sống dân cư ở các nơi đó Trên thực tế các đô thi nhỏ vàvừa hiện nay còn kém sức hấp dẫn, rất khó có khả năng đảm đương nhiệm vụ một cáchtrọn vẹn vị trí và vai trò trung tâm của mình trong mạng lưới đô thị của tỉnh,vùng cũngnhư Quốc gia
* Quá trình đô thị hóa và phát triển đô thị chưa phản ánh thật đậm đà bản sắc vănhóa văn hóa dân tộc, các đặc thù sinh thái nhân văn và sinh thái tự nhiên trong quy hoạch
và kiến trúc đô thị Điều này rất dễ nhận dạng khi không ít những đô thị miền núi phíaBắc, Tây Nguyên, vùng đồng bằng Sông Hồng, vùng ven biển, vùng đồng bằng sông CửuLong được nghiên cứu qua những đồ án quy hoạch và triển khai xây dựng không khácbiệt nhiều nhau nhiều để thể hiện tính đặc thù trong các nét bản địa, tính đặc trưng vănhóa, nét kiên trúc địa phương, các biểu trưng về sinh thái tự nhiên, sinh thái xã hội Trongcác giải pháp quy hoạch tổ chức không gian, bố cục cơ cấu chức năng và xây dựng từngcông trình thường chỉ hướng đến đô thị hiện đại mà quá ít đầu tư cho những đặc thùtruyền thống của mỗi đô thị
* Cơ sở hạ tầng đô thị còn phát triển hạn chế không nhìn nhận đồng bộ trên diệnrộng, nhiều nơi còn xây dựng manh mún và nói chung còn yếu kém, không đảm bảo cáctiêu chuẩn phát triển đô thi tương xứng với điều kiện công nghiệp hóa- hiện đại hóa Một
số nét nổi bật về vần đề này cho thấy :
Trang 15+ Về hạ tầng xã hội, sự hạn chế rõ rệt là diện tích nhà đô thị mới đạt bình quân5,8m2 người Những tình trạng bất bình đẳng về nhu cầu ở còn chênh lệch cao làm chomột bộ phận dân cư vẫn phải sống trong điều kiện hết sức khó khăn Nhìn chung cơ sở hạtầng xã hội công cộng và kỹ thuật ở các khu đô thị vẫn còn rất thiếu đồng bộ, nhiều nơi
bị xuống câp nghiêm trọng đã tác động tiêu cực không ít đến chất lượng môi trường ở đôthị
+ Về hạ tầng kỹ thuật tuy đã có nhiều cố gắng trong đầu tư xây dựng, nhưng mọihoạt động vận hành vẫn còn xa mới đáp ứng yêu cầu cuộc sống Hoạt động giao thôngvẫn chưa thuận lợi trong lưu thông giữa đô thị với các vùng lân cận, với nông thôn ; chưathỏa mãn được việc liên kết giữa ba môi trường làm việc, sinh hoạt và nghỉ ngơi giải trí.Tại các đô thị lớn giao thông công cộng còn chiếm tỷ lệ rất thấp đã dẫn đến tình trạng
cho
giao thông, nhất là giao thông tĩnh chỉ đạt dưới 5% diện tích đất đô thị.Cấp nước mới chỉđảm bảo cho khoảng 47% dân cư đô thị, trong khi tỷ lệ thất thoát nước có nơi lên tới45% Kế hoạch khai thác toàn diện nguồn nước cho phát triển công nghiệp, sinh hoạt đôthị chưa đặt ra hợp lý Trong khi đó mạng lưới thoát nước và vệ sinh đô thị giải quyếtchưa tốt và không triệt để cho từng khu vực đã dẫn đến nạn ngập úng, ô nhiễm môitrường khá nghiêm trọng, nhất là ở các thành phố lớn.Công tác phân loại thu gom, vậnchuyển và xử lý chất thải rắn cúng đang là một vần đề bức xúc vì hiện nay mới cókhoảng 50% chất thải rắn được thu gom và xử ly tại các thành phố lớn.Khu vức các thi
xã, thị trấn thì hâu như chưa được xem xét để có giải pháp khắc phục
* Những vấn đề thời sự có tầm vĩ mô trong mối quan hệ vùng, đô thi với công tácbảo vệ môi trường đang là mối quan tâm lớn đối với sự phát triển bền vững của cả nước
Đó là việc tài nguyên thiên nhiên sử dụng chưa thật sự hợp lý thiếu kế hoạch đang làmcho quỹ rừng bị suy giảm rất nghiêm trọng, nhất là đồi với rừng phòng hộ và rừng đầunguồn nên khí hậu đang có nhiều biến động với thiên tai thường xuyên xảy ra và ngàycàng đe dọa nghiêm trọng cuộc sống dân cư ở nhiều nơi Trong đó ở các vùng đô thị hóa,
bộ khung bảo vệ thiên nhiên đang bị xâm phạm, không được quy hoạch và có biện phápbảo vệ nghiêm ngặt đối với các vành đai xanh,hệ thống công viên, vườn hoa, mạng lưới
hồ điều hòa Tiêu chuẩn đất dành cho cây xanh đô thị quá thấp, trung bình mới đạ chỉ0,5-1,0m2 /người Nhiều di sản văn hóa, lịch sử có giá trị cũng chưa được quan tâm đúngmức đang bị cuộc sống đô thị chen lấn, vi phạm và có chiếu hướng suy thoái dần theo
Trang 16thời gian Nhìn chung tình trạng nay đang dẫn đến mức báo động về tình trạng ô nhiễmnước, đất và không khí ở một số khu công nghiệp và đô thị.
* Công tác quản lý đô thị tuy đã được quan tâm, chỉ đạo và quán triệt đến các cấphành chính đô thị nhưng vẫn đang còn nhiều tồn tại Phản ánh tổng quan về vấn đề nàythê hiện ở chỗ nhận thức về nôi dung, khái niêm trong công tác quả lý Nhà nước về đôthị còn chưa được đổi mới, thậm chí đôi khi còn chưa thật rõ ràng Điều này ảnh hưởngrất lớn đến yêu cầu phát triên đô thị vừa hiện đại, vừa đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc;đồng thời bảo đảm được sức trường tồn của môi trường sinh thái trong quá trình pháttriên bền vững ; Thực tế đó dẫn đến tình trạng phát triên đô thị lộn xộn, vi phạm dọc cáctrục quốc lộ, thực hiện sai ý đồ quy hoachh, coi thường pháp luật trong xây dựng đangcòn khá phổ biến nhưng chưa có biện pháp hữu hiệu ngăn chặn Kiến trúc đô thị pháttriên chưa có định hướng Chính sách, biện pháp cơ chế tạo vốn và tạo điều kiện pháthuy sức mạnh cộng đồng vào mục đích xây dựng đô thị còn rất thiếu.Thủ tục hành chínhchuyên giao đất, cấp phép xây dựng và thẩm định các dự án đầu tư còn phiến hà, rườm rà
và thiếu hiệu lực Các tồn tại lịch sử trong quản lý đô thị chậm được giải quyết Tất cảđang là trở ngãi cho việc lập lại trật tự kỷ cương trong quản lý đô thị cũng như huy độngmọi nguồn lực có thê vào phát triên đô thị
Thực trạng nói trên đang đặt động thái đô thị hóa, phân bố dân cư và phát triên đôthị-nông thôn ở nước ta trước những thách thức phải vượt qua đê đảm bảo sự phát triênbền vững trong tương lai Đó cũng là một nhiệm vụ quan trọng trong quá trình hòa nhậpcủa nước ta đê cam kết cùng cộng đồng quốc tế thực hiện nghiêm túc Chương Trình nghị
sự 21(Agenda 21) đã đề ra tại Hội nghị thượng đỉnh trái đất về nông thôn và phát triên ởRio de Janero (Braxin) năm 1992 và khẳng định lại tại Hội nghị thượng đỉnh Thế giới vềphát triên bên vững ở Johannesburg( C.H Nam Phi) năm 2002 vừa qua Tinh thần này đãđược Thủ tướng Chính Phủ phê duyệt thành Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam vềđịnh hướng chiến lược phát triên bền vững ở Việt Nam theo Quyết định số153/2004/QĐ-TTg, ngày 17 tháng 8 năm 2004 Như vậy là mục tiêu phát triên của nước
ta trong 10-15 năm đều phải song hành giải quyết 2 nhiệm vụ chiến lược là « Đưa đất
nước ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hóa, tinh thân của nhân dân ; tạo nền tảng để đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp » và phải đạt được sự tăng trưởng kinh tế ổn định với cơ cấu hợp lý, đáp
ứng được yêu cầu nâng cao đời sống của nhân dân, tránh được sự suy thoái hoặc đình trệtrong tương lai, tránh để lại nợ nần lớn cho các thế hệ mai sau
Trang 17Đây là hai nhiệm vụ có tính đối kháng phải được điều tiết hợp lý giữa các mốitương tác lẫn nhau mà không khéo sẽ để lại những hậu quả nặng nề vì quá trình côngnghiệp hóa- hiện đại hóa và đi liền theo đó là quá trình đô thị hóa rất dễ gây áp lực đốivới tài nguyên thiên nhiên, giảm quĩ đất nông nghiệp để phục vụ xây dựng, giảm diệntích cây xanh mặt nước, suy giảm nguồn tài nguyên nước tự nhiên dùng vào hoạt độngsản xuất, sinh hoạt, dịch vụ Sự tăng trưởng không ngừng của công nghiệp, giao thôngtrong quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa đã tạo ra những tác nhân gây hại môitrường không khí
Việt Nam sau hơn 30 năm phục hồi chiến tranh, có lẽ giờ đây chúng ta bắt đầu cóthời gian nhìn lại và củng cố chính mình Đặt những viên gạch “đầu tiên cho công cuộcphát triển bền vững cho các thành phố, các đô thị trên toàn quốcs » dường như sẽ rất khókhăn bởi có lẽ « phát triển như hiện nay » vẫn là nhu cầu nóng hổi, thể hiện nóng khátkhao, mong mỏi của người dân Việt Nam.Bắt đầu với « Phát triển » cũng đồng thời phảihội nhập với trao lưu mới của thế giới đó là « Kìm hãm, kiểm soát phát triển để đạt đượcmột tiến trình phát triển bền vững » dường như là không phù hợp với những bước khởiđầu phát triển hồ hởi đầy khích lệ tại các đô thị của Việt Nam hiện nay Tuy nhiên, các đôthị Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng của quy luật phát triển như các nước khác trên thếgiới, nên viêc nghiên cứu tìm giải pháp phát triển bền vững là vô cùng cần thiết
CHƯƠNG II: KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG ĐÔ THỊ VÀ ĐÁNH GIÁPHÁT TRIỂN BÈN VỮNG CÁC ĐÔ THỊ TRÊN THẾ GIỚI
Hiện nay trên thế giới có rất nhiều quan điểm về phát triển đô thị bền vững Tuynhiên, hầu hết các quan điểm đều đi đến một nhận định chung: phát triển đô thị bền vững
là sự phát triển hài hòa giữa các yếu tố kinh tế, môi trường và xã hội với mục tiêu cuốicùng là đời sống của dân cư đô thị phải khá giả hơn, tiện nghi và hạnh phúc hơn ở thế hệhiện tại mà không gây ra gánh nặng cho thế hệ tương lai Ở Việt Nam hiện có nhiều yếu
tố thuận lợi cho phát triển các đô thị bền vững Tuy nhiên bên cạnh đó, nhiều vấn đề còncần phải nghiên cứu khắc phục, như: Quy hoạch đô thị đôi khi vẫn bị coi là một sảnphẩm, chưa phải là một quá trình; Cơ chế, thể chế triển khai quy hoạch còn chưa rõ ràng,phương pháp lập quy hoạch chưa hiện đại; Vốn dành cho công tác quy hoạch đô thị còn
ít, quá trình xây dựng theo quy hoạch còn chậm; Thiếu sự tham gia của cộng đồng trongsuốt quá trình phát triển đô thị; Thiếu sự phối hợp giữa các chuyên ngành, thiếu sự đồng
Trang 18bộ giữa các công trình hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật; và Công tác quản lý đô thị nóichung ở mọi khâu còn yếu kém.
Để có được các đô thị phát triển bền vững, ngoài việc tận dụng và phát huy nội lực,việc tranh thủ ngoại lực, học tập các kinh nghiệm của thế giới và khu vực, rút ra bài họccho đất nước là hết sức cần thiết
2.1 Kinh nghiệm phát triển đô thị bền vững của các nước trên thế giới
2.1.1 về quy hoạch — kiến trúc đô thị.
Tại Thụy Điển, thành phố Vasteras, nằm bên hồ lớn nhất đất nước Malaren, làthành phố chịu ảnh hưởng đặc biệt của phong cách kiến trúc thế kỷ XIII Vasteras có rấtnhiều công trình cổ mang dấu ấn của lịch sử phát triển, vì vậy việc bảo tồn luôn luônđược quan tâm để phù hợp và hài hoà với sự phát triển của kiến trúc hiện đại và cảnhquan kiến trúc chung
Về quy hoạch và kiến trúc, chính quyền thành phố hết sức lưu ý việc đầu tư xâydựng trong quá trình phát triển đảm bảo mối liên hệ với môi trường, cảnh quan và hệ sinhthái hồ Cụ thể về gìn giữ môi trường, mặt nước hồ được quan tâm đặc biệt, tất cả hệthống nước thải dân dụng, công nghiệp và nước mặt đều được tập trung vào một nhà máy
để xử lý trước khi đổ vào hồ Hồ Malaren có một hệ thống đường dạo với chiều rộng từ10-20 mét bao quanh và một hệ sinh thái rừng ôn đới tự nhiên với thảm thực vật phongphú Về quản lý kiến trúc, các công trình xây dựng đều phải thấp dần về phía bờ hồ đêđảm bảo tầm nhìn và mỹ quan Tại đây, việc khai thác phong cách kiến trúc truyền thốngcủa Thụy Điên thế kỷ XIII được ủng hộ triệt đê và quan tâm đặc biệt
Tại Singapore, là một quốc gia - đô thị với hệ thống tập trung cao độ, cả nước chỉ
có một tổ chức chịu trách nhiệm về xét duyệt quy hoạch và đầu tư - Cơ quan tái phát triên
đô thị Tính tập trung, công khai và mục đích quy hoạch cùng với công tác quy hoạchkiêm soát và quản lý theo quy hoạch rõ ràng nên quản lý quy hoạch kiến trúc ở Singaporehoạt động rất có hiệu quả
Từ cuối những năm 1980, vấn đề giữ gìn bản sắc văn hoá đô thị mới được đặc biệtchú ý Nguyên tắc phổ biến về bảo tồn di sản kiến trúc đô thị ở Singapore chủ yếu là xâydựng mới theo hình thức cũ và bổ sung các chức năng mới theo hướng hiện đại Việc bảotồn và phát triên các giá trị truyền thống, giữ gìn cảnh quan tập trung vào các vấn đề: lốisống, nghề truyền thống, hình thức kiến trúc nhà ở và các di sản văn hoá có giá trị (đền,chùa, thành quách, dinh, thự ) Khai thác các giá trị văn hoá truyền thống tạo được thếmạnh trong lĩnh vực du lịch và dịch vụ du lịch, đây là quan điêm bảo tồn các quần cư
Trang 19truyền thống khá triệt đê, có chọn lọc, thậm chí mang cả ý nghĩa giáo dục thông qua các
tổ chức tham quan du lịch và bảo tồn
Tại Trung Quốc, một trong những yếu tố đem lại thành công là hệ thống văn bảnpháp luật cũng như bộ máy thi hành pháp luật rất nghiêm khắc, công tác giải phóng mặtbằng được tập trung vốn, triên khai nhanh và đầu tư dứt điêm cho từng dự án Do vậy,các công trình xây dựng và các tuyến đường trong đô thị được cải tạo, mở rộng và tiếnhành theo đúng kế hoạch, quy hoạch được duyệt
Về kinh nghiệm trong quản lý bảo tồn di sản đô thị, các biện pháp kiêm soát pháttriên khu vực Tây Hồ thuộc Hàng Châu, một viên ngọc trong chuỗi điêm du lịch củaTrung Quốc là một ví dụ Với vẻ nguyên sơ như xưa, mỗi năm Tây Hồ có tới 10 triệu dukhách tham quan, trong đó 2 triệu du khách đến từ nước ngoài Đến đây, du khách nhưlạc vào một thế giới khác; bờ hồ được kè bằng đá, bên cạnh vẫn nguyên vẹn từng bụi cây,từng phiến đá lát đường, từng gốc liễu cổ thụ rủ bóng ven hồ Những mái ngói cổ kínhcòn vẹn nguyên với cỏ dại và rêu xanh phủ đầy trên mái Dọc trên 6 km vòng quanh hồkhông hề có bất kỳ một công trình kiến trúc mới nào Xa xa, hút tầm mắt mới thấy nhữngtoà nhà cao tầng, những công trình kiến trúc mới của Hàng Châu, thủ phủ tỉnh TriếtGiang Như vậy những gì tân kỳ, hiện đại đều được bố trí lùi xa, khuất sau Tây Hồ và bàntay con người không can thiệp
thô bạo vào thiên nhiên và những gì mà người xưa để lại
Tại Malaysia, lấy trường hợp Kuala Lumpur làm ví dụ thì quy trình lập, xét duyệt vàxây dựng các quy định kiểm soát phát triển đô thị không khác nhiều so với những nướckhác Sự khác nhau chủ yếu là ở hệ thống xét duyệt đầu tư xây dựng Nếu như Singapore
có đặc điểm tập trung cao độ thì ở Kuala Lumpur là hệ thống các Ban hoặc Uỷ ban trên
cơ sở phân cấp, phân quyền quản lý Hệ thống các Ban này làm việc trên nguyên tắc phốihợp tập thể trước khi ra quyết định đầu tư phát triển đô thị Mô hình quản lý KualaLumpur thể hiện tính dân chủ trong các quyết định Mô hình này chỉ thực sự hoạt động
có hiệu quả khi các thành viên trong hội đồng làm việc công tâm và trên những nguyêntắc, quy định chặt chẽ Trong lĩnh vực phát triển đô thị, thành công cần được nhấn mạnhtrong trường hợp Kuala Lumpur là vấn đề bảo tồn và phát triển làng trong đô thị với cấutrúc đô thị hiện đại
2.1.2 Quản lý đất đai xây dựng đô thi.
Tại Trung Quốc, mô hình quản lý đất đô thị được xây dựng bằng việc thành lậpmột cơ quan hành chính đặc biệt, do một tổ chức thay mặt Chính phủ thực hiện chức
Trang 20năng quản lý nhà nước toàn diện Tổ chức này có thể do Chính phủ thành lập, cũng cóthể là một cơ quan liên chính phủ hay là một doanh nghiệp nhà nước hoạt động theo một
cơ chế đặc biệt, theo hướng đơn giản hóa các thủ tục hành chính và thu hút vốn đầu tưnước ngoài Việc đầu tư xây dựng nhà ở có thể do doanh nghiệp trong nước hoặc phốihợp với các doanh nghiệp nước ngoài Đất đai ở Trung Quốc thuộc sở hữu nhà nước, đền
bù giải phóng mặt bằng được điều tiết bằng Luật
Tại Pháp, Chính phủ đã áp dụng ba chính sách chủ yếu cho công tác quản lý đất đôthị trên cơ sở quy hoạch đô thị được duyệt:
- Chính phủ cho phép mua trước đất nhằm tránh những khó khăn phát sinh từ tìnhtrạng khan hiếm đất dùng cho xây dựng nhà ở Luật Quy hoạch quy định dành các khuvực dự trữ ưu tiên cho việc mua đất phục vụ xây dựng nhà ở nhằm tránh các cơn sốt củathị trường, ngăn chặn nguy cơ đầu cơ, đồng thời giải quyết việc tồn tại quá độ trong vòng
15 năm của các bất động sản nằm trong vùng dự trữ
- Chính quyền đô thị được mua trước những bất động sản của người có nhu cầubán, làm quỹ dự trữ để chủ động cho việc thực hiện quy hoạch đô thị
- Chính phủ Pháp có sự phối hợp chặt chẽ với các chính quyền địa phương về đầu
tư và phát triển đất xây dựng đô thị và thị trường bất động sản Chính phủ có Ban thư ký
về đô thị, là đầu mối giữa chính quyền Trung ương, chính quyền địa phương và các cơquan hợp tác phát triển công cộng Khi dự án được xác định, cơ quan hợp tác phát triểncông cộng là tổ chức chịu trách nhiệm chuẩn bị đất đai và thực hiện xây dựng hạ tầngcho đô thị mới Hội đồng liên tỉnh về phát triển đô thị là cơ quan quản lý xây dựng đô thị,xem xét các dự án cấp giấy phép và xây dựng các công trình trong đô thị mới Việc xâydựng đô thị mới dựa vào hệ thống hành chính hiện có và các nguồn tài chính trong nước
là chủ yếu, được hỗ trợ bởi một khung giá đất ổn định đảm bảo cho việc đầu tư lâu dài.Tại Hàn Quốc, việc xây dựng đô thị mới được thực hiện trên cơ sở phối hợp giữaChính phủ và khu vực tư nhân, quản lý bởi Văn phòng phát triển đô thị mới trực thuộc
Bộ Xây dựng Cơ quan xây dựng hạ tầng đô thị là Tập đoàn phát triển đất Hàn Quốc, cótrách nhiệm mua đất để xây dựng nhà ở bằng các khoản ứng trước của các nhà đầu tư vàcác khoản tín dụng Tập đoàn thanh toán lại cho các nhà đầu tư bằng đất đã có hạ tầng tíndụng, được hỗ trợ bằng chính sách trưng mua đất đai trong các đô thị dựa chủ yếu vàonguồn lực trong nước, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày một tăng lên về nhà ở của các đô thị,thúc đẩy đô thị phát triển một cách có hiệu quả
Trang 21Tại Philippines, hoạt động quản lý đô thị dựa vào các điều khoản của Hiến pháp vàPháp luật, đề cập tới sự phân loại, chuyển nhượng, chuyển dịch và phát triển tài nguyênđất đai Đất đai được xem như một bất động sản đặt dưới sự kiểm soát của Nhà nước,không được phép chuyển dịch hay chuyển nhượng từ đời này sang đời khác Sự chia nhỏquyền sở hữu đất dựa trên Sắc lệnh về bảo đảm bất động sản và Sắc lệnh bảo vệ ngườimua Chính quyền địa phương bảo đảm sở hữu đất được cấp cho Chính phủ hay các cánhân.
Việc chuyển đổi đất đai từ đất nông nghiệp sang các chức năng khác phải thực hiệntheo Sắc lệnh, giới hạn trong phạm vi từ 5% - 15% của vùng đất nông nghiệp Những nơiđất đai không còn giá trị kinh tế cho mục đích nông nghiệp và những nơi đất đai có thể
có giá trị kinh tế lớn cho mục đích ở, kinh doanh hay công nghiệp được quyết định bởiHội đồng luật pháp địa phương
Đất chuyển dịch là những vùng đất xấu, đất thu góp hay đất hợp tác xã, quỹ đấtquyên góp cho Chính phủ Mức độ giá trị của đất được xác định bằng việc phân loại đất,giá thị trường và thuế Giải pháp hành chính của việc công nhận quyền sở hữu thông quaviệc quyết định cấp giấy đăng ký tự do
Tại Malaysia, hầu hết vấn đề đất đai nằm dưới sự kiểm soát của chính quyền Trungương, trong khi việc trao quyền sử dụng đất và khai thác sử dụng đất chi tiết lại nằmtrong phạm vi kiểm soát của chính quyền địa phương Một trong những công cụ quantrọng nhất để quản lý đất đai ở Malaysia là kiểm soát sự phát triển Chính quyền địaphương chuẩn bị hồ sơ quy hoạch của các khu vực trong phạm vi có khả năng phát triển,trên đó chỉ ra rất chi tiết khả năng có thể hoặc không thể xây dựng
Malaysia ban hành Luật Bảo hộ quyền sử dụng đất, kiểm soát toàn bộ việc chuyểnđổi mục đích sử dụng đất, phân chia đất và những điều kiện đánh thuế trên mục đích sửdụng đất Một trong những công cụ hiệu quả cho sự phát triển là thu lại đất của tư nhândành cho mục đích công cộng Những bổ sung gần đây cho phép chính quyền thu hồi đấtcho bất kỳ mục đích sử dụng nào phù hợp với chính sách phát triển của Nhà nước Thuếđất ở Malaysia bao gồm thuế đánh vào bất động sản được thu bởi chính quyền địaphương, lãi của bất động sản và những thuế thu được từ chính quyền bang, thuế được thuhàng năm bởi chính quyền nhà nước, và những khoản tiền lãi khi chuyển nhượng đất
Bộ luật Quy hoạch đô thị và nông thôn cho phép các chính quyền địa phương đánh
“thuế phát triển” vào các phần đất có giá trị tăng lên nhờ kết quả của quy hoạch, hìnhthức thuế này được sử dụng như một công cụ của công tác quản lý đất đai đô thị Thuế
Trang 22phát triển hạ tầng cơ sở, thuế lợi tức của bất động sản được đánh vào các phần lãi từnhững đầu tư trên đất Tỷ lệ thu thuế trong khoảng 5% - 50% lợi tức, phụ thuộc vàokhoảng thời gian từ khi mua đến khi bán đất.
2.1.3 về giao thông.
Singapore là một quốc đảo có khoảng 4,5 triệu dân, trên diện tích 692 km2 với hơn3.000 km đường Số lượt di chuyển đã tăng 160% trong vòng 10 năm, số lượt đi lại mỗingày ước tính lên đến khoảng10 triệu vào năm 2010 Cục Giao thông đường bộ là cơquan có thẩm quyền và chịu trách nhiệm về tất cả các dịch vụ liên quan đến vận tải Cơquan này có chức năng quy hoạch, phát triển, thực hiện, quản lý hạ tầng cơ sở và cácchính sách về giao thông vận tải, có trách nhiệm thường xuyên nghiên cứu khả năng pháttriển, quản lý và điều hành hệ thống giao thông đô thị và giao thông hành khách côngcộng
Bốn trọng tâm chính trong chiến lược phát triển giao thông là:
- Phối hợp chặt chẽ giữa quy hoạch phát triển không gian và vận tải nhằm tối ưuhoá nhu cầu đi lại bằng cách phát triển khu dân cư đô thị gắn với hệ thống giao thôngcông cộng, tập trung dân cư sống quanh các bến xe lớn Phát triển một mạng lưới đườngphố thống nhất đáp ứng nhu cầu đi lại bằng những biện pháp quản lý giao thông
- Phát triên hệ thống giao thông hành khách công cộng có chất lượng tốt nhằm tối
ưu hoá nhu cầu đi lại bằng một hệ thống đầy đủ, liên thông hợp lý và hữu hiệu
- Chủ động quản lý nhu cầu đê giải quyết sự ùn tắc giao thông bằng cách kiêmsoát phương tiện giao thông cá nhân (hệ thống hạn ngạch xe) trên đường và thiết lập trạmthu thuế cầu đường trong thành phố
- Việc đầu tư giao thông dựa trên mô hình: Nhà nước chịu trách nhiệm bỏ vốn đầu
tư, nhất là phần hạ tầng kỹ thuật; Người sử dụng trả tiền dịch vụ và chi phí khai thác (giácước thực tế); Chủ khai thác chịu trách nhiệm về chất lượng và hiệu quả của dịch vụ dưới
sự giám sát của Uỷ ban giao thông công cộng
Như vậy, ưu điêm về quản lý giao thông công cộng tại Singapore là sớm nhận thứcđược việc cần phải phát triên hệ thống xe buýt theo quan điêm cung cấp là chủ yếu kếthợp với việc kiêm soát chặt chẽ và kiềm chế sự phát triên các phương tiện cá nhân.Quản lý giao thông xe buýt công cộng ở một số thành phố của các nước trong khuvực có những nét khác biệt với các thành phố thuộc các nước phát triên Có hai quanđiêm quản lý giao thông xe buýt là quản lý theo nhu cầu (ví dụ Bangkok, Thái Lan) vàquản lý với quan điêm cung cấp là chủ yếu (ví dụ Singapore)
Trang 23Bangkok có số dân khoảng 9 triệu người Tại Bangkok, tổ chức quản lý giao thông
xe buýt công cộng thuộc thẩm quyền của Cục Quản lý giao thông công cộng Đội xe buýt
có gần 5.000 chiếc chạy trên một số đường phố (khoảng 250 km) có làn dành riêng đãđược hình thành nhằm giúp cho xe lưu thông thuận lợi Bên cạnh đó là việc huy độngtrên 2.000 xe tuktuk do tư nhân khai thác Bangkok có nhiều kinh nghiệm trong việc đưavào sử dụng loại xe mini buýt đê bổ sung cho các xe buýt tiêu chuẩn theo nhu cầu sửdụng và thực trạng của từng đường phố trên mạng lưới đường
2.1.4 Môi trường đô thi.
Tại Singapore, chất thải được phân loại và thu gom bằng túi nylon từ nơi phát sinh,sau đó xử lý bằng phương pháp đốt tại 5 nhà máy công suất 9.000 m3/ngày, với côngnghệ hiện đại đảm bảo các tiêu chuẩn về môi trường, nhiệt lượng thu từ các lò đốt đượcdùng đê phát điện Các chất tái chế được như giấy, chai lọ, dầu thải công nghiệp được xử
lý, sử dụng lại
Việc thu gom chất thải do các công ty tư nhân đảm nhiệm, lệ phí thu gom cho mỗi
hộ gia đình một tháng có thời điêm là 6 đôla Mỹ, với căn hộ có sân vườn là 11 đôla Mỹ.Hiện nay các công ty thu gom chất thải đang chuyên sang hình thức cổ phần hoá Nhànước hỗ trợ tiền xây dựng nhà máy xử lý chất thải Bộ Môi trường giám sát chặt chẽ việcquản lý chất thải trên phạm vi toàn quốc
Tại Hà Lan, hàng năm có tới 21 triệu tấn chất thải, 60% đổ ở các bãi chôn lấp, phầncòn lại đưa vào các lò đốt rác hay tái chế Để bảo vệ môi trường, mục tiêu giảm khốilượng chất thải hàng năm rất được quan tâm ở đất nước này Hà Lan đã xây dựng mộtkhu liên hợp xử lý chất thải rắn Tại khu liên hợp người ta chôn lấp một khối lượng lớncác loại rác thải và chất thải độc hại sau xử lý (trước đây thường được tiêu huỷ ngoàibiển), số còn lại được xử lý bằng những lò đốt với kỹ thuật mới nhất và sản xuất phâncompost bằng phương pháp ủ hoặc ứng dụng những quy trình kỹ thuật đặc biệt sản xuấtcác loại nguyên liệu mới Việc xử lý chất thải rắn ở Hà Lan đã xuất hiện một ngành kinh
tế mới mang tính kinh doanh, áp dụng công nghệ tiên tiến và đầu tư lớn
Tại Ai Cập, thủ đô Cairo có 12 triệu dân với lượng rác thải hàng ngày tới 6.000 tấn
Để làm sạch thủ đô có nhiều nguồn chất thải, tại thành phố đã hình thành một đội ngũcông nhân vệ sinh gồm 45.000 người, chia làm 3 ca quét dọn, thu gom Thành phố cònxây dựng một nhà máy xử lý chất thải, mỗi ngày chế biến 80 tấn thành phân bón để cảitạo sa mạc Tại thủ đô Cairo, việc xã hội hoá thu gom rác thải được làm rất tốt, ngoàicông ty nhà nước còn có 44 công ty tư nhân thu gom rác thải, họ đưa túi nilon tới từng
Trang 24gia đình để đựng rác Công tư tư nhân cho xe đến thu gom rác thường xuyên và thu lệ phíhàng tháng Các công ty này có quyền kinh doanh việc xử lý chất thải và tái chế thànhphẩm.
Tại Indonesia, để đảm bảo hoạt động thu gom rác thường xuyên, mỗi cộng đồngkhu dân cư có thu nhập thấp (Kampung) ở Surabaya tự tổ chức dịch vụ thu gom rác trongphạm vi của mình “Đội quân vàng” gần 12.000 người thu gom và quét rác trong đồngphục màu vàng do chính những người dân Surabaya trả lương, bổ sung hỗ trợ cho 1.300công nhân vệ sinh được chính quyền trả lương Có hai loại thùng rác màu xanh và màuvàng được bố trí cạnh nhau Các thùng rác màu xanh dành cho các loại rác thải có thể tái
sử dụng như giấy, bìa, kim loại, thủy tinh Bên cạnh mục đích bảo vệ môi trường, việclàm trên còn ý nghĩa giáo dục, đặc biệt cho lớp trẻ
2.1.5 Quản lý nhà ở.
Tại Trung Quốc, hầu hết nhà ở được xây dựng dưới dạng Chung cư cao từ 4 tầngđến 30 tầng Công tác xây dựng nhà ở tại Trung Quốc phát triển nhanh chóng do nềnkinh tế phát triển mạnh mẽ và nhu cầu về nhà ở của nhân dân tăng cao Cùng với chủtrương phát triển, Trung quốc thực hiện ba phương thức cung cấp nhà ở: Nhà ở có tiêuchuẩn cao và khá cao được xây dựng phục vụ mục đích kinh doanh, bán cho các đốitượng có thu nhập cao; Nhà ở thích hợp xây dựng phù hợp với điều kiện kinh tế của cácgia đình có thu nhập vừa và thấp; Nhà cho thuê với giá rẻ, xây dựng phục vụ cho các đốitượng nghèo với mức tiêu chuẩn khá thấp do Nhà nước quản lý
Ngoài ra, Nhà nước còn mở rộng, phát triển và cải thiện công tác lưu thông tiền vốnnhà ở, kéo dài thời hạn cho vay vốn, tạo điều kiện thuận lợi giúp người dân vay vốn muanhà ở, đồng thời quản lý tốt giá cả, thúc đẩy, cải cách giá cho thuê nhà
Tại Nhật Bản, hệ thống cung cấp và quản lý nhà ở của Nhà nước thực hiện thôngqua Tổng Công ty tài chính nhà ở Chính phủ, thực hiện cung cấp vốn vay dài hạn với lãisuất thấp cho những người sắp xây dựng nhà hoặc mua nhà Cơ quan quản lý nhà côngcộng giúp chính quyền các địa phương cung cấp nhà cho thuê với giá thấp được trungương bao cấp một phần Tổng Công ty phát triển nhà và đô thị thực hiện khắc phục tìnhtrạng thiếu nhà ở tại các trung tâm đồng thời xúc tiến quá trình đổi mới đô thị nhằm tạo
ra môi trường đô thị tốt với hình thức đa dạng
Nhà nước Nhật Bản chủ trương đẩy mạnh xây dựng nhà ở nhiều loại hình với sựphối hợp giữa chính quyền trung ương, địa phương và cộng đồng dân cư trên cơ sởnhững chương trình dài hạn và toàn diện, tạo cơ hội cho mọi người lựa chọn nhà ở phù
Trang 25hợp với tình trạng và khả năng của mình, như: các khu ở có chất lượng tốt hoặc quy môlớn, có công năng sử dụng hợp lý, có môi trường sống theo tiêu chí phát triển bền vững;nhà ở cho thuê giá rẻ, nhà ở cho người ở xa gia đình, người già yếu, người khuyết tật.Nhật Bản đã xây dựng những bộ luật và những quy ước hoạt động cho tất cả cácthành viên trong khu ở cũng như các quy định cụ thể về trách nhiệm của từng đối tượngđối với phần tài sản trong nhà ở chung mà mình sở hữu, ban hành các biểu, bảng để kêkhai, kiến nghị đề xuất tạo điều kiện thuận lợi cho người sử dụng chung cư đề đạt các ýkiến của mình Tổ chức các Ban quản lý khu chung cư trong đó các thành viên và cả BanGiám đốc điều hành đều do hội nghị toàn thể các gia đình trong chung cư bầu ra, đồngthời quy định rõ về hoạt động và hạch toán của Ban này.
Tại Singapore, hàng loạt khu ở được xây dựng rất đồng bộ hệ thống cơ sở hạ tầng
xã hội và hạ tầng kỹ thuật, từ mạng lưới giao thông đến cấp nước, thoát nước thải, cấpđiện, thông tin liên lạc, cây xanh và vệ sinh môi trường từ những năm 1980 Nhiều khu
ở của Singapore đã trở thành mẫu mực cho các đô thị về cơ sở hạ tầng kỹ thuật Nhiều hệthống được xây dựng trước theo định hướng phát triên đáp ứng nhu cầu của tương lai:Giao thông tĩnh trong khu ở xây dựng theo chỉ tiêu 150 xe con trên 1.000 dân; Hệ thốngcáp được đầu tư theo nhu cầu mỗi gia đình có từ 3 đến 4 máy thông tin liên lạc; Hệ thốngcấp nước cho chỉ tiêu từ 180 - 250 lít/người/ngày
Chính sách của Chính phủ Singapore nhằm cung cấp nhà ở cho mọi gia đình, tạođiều kiện cho họ làm chủ sở hữu căn nhà đó Chính phủ thực hiện mục tiêu này thôngqua Cơ quan phát triên nhà ở Hoạt động của cơ quan này bao gồm quy hoạch phát triên
đô thị mới, nâng cấp nhà cũ, khuyến khích sở hữu nhà ở của dân, nâng cao trách nhiệmcuộc sống cộng đồng, cung cấp nhà ở chất lượng cao và các tiện nghi công cộng liênquan, đề ra các tiêu chuẩn về xây dựng và quản lý địa ốc Cơ quan này được vay tiềnChính phủ đê phát triên nhà ở và cho dân vay lại đê mua nhà trả góp Chìa khoá đê giảiquyết vấn đề này là "quỹ tiết kiệm Trung ương"
Theo luật pháp Singapore tất cả các công dân làm việc phải trích vào quỹ này 20%lương của mình, các nhà doanh nghiệp, các chủ kinh doanh hàng tháng cũng phải nộpvào quỹ một số tiền nhất định Do vậy số tiền trong quỹ rất lớn, bằng 40% quỹ lương cảnước Phần tiền lương trích vào quỹ không bị đánh thuế thu nhập, nó vẫn thuộc sở hữungười gửi và xem như tiết kiệm hàng năm được cộng vào lãi theo quy định và chỉ đượcrút ra khi về hưu hoặc có khoản chi cần thiết như mua nhà hay chữa bệnh Quỹ này hỗtrợ cho dân có tiền gửi tiết kiệm đê mua nhà, tiền trả góp hàng tháng cho Nhà nước
Trang 262.1.6 Phát triển đô thị với sự tham gia của cộng đồng:
Tại Indonesia, do nguồn lực hạn chế của chính quyền trong các dự án nâng cấp, cảitạo hạ tầng kỹ thuật các Kampung, sự đóng góp của cộng đồng là yếu tố quan trọng đê
dự án đạt tính bền vững Trung bình với mỗi dự án, cứ Nhà nước đầu tư một triệu rupicho các chi phí trực tiếp, thì cộng đồng đóng góp 50.000 rupi (5%) Nếu kê cả nhữngđóng góp của cá nhân và cộng đồng qua việc trồng và chăm sóc cây xanh, cấp điện chiếusáng, xây dựng, thu gom rác, thì đóng góp từ phía cộng đồng còn lớn hơn nhiều
Ở các thành phố lớn như Jakarta hay Surabaya, các dự án cải tạo, nâng cấp và xâydựng mới hệ thống hạ tầng kỹ thuật cho các Kampung đã thực sự thành công với sự đónggóp của chính cộng đồng dân cư ở đó Chương trình cải tạo Kampung được hình thànhbắt đầu vào 1969 tại thành phố Surabaya, thành phố lớn thứ hai của
Indonesia, với số dân khoảng 3 triệu người Chương trình cải tạo Kampung bao gồmnâng cấp đường phố, các hẻm nhỏ, hệ thống cấp thoát nước, các điều kiện vệ sinh vàquản lý rác thải , có sự phối hợp giữa cộng đồng dân cư và chính quyền, qua ba phươngthức: Các dự án do người dân tự đóng góp thực hiện; Các dự án có sự hỗ trợ một phầncủa chính quyền; Các dự án được chính quyền địa phương và Trung ương tài trợ cùngkhoản viện trợ của Ngân hàng Thế giới
Các chương trình ở Surabaya thể hiện mạnh mẽ sự hợp tác giữa chính quyền và cáccộng đồng dân cư Qua việc xác định nhu cầu và có sự tham gia của cộng đồng vào các
dự án nâng cấp hạ tầng kỹ thuật, làm cho người dân cảm thấy đây là chương trình của họ,
vì vậy họ có thể bảo đảm được việc thành công của dự án, và tham gia duy tu bảo dưỡngcác cơ sở hạ tầng sau khi được xây dựng
Tại Canada, phổ biến rộng rãi mô hình cộng đồng về sản xuất nhà ở Đó là nhữngnhóm đa ngành giúp cho người thuê nhà, mua nhà hình thành một hợp tác xã về nhà ởđược cung cấp những dịch vụ kỹ thuật, được hỗ trợ để thực hiện đầy đủ dự án của mình.Nhóm đa ngành gồm những người có khả năng về nhiều lĩnh vực khác nhau trong dịch
vụ nhà ở như lập kế hoạch triển khai công việc, dự kiến ngân sách, quản lý tài chínhtrong lĩnh vực nhà ở
Nhiệm vụ của từng nhóm kỹ thuật là giúp thực hiện dễ dàng các dự án, có khả năngvượt qua các trở ngại nảy sinh về tài chính, hành chính, kỹ thuật và xã hội Nhóm nguồnlực kỹ thuật liên kết chặt chẽ với các thành viên của cộng đồng trong quá trình thực hiện
dự án nhằm giúp họ: i) Hiểu mọi tình huống và đề xuất giải pháp thực hiện; ii) Gắn kếtvới dự án, thực hiện dự án lâu dài với sự hợp tác linh hoạt; iii) Có đủ kiến thức và khả
Trang 27năng quản lý nhà; iv) Thống nhất với nhau để khắc phục những khác biệt, cùng nhau đưa
ra các quyết định chung trong quá trình quản lý Nhóm nguồn lực kỹ thuật có thể tiếnhành nhiều loại hình như xây dựng hoặc cho thuê nhà ở, thực hiện trong cả quá trình xâydựng và sử dụng nhà ở theo ba khía cạnh: vật thể, kinh tế và xã hội
Tại Srilanka, chính quyền ngày càng nhận ra vai trò của người dân trong phát triểnđịnh cư và bắt đầu hỗ trợ người dân xây nhà chứ không xây sẵn nhà cho họ (ảnh bên) Tổchức Quốc gia về phát triển nhà ở đã soạn ra những hướng dẫn về sự tham gia của ngườidân ở mức độ địa phương trong tiểu chương trình nhà ở thuộc Chương trình “Triệu cănnhà”
Những hướng dẫn này cho biết làm thế nào để thiết lập được những yêu cầu hỗ trợ
tổ chức ở mức độ địa phương và cộng đồng Tổ chức Quốc gia về phát triển nhà gópphần chủ động trong các hội thảo và gặp gỡ những nhóm mục tiêu mà không có nhữngquan điểm áp đặt của chính quyền, nó đóng vai trò tác nhân trong sự xây dựng và pháttriển định cư ở địa phương
Tại Pakistan, ở Orangi - khu định cư cho những người trú ngụ bất hợp pháp tạiKarachi với 800.000 người trong một điều kiện sống rất nguy hiểm, mất vệ sinh, thiếu hệthống thoát nước và thu gom rác thải Orangi nhận được rất ít sự quan tâm từ phía chínhquyền
Năm 1980, một tổ chức phi chính phủ tại địa phương phát động một dự án pháttriển thích hợp, chi phí thấp nhằm xây nhà, tài chính và hệ thống quản lý vệ sinh choOrangi Dự án đầu tiên được thành lập trên một đường hẻm cho 20 gia đình Cư dân của
20 gia đình này được tổ chức thành từng nhóm, bầu ra một cán bộ quản lý và một thủquỹ Họ quản lý xây dựng, thu tiền và thuê người xây dựng các công trình vệ sinh Quaquá trình xây dựng những vấn đề phát sinh đều được giải quyết.Dự án thành công đếnnỗi tất cả cư dân ở các hẻm khác cũng học tập và làm theo
2.2 Xây dựng bộ chỉ tiêu đánh giá phát triển bền vững đô thị
về bộ chỉ tiêu phát triển bền vững
Bộ chỉ tiêu là những chỉ tiêu được nhóm thành một tập hợp liên quan tới nhau
theo
khai xây dưng bộ chỉ tiêu PTBV cho đất nước mình
Tổng quan kinh nghiệm của một số nước trong việc xây dựng bộ chỉ tiêu PTBV
Bộ chỉ tiêukiến nghị của Hội đồng Phát triển bền vững của Liên hợp quốc (UN CSD).
Trang 28Mục tiêu chính của UN CSD là xây dựng các chỉ tiêu phát triển bền vững phục vụviệc hoạch định chính sách tầm quốc gia, giải thích về phương pháp luận xây dựng cácchỉ tiêu, và tập huấn nguồn nhân lực Sự nỗ lực phối hợp giữa các chính phủ, các tổ chứcquốc tế, các viện nghiên cứu, các tổ chức phi chính phủ và các cá nhân đã giúp UN CSDcông bố vào năm 2001 danh mục 58 chỉ tiêu phát triển bền vững nhằm hỗ trợ các nướctrong việc đo lường bước tiến triển hướng tới sự phát triển bền vững (PTBV) Các chỉtiêu này bao gồm 15 chủ đề và 38 chủ đề nhánh được xây dựng nhằm cung cấp thông tincho các quốc gia trong việc triển sống thì ở các nước phát triển sự quan tâm tập trung vàocác vấn đề bình đẳng, chất lượng cuộc sống, các vấn đề xã hội nảy sinh trong một nềnkinh tế phát triển và vấn đề ô nhiễm môi trường.
2.2.1 Ở Vương Quốc Anh:
Đề án phát triên bền vững địa phương được chính phủ Anh khởi xướng và dẫn dắtnăm 1997 Đề án Local Agenda 21 được xây dựng trên các nguyên tắc của phát triên bềnvững do Ủy ban Brundtland khởi xướng và bao gồm bốn nguyên tắc chính:
1 Tiến bộ xã hội trong đó thừa nhận nhu cầu của tất cả mọi người;
2 Bảo vệ môi trường một cách hiệu quả;
3 Sử dụng các nguồn lực tự nhiên một cách thận trọng;
4 Duy trì tăng trưởng kinh tế và việc làm ở mức cao và ổn định
Đề án Local Agenda 21 đã được thực hiện trên toàn nước Anh từ năm 2000 vàbước đầu mang lại một số kết quả tích cực Đề án cung cấp các hướng dẫn cũng nhưnguồn lực cần thiết đê tái định hướng cho chính quyền các thành phố tại Anh, hướng tớiphát triên bền vững
Từ năm 2007, tổ chức “Diễn đàn cho tương lai”, một tổ chức phi chính phủ tại Anh
đã tiến hành đánh giá mức độ bền vững của các thành phố tại Anh theo định kỳ hàngnăm Các đánh giá sử dụng 13 chỉ thị đánh giá thuộc 3 nhóm:
a) Các chỉ thị về tác động môi trường:
- Chất lượng không khí: đo lường nồng độ của khí NO2 tại một số điêm trongthành phố.Khí NO2 là một chỉ thị tốt về mức độ độc hại của khí thải từ các phương tiệngiao thông Hiện nay, nhóm nghiên cứu đang thực hiện đánh giá dựa trên phản ứng củachính quyền địa phương trong việc xử lý một loại khí thải nào đó, căn cứ vào yêu cầu của
cư dân
Trang 29- Tác động sinh thái: Đo lường các tác động của việc tiêu dùng tới môi trườngthành phố Nhóm nghiên cứu sử dụng chỉ số bền vững là diện tích đất đô thị cần sử dụng
đê tạo ra cuộc sống bền vững cho một lượng cư dân thành thị nhất định
- Rác thải của hộ gia đình: Đo lường lượng rác thải bình quân trên đầu người của
cư dân thành thị trong vòng 1 năm Lượng rác thải là một đại diện có giá trị cho tổnglượng nguồn lực đã được tiêu thụ
- Đa dạng sinh học: Đo lường số khu vực tự nhiên lân cận thành phố đã được đothị hóa Mặc dù đây là một chỉ thị khá trừu tượng, nó diễn tả tốc độ thu hẹp của các khuvực tự nhiên, vốn là nơi cư trú của các loài sinh vật Việc thu hẹp này ảnh hưởng trực tiếpđến tính đa dạng sinh học của khu vực, do sự biến mất (có thê) của các loài sinh vật trongkhu vực
b) Các chỉ thị về chất lượng cuộc sống
- Sức khỏe: Đo lường kì vọng tuổi thọ của cư dân từ khi sinh ra, sử dụng số liệuthống kê từ cục thống kê quốc gia Đây là một chỉ thị tốt về sức khỏe và tuổi thọ của cưdân
- Không gian xanh: Đo lường số khu vực xanh được xếp hạng trên mỗi đơn vị
1000 dân cư đô thị Sử dụng các chỉ số từ Cục bảo vệ môi trường và an toàn thực phẩmquốc gia, nhóm đánh giá tính ra chỉ số không gian xanh cho cư dân thành phố Đây làmột chỉ thị rất tốt về không gian sống thân thiện với môi trường và trong lành cho cư dân
đô thị
- Giao thông: Đo lường mức độ tiếp cận tới các dịch vụ giao thông công cộng của
cư dân đô thị Nhóm nghiên cứu sử dụng số thời gian một cư dân sử dụng phương tiệngiao thông công cộng để đi học, đi làm, mà không dùng đến xe hơi cá nhân; tỉ lệ cư dân
sử dụng phương tiện công cộng; và đánh giá chất lượng dịch vụ công cộng của cư dân.Đây là một chỉ thị tốt về mức độ cung cấp dịch vụ giao thông công cộng tại địa phương
- Việc làm: Đo lường sự biến động về số người nhận trợ cấp thất nghiệp, sử dụng
số liệu từ Văn phòng thống kê quốc gia
- Giáo dục: Đo lường tỉ lệ dân cư trong độ tuổi lao động ở địa phương có bằng cấp
từ Dạy nghề bậc 2 (hoặc tương đương) trở lên
c) Các chỉ thị về thích ứng với tương lai
- Biến đổi khí hậu: Các chính quyền địa phương được cho điểm trên 27 tiêu chíliên quan đến hành động của họ để ứng phó tới mối nguy biến đổi khí hậu.Các tiêu chínày được xây dựng bằng phương pháp lấy ý kiến chuyên gia về lĩnh vực quản lý môi
Trang 30trường Số liệu được thu thập thông qua tài liệu do chính quyền địa phương công bố vàkhảo sát trực tiếp.
- Kinh tế: Đo lường số doanh nghiệp khởi sự trong năm trên đơn vị 10000 dân cưthành thị, sử dụng số liệu từ các đăng ký kinh doanh với chính quyền địa phương.Đây làmột chỉ thị tốt về sức sống kinh tế của địa phương
- Tái chế: Đo lường tỉ lệ rác thải hộ gia đình được tái chế, tái sử dụng, hoặc lênmen sinh hóa trong tổng số rác thải hộ gia đình
- Thực phẩm địa phương: Biến động về số nhà cung cấp và lượng cung cấp thựcphẩm cho địa phương, so sánh với tổng dân số Đây là một chỉ thị phần nào phản ánhmức độ an toàn lương thực của địa phương
Các tiêu chí đánh giá trên dù không hoàn toàn phù hợp với thực trạng đô thị ViệtNam, nhưng có thể là một nguồn tham khảo tốt cho nghiên cứu
là các tiêu chí đánh giá mức độ phát triển bền vững của thành phố Các tiêu chí này đượcchia thành 3 nhóm chính gồm:
a) Nhóm tiêu chí về Sức khỏe cuộc sống gồm 6 tiêu chí :
- Sức khỏe trẻ sơ sinh: theo dõi tỉ lệ tử vong của trẻ sơ sinh và số trẻ có cân nặngkhi sinh ở mức thấp
- Tỉ lệ mang thai ở trẻ vị thành niên: theo dõi số ca trẻ vị thành niên từ 15 đến 17tuổi mang thai
- Tỉ lệ nhiễm HIV trong cộng đồng dân cư
- Chỉ số cân nặng trung bình của dân cư
- Chỉ số hô hấp: tỉ lệ cư dân nhiễm các bệnh liên quan đến hô hấp
- Nhiễm độc chì: Theo dõi số liệu về mức chì trong máu của trẻ em dưới 2 tuổi
Trang 31b) Nhóm tiêu chí về Tác động môi trường gồm 12 tiêu chí:
- Biến đổi khí hậu: đo lượng phát thải CO2 của cư dân thành phố
- Năng lượng có thể tái tạo: theo dõi mức tăng tiêu thụ năng lượng có thể tái tạotrong tổng tiêu thụ năng lượng của cư dân thành phố
- Chất lượng không khí
- Mức độ cây bao phủ
- Tỉ lệ cư dân sử dụng phương tiện phi cơ giới
- Các phương tiện giao thông thay thế trong nội đô
- Mức độ tiếng ồn của sân bay thành phố
- Tỉ lệ các chất gây ô nhiễm trong nước mưa
- Chất lượng hồ trong thành phố
- Mức độ phát triển các công việc thân thiện với môi trường trong thành phố
- Lượng thực phẩm được sản xuất theo phương pháp thân thiện với môi trường
- Mức độ giảm và tái chế rác thải
c) Nhóm tiêu chí Sinh tồn của cộng đồng gồm 8 tiêu chí:
- Tỉ lệ giảm các điêm chết về môi trường
- Tỉ lệ biến động tội phạm bạo lực cấp độ I hàng năm
- Mức độ gắn kết của cộng đồng trong việc ra quyết định của chính quyền
- Tỉ lệ người vô gia cư
- Biến động mức cung cấp nhà ở cho người có thu nhập thấp so với nhu cầu
- Biến động về mức việc làm và nghèo đói
- Tỉ lệ tốt nghiệp cấp 3 trung bình của các trường trong thành phố
- Mức độ phát triên nghệ thuật và kinh tế
Trong các tiêu chí phát triên bền vững của thành phố Minneapolis, có rất nhiều tiêuchí phù hợp và có thê áp dụng được tại Việt Nam.Có thê nhận thấy, việc xây dựng cáctiêu chí này gắn liền với nhu cầu và tình hình thực tế của địa phương, trải qua quá trìnhtham vấn, khảo sát kĩ lưỡng trên cư dân Chính quyền thành phố luôn luôn xem xét đêsửa đổi, bổ sung, rút gọn, thay thế các tiêu chí phát triên bền vững theo từng năm
Phương pháp của thành phố Minneapolis rất có giá trị tham khảo đối với nghiêncứu của chuyên đề
2.2.3 Bộ chỉ tiêu PTBVMalaysia
Trang 32Mỗi một nước có các chỉ số phát triển bền vững đô thị riêng theo đặc điểmphát triển kinh tê - xã hội - bảo vệ môi trường của mình Nhóm nghiên cứu trích dẫncác chỉ số cơ bản trong bộ tiêu chí PTBVĐT tại malaysia như sau:
Tổng số các chỉ số PTBV đô thị gồm 50 chỉ tiêu thuộc 11 ngành sau:nhânkhẩu học, nhà ở, nền kinh tế, lợi ích và hạ tầng cơ sở, công tác xã hội, môi trường,
xã hội học, tác động về xã hội học, sử dụng đất, hình thức đô thị và di sản, giaothông, quản lý và tài chính
Bảng 2.1 : Bộ chỉ số PTBV tại Malaysia
Khu vực/Chỉ sô rri • A 1 A 4 A A J
Tiêu chuân đê xuât Mức độ Đê xuât đạt
21
<15
Trang 338.Diện tích sàn/đâu <10 Thâp 1
III Kinh tê đô thị
<1%
Trang 34VI Môi trường
26 Tỷ lệ phân bổ ngân <10% Chưa hài 1
Trang 35của môi trường/10.000 <45 Hài lòng 3
28 Tỷ lệ kinh phí đâu <5% Chưa hài 1
21
>80
30 Tổng lượng chất >80% Chưa hài 1
hài lòng
3
23
21
<50
Trang 3636 Tỷ lệ tệ nan xã hội <50
50-200
>200
ThâpTrung bình Cao
321
<50
VII
I
Sử dụng đât
37.Thời gian triên khai xây
dựng ( từ bước khởi công
đến khâu hoàn thiện)
>3 năm 3 năm 2 năm
Chậm Trung bình Đạt
123
123
123
123
123
20-50%
43 Tỷ lệ người sử dụng
phương tiện GTCC trong
giờ cao điêm (%)
<10%
10-25%
>25%
ThâpTrung bình Cao
123
10-25%
44 Đầu tư hàng năm <25% Chưa hài 1
Trang 37cho tuyến đi bộ và xe 25-53% lòng
hài lòng
3
vào buổi sáng/giờ
XI Quản lý và tài chính
47 Thu nhập thực tê <100% Chưa hài 1
trong các cơ quan nhà >130% Hài lòng 3
nước tại TW & địa Rất hài lòng
Trang 38xuất đạt được với các chỉ tiêu cao
- Một số chỉ tiêu chưa được đề cập đến như cấp điện sinh hoạt, chiếu sáng, thông tin liên lạc v.v
2.2.4 Hệ thống chỉ tiêu PTBVcủa Trung Quốc:
6- Tổng lượng tiêu hao năng lượng/ 1 vạn nhân dân tệ (GDP)
7- Tổng lượng tiêu hao nước m3/ 1 vạn nhân dân tệ (GDP)
IV- Môi trường:
8- Tỷ lệ nước thải đạt tiêu chuẩn %
9- Tỷ lệ xử lý nước thải %
10- Tỷ lệ khí thải công nghiệp %
11 -Tái chế rác thải rắn công nghiệp %
12- Xử lý rác thải sinh hoạt %
(Nguồn : Dự án VIE 01/021-Viện quy hoạch đô thị-nông thôn-Bộ Xây dựng) Nhân xét:
- Các chỉ số PTBV đô thị của Malaysia đã đưa ra các tiêu chuẩn phù hợp và đề
Trang 3914- GDP/ người
16- Tỷ lệ dịch vụ %
VI- Xã hội:
17- Khả năng chi bình quân trong đô thị nhỏ
18- Thu nhập bình quân đầu người hộ nông thôn
19- Tỷ lệ thất nghiệp
20- Tỷ lệ dùng nước sạch đô thị %
21- Tỷ lệ phổ cập bảo hiểm cho người già đô thị %
22- Tỷ lệ bảo hiểm cho người già nông thôn %
23- Tỷ lệ nhân viên y tế/ 1000 người
24- Mức độ phủ TV cáp %
25- Tỷ lệ chết trẻ sơ sinh %
26- Tỷ lệ phạm tội án hình sự %
VII- Khoa học giáo dục:
27- Tỷ lệ ngân sách địa phương chi cho khoa học %
28- Tỷ lệ cao đẳng/1vạn người
29- Chi ngân sách cho giáo dục %
30- Tỷ lệ mù chữ trong thanh niên %
Nhưng nhận xét: Bộ chỉ tiêu PTBV của Trung Quốc ngắn gọn, cô đọng, bao gồmđầy đủ các nội dung Bộ chỉ tiêu không cố định, tuỳ theo đặc điểm của từng địa phương
có các chỉ tiêu khác nhau Theo định kỳ 2-3 năm sẽ điều chỉnh một lần.Bộ chỉ tiêu củaTrung Quốc đã đề cập đến chỉ tiêu cây xanh của đô thị và toàn quốc, thí dụ ở thành phốBắc kinh đạt 11 m2/ người
Bộ chỉ tiêu PTBV phụ thuộc nhiều vào trình độ phát triển, các vấn đề kinh tế - xãhội - môi trường bức xúc cần giải quyết của mỗi nước Nghiên cứu bộ chỉ tiêu PTBV củacủa một số nước nước đang phát triển trong khu vực (như Indonesia, Philippin, Thái Lan,Trung Quốc) và một số nước phát triển (như Thuỵ Điển, Anh, Mỹ) cho thấy trong khicác nước đang phát triển quan tâm nhiều hơn đến các vấn đề đói nghèo, thất nghiệp, cácđiều kiện tối thiểu để đảm bảo cuộc sống thì ở các nước phát triển sự quan tâm tập trungvào các vấn đề bình đẳng, chất lượng cuộc sống, các vấn đề xã hội nảy sinh một nền kinh
tế phát triển và vấn đề ô nhiễm môi trường
Trang 40Từ tổng quan bài học kinh nghiệm xây dựng bộ chỉ tiêu PTBVĐT, nhóm
nghiên cứu đề xuất bộ chỉ tiêu phát triên bền vững đô thị
Đề xuất bộ chỉ tiêu nghiên cứu cho chuyên đề
Bảng 2.2: Bộ chỉ tiêu đề xuất cho chuyên đề
I.Vị trí, quy mô, đặc điêm khu đô thị ha
3 1 Thu gom vận chuyên phân loại xử lý rác thải - Số lần thu rác/ ngày
- Thực hiện phân loại rác tại3.2 Phí rác thải
3.3 Số thùng rác công cộng trung bình trên m2 4
- Mức độ sử dụng phương tiện công cộng
- Khoảng cách từ nhà tới nơi làm việc, đi học
III Xã hội
1 Giáo dục: số cơ sở mầm non, trường học trong -Số học sinh/1000 dân -Số liệu thứ