Muc tiêu nghiên cứu việc lựa chọn đề tài thảo luận về sự phát trien bền vững, lí luận và thực tiễnnhằm các mục đích sau: ♦♦♦ Phân tích các ảnh hưởng của môi trường đối với sự phát trien
Trang 1I Lí do chon đề tài.
Những hoạt động của con người đã làm cho rất nhiều loài bị tuyệt chủng Ke
từ năm 1600 đến nay khoảng 21% các loài động vật và 1,3% các loài chim trên thếgiới đã bị tuyệt chủng Tốc độ tuyệt chủng của các loài trở nên ngày càng cao.Những loài còn sống sót thì cũng có nguy cơ đứng bên bờ của sự tuyệt chủng Hơn99% những sự tuyệt chủng thời cận đại là do con người gây ra
Sự ô nhiễm môi trường loại bỏ rất nhiều loài ra khỏi quần the sinh học củachúng ke cả ở những nơi mà cấu trúc quần xã không bị ảnh hưởng lớn Sự ô nhiễmmôi trường bao gồm: sử dụng quá mức thuốc trừ sâu, các chất thải công nghiệp,phân bón hóa học và ô nhiễm không khí gây ra mưa axit, nitơ bị lắng đọng quámức, các khí quang hóa và khí ôzôn Như chúng ta đã biết khí hậu địa cầu có the bịthay đổi trong thế kỷ XXI bởi vì lượng khí cacbonnic thải vào khí quyên quá lớn
do quá trình đốt cháy các nhiên liệu hóa thạch Mức độ tăng nhiệt độ dự kiến sẽnhanh đến mức nhiều loài không thê nào điều chỉnh được biên độ sống của chúng
và sẽ bị tuyệt chủng
Hiện nay tình trạng nghèo khó vẫn diễn ra ở nông thôn Việc cải tiến đạthiệu quả cao hơn các phương pháp săn bắn và hái lượm, quá trình toàn cầu hóa nềnkinh tế đã thúc đấy sự khai thác quá mức đối với rất nhiều loài, đấy chúng đến sựtuyệt chủng Các nền văn minh của các xã hội trước đây có những truyền thống,thói quen hạn chế khai thác tài nguyên quá mức, nhưng ngày nay, những truyềnthống đó đã bị phá vỡ và con người vô tình hoặc hữu ý đã chuyen hàng ngàn loàiđến những vùng đất mới trên thế giới Một số loài nhập cư đã có tác động xấu đốivới các loài bản địa dẫn đến dịch bệnh và động vật sống ký sinh thường gia tăngkhi các loài động vật bị nuôi nhốt tại những khu bảo tồn thiên nhiên và không the
di chuyen đi lại trong một địa bàn rộn lớn Động vật bị nuôi nhốt thường có tỷ lệ bịmắc bệnh cao và các bệnh dịch đôi khi lan truyền giữa các loài động vật có quan
Trang 2trường và sự phát trien bền vững
II Muc tiêu nghiên cứu
việc lựa chọn đề tài thảo luận về sự phát trien bền vững, lí luận và thực tiễnnhằm các mục đích sau:
♦♦♦ Phân tích các ảnh hưởng của môi trường đối với sự phát trien kinh tế
♦♦♦ Nhận thức rõ các nguy cơ, mặt lợi, mặt hại của sự phát trien kinh tế đến đời sống xã hội, môi trường, con người hiện tại và tương lai Từ đó có the suy nghĩ về những giải pháp hài hòa giữa sự phát trien và bảo vệ môi trường, nhắm đến một sự phát trien bền vững
III Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này thông qua việc thu thập, phân tích các tài liệu có liênquan đến sự phát trien bền vững, các bài báo, các tác phấm nghiên cứu của các nhàkhoa học trong nước, nước ngoài đã được công bố, các tài liệu, giáo trình mônkinh tế phát trien, các số liệu thống kê, các quan sát thực tế
IV Phạm vi nghiên cứu
♦♦♦ Đề tài này chỉ nghiên cứu trong phạm vi “Sự phát triển bền vững và môitrường”
CHƯƠNG II NỘI DUNG
Trang 3của con người
Tháng 4 năm 1968: Tổ chức The Club of Rome được sáng lập, đây là một tổchức phi chính phủ hỗ trợ cho việc nghiên cứu "Những vấn đề của thế giới" - mộtcụm từ được đặt ra nhằm diễn tả những vấn đề chính trị, văn hóa, xã hội, môitrường và công nghệ trên toàn cầu với tầm nhìn lâu dài Tổ chức này đã tập hợpnhững nhà khoa học, nhà nhiên cứu, nhà kinh doanh cũng như các nhà lãnh đãocủa các quốc gia trên thế giới (bao gồm cả Tổng thống Liên xô MikhailSergeyevich Gorbachyov và Rigoberta Menchú Tum) Trong nhiều năm, The Club
of Rome đã công bố một số lượng lớn các báo cáo, bao gồm cả bản báo cáo TheLimits to Growth (Giới hạn của sự tăng trưởng) - được xuất bản năm 1972 đề cậptới hậu quả của việc tăng dân số quá nhanh, sự hữu hạn của các nguồn tài nguyên
Tháng 6 năm 1972: Hội nghị của Liên Hợp Quốc về con người và môitrường được tổ chức tại Stockhom, Thụy Điển được đánh giá là là hành động đầutiên đánh dấu sự nỗ lực chung của toàn the nhân loại nhằm giải quyết các vấn đề
về môi trường Một trong những kết quả của hội nghị lịch sử này là sự thông quabản tuyên bố về nguyên tắc và kế hoạch hành động chống ô nhiễm môi trường.Ngoài ra, Chương trình Môi trường của Liên Hợp Quốc cũng được thành lập
Thuật ngữ "phát trien bền vững" xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong
ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên
và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: "Sự pháttrien của nhân loại không the chỉ chú trọng tới phát trien kinh tế mà còn phải tôntrọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh tháihọc"
Năm 1984: Đại hội đồng Liên hiệp quốc đã ủy nhiệm cho bà Gro HarlemBrundtland, khi đó là Thủ tướng Na Uy, quyền thành lập và làm chủ tịch Ủy banMôi trường và Phát trien Thế giới (World Commission on Environment andDevelopment - WCED), nay còn được biết đến với tên Ủy ban Brundtland Tới
Trang 4sự phát trien bền vững.
Năm 1987: Hoạt động của Ủy ban Môi trường và Phát trien Thế giới trở nênnóng bỏng khi xuất bản báo cáo có tựa đề "Tương lai của chúng ta" (tựa tiếng Anh:Our Common Futur và tiếng Pháp là Notre avenir à tous, ngoài ra còn thường đượcgọi là Báo cáo Brundtland) Bản báo cáo này lần đầu tiên công bố chính thức thuậtngữ "phát trien bền vững", sự định nghĩa cũng như một cái nhìn mới về cách hoạchđịnh các chiến lược phát trien lâu dài Nhờ Báo cáo Brundtland của Ủy ban Môitrường và Phát trien Thế giới - WCED (nay là Ủy ban Brundtland) Báo cáo nàyghi rõ: Phát trien bền vững là "sự phát trien có the đáp ứng được những nhu cầuhiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu củacác thế hệ tương lai " Nói cách khác, phát trien bền vững phải bảo đảm có sựphát trien kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ
Đe đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổchức xã hội phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa 3 lĩnh vựcchính: kinh tế - xã hội - môi trường
Năm 1989: Sự phát hành và tầm quan trọng của Our Common Futur đã đượcđưa ra bàn bạc tại Đại hội đồng Liên Hiệp quốc và đã dẫn đến sự ra đời của Nghịquyết 44/228 - tiền đề cho việc tổ chức Hội nghị về Môi trường và Phát triển củaLiên hiệp quốc
Năm 1992: Rio de Janeiro, Brasil là nơi đăng cai tổ chức Hội nghị thượngđỉnh về Trái Đất, tên chính thức là Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liênhiệp quốc (UNCED) Tại đây, các đại biểu tham gia đã thống nhất những nguyêntắc cơ bản và phát động một chương trình hành động vì sự phát triển bền vững cótên Chương trình Nghị sự 21 (Agenda 21) Với sự tham gia của đại diện hơn 200nước trên thế giới cùng một số lượng lớn các tổ chức phi chính phủ, hội nghị đãđưa ra bản Tuyên ngôn Rio về môi trường và phát triển cũng như thông qua một sốvăn kiện như hiệp định về sự đa dạng sinh học, bộ khung của hiệp định về sự biến
Trang 5nhận lại khái niệm này, và đã gửi đi một thông điệp rõ ràng tới tất cả các cấp củacác chính phủ về sự cấp bách trong việc đấy mạnh sự hòa hợp kinh tế, phát triển xãhội cùng với bảo vệ môi trường.
Năm 2002, Hội nghị thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững (còn gọi làHội nghị Rio +10 hay Hội nghị thượng đỉnh Johannesburg) nhóm họp tạiJohannesburg, Cộng hòa Nam Phi với sự tham gia của các nhà lãnh đạo cũng nhưcác chuyên gia về kinh tế, xã hội và môi trường của gần 200 quốc gia, Hội nghịnày là dịp cho các bên tham gia nhìn lại những việc đã làm 10 năm qua theophương hướng mà Tuyên ngôn Rio và Chương trình Nghị sự 21 đã vạch ra, tiếptục tiến hành với một số mục tiêu được ưu tiên Những mục tiêu này bao gồm xóanghèo đói, phát triển những sản phấm tái sinh hoặc thân thiện với môi trườngnhằm thay thế các sản phấm gây ô nhiễm, bảo vệ và quản lý các nguồn tài nguyênthiên nhiên Hội nghị cũng đề cập tới chủ đề toàn cầu hóa gắn với các vấn đề liênquan tới sức khỏe và phát triển Các đại diện của các quốc gia tham gia hội nghịcũng cam kết phát triển chiến lược về phát triển bền vững tại mỗi quốc gia trướcnăm 2005 Việt Nam cũng đã cam kết và bắt tay vào hành động với Dự ánVIE/01/021 "Hỗ trợ xây dựng và thực hiện Chương trình Nghị sự 21 của ViệtNam" bắt đầu vào tháng 11/2001 và kết thúc vào tháng 12/2005 nhằm tạo tiền đềcho việc thực hiện V ietnam Agenda 21
1.2 Nôi dung khái niêm Tác giả David Munro cho rằng: Bền vững không phải là mục tiêu chính xác mà là một tiêu chuấn đối với quan điểm và hành động,
đó là: “Một quá trình tiếp diễn, có tính lặp đi, lặp lại, thông qua kinh nghiệm trong việc quản lý các hệ thống phức hợp, được tích lũy lại, được đánh giá và được vận dụng”
Stephan Viederman xác định: “Bền vững không phải là vấn đề kỹ thuật cầngiải quyết, mà là một tầm nhìn vào tương lai, đảm bảo cho chúng ta một lộ trình vàgiúp tập trung chú ý vào một tập hợp các giá trị và những nguyên tắc mang tínhluân lý và đạo đức để hướng dẫn hành động của chúng ta” Tất yếu, một trong
Trang 6tìnhhình trongtoàn hệthống
không chỉ ở tầm trung hạn, mà còn là tầm dài hạn
Trên thực tế, hơn 10 năm qua, các nhà khoa học - trên các lĩnh vực và diễnđàn khác nhau khắp nơi trên hành tinh này, đều đi đến một sự thống nhất có tínhtương đối về bản chất và khía cạnh hiện thực của phát triển bền vững
Còn Denis Goulet cho rằng: Sự phát triển thực sự bền vững cần bao hàm 3khía cạnh: Kinh tế, chính trị và văn hóa
Trang 7Riêng Goulet có ý kiến tách khía cạnh chính trị và văn hóa ra khỏi phạm trù
xã hội - thêm vào đó là “mâu thuẫn về một cuộc sống đầy đủ” Ông tự đặt ra câuhỏi: “Lịch sử phát trien đích thực như vậy có tương thích với nền kinh tế được toàncầu hóa hay lại làm tăng thêm những khác biệt về kinh tế” Điều đó, đã đưa ranhận định: “Phát trien bền vững là một nhiệm vụ khó khăn vô cùng” Khó khăn là
ở chỗ: đây không chỉ đơn thuần là xác định chuấn của sự phát trien, mà là phải bảođảm tính khái quát và hệ thống khá đầy đủ các khía cạnh: kinh tế, xã hội, chính trị,môi trường, sinh thái , đặc biệt, nếu còn chưa xác định rõ phạm trù văn hóa làm
cơ sở lâu bền cho sự phát trien của mỗi dân tộc thì khó khăn gặp phải sẽ tăng lênbội phần
Nói thêm khởi nguồn của khái niệm (thuật ngữ) “Tính bền vững” và “Pháttrien bền vững” được Charles V Kidd (1992) nêu ra Khái niệm “Phát trien bềnvững” được sử dụng như một công cụ hoạt động trong các cộng đồng bảo tồn vàphát trien quốc tế nhờ việc công bố “Chiến lược bảo tồn thế giới” năm 1980 củaIUCN - Liên minh bảo tồn thế giới.I
Phát trien bền vững là một khái niệm mới nhằm định nghĩa một sự phát trien
về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục phát trien trong tươnglai xa Khái niệm này hiện đang là mục tiêu hướng tới nhiều quốc gia trên thế giới,mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa lý, văn hóa riêng
đe hoạch định chiến lược phù hợp nhất với quốc gia đó
Theo báo cáo Brundtland: "Phát trien bền vững là sự phát trien thoả mãnnhững nhu cầu của hiện tại và không phương hại tới khả năng đáp ứng nhu cầu củacác thế hệ tương lai" Đó là quá trình phát trien kinh tế dựa vào nguồn tài nguyênđược tái tạo và tôn trọng những quá trình sinh thái cơ bản, sự đa dạng sinh học vànhững hệ thống trợ giúp tự nhiên đối với cuộc sống của con người, động vật vàthực vật Nhưng ở một mức độ nào đó, nó cũng hàm chứa sự bình đẳng giữa nhữngnước giầu và nghèo và giữa các thế hệ Thậm chí, nó còn bao hàm sự cần thiết giải
I Sách: Thế giới bền vững - Chủ biên Thaddcusc Trzyn - Viện Nghiên cứu chiến lược và Chính sách Khoa học & Công nghệ - Hà Nội năm 2001
Trang 8trừ quân bị, coi đây là điều kiện tiên quyết nhằm giải phóng nguồn tài chính cầnthiết đe áp dụng khái niệm phát trien bền vững.
Như vậy, khái niệm "Phát trien bền vững" được đề cập trong báo cáoBrundtland, không chỉ là nỗ lực nhằm hoà giải kinh tế và môi trường, hay thậm chíphát trien kinh tế
- xã hội và bảo vệ môi trường Nội dung của nó còn bao hàm nhữngkhía cạnh chính trị
- xã hội, đặc biệt là bình đẳng xã hội Mặc dù không loại trừ sự cầnthiềt của một số hình thức tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là ở những nước nghèonhất, nhưng Brundtland vẫn nhìn nhận phát trien như một quá trình phức tạp vượt
ra ngoài sự tăng trưởng kinh tế giản đơn Phát trien bao hàm một sự biến đổi kinh
tế và xã hội không ngừng, ngay cả khái niệm hẹp về sự bền vững vật chất cũnghàm chứa mối quan tâm đối với bình đẳng xã hội liên thế hệ, mối quan tâm cầnphải được mở rộng một cách hợp lý tới sự bình đẳng giữa các thế hệ trong quátrình phát trien
2 HỆ THỐNG CÁC NGUYÊN TẮC PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÀĐÁNH GIÁ
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
A Nguyên tắc cơ bản phát triển bền vững
Tại hội nghị thượng đỉnh của thế giới về Môi trường và Phát trien tổ chức tạiRio de Janero (Braxin), các nhà hoạt động về kinh tế, xã hội, môi trường cùng vớicác nhà chính trị đã thống nhất về quan điem phát trien bền vững, coi đó là tráchnhiệm chung của các quốc gia, của toàn nhân loại và đồng thuận tuyên bố chung
về quan điem phát trien bền vững gồm 27 nguyên tắc cơ bản dưới đây:
1 Con người là trung tâm của những mối quan tâm về sự phát trien lâudài Con người có quyền được hưởng một cuộc sống hữu ích và lành mạnh, hài hoàvới thiên nhiên
2 Phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc và những nguyên tắc của
Trang 9Nhóm 1 - lớp cao học QTKD - Đại học Hồng Bàng Trang 9
mình theo những chính sách về môi trường và phát trien của mình, và có tráchnhiệm đảm bảo rằng những hoạt động trong phạm vi quyền hạn và kiem soát củamình không gây tác hại gì đến môi trường của các quốc gia khác hoặc những khuvực ngoài phạm vi quyền hạn quốc gia
3 Cần phải thực hiện phát trien đe đáp ứng một cách bình đẳng nhữngnhu cầu về phát trien và môi trường của các thế hệ hiện nay và tương lai
4 Đe thực hiện được sự phát trien bền vững, bảo vệ môi trường nhấtthiết phải là bộ phận cấu thành của quá trình phát trien và không the xem xét táchrời quá trình đó
5 Tất cả các quốc gia và tất cả các dân tộc cần hợp tác trong nhiệm vụchủ yếu là xoá bỏ nghèo nàn như một yêu cầu không the thiếu được cho sự pháttrien bền vững đe giảm những chênh lệch về mức sống và đe đáp ứng tốt hơn nhucầu của đại đa số nhân dân trên thế giới
6 Cần dành sự ưu tiên đặc biệt cho các nhu cầu của các nước đang pháttrien, nhất là các nước kém phát trien nhất và những nước dễ bị tổn hại về môitrường; những hoạt động quốc tế trong lĩnh vực môi trường và phát trien cũng nênchú ý đến quyền lợi và yêu cầu của tất cả các nước
7 Các quốc gia cần hợp tác trong tinh thần "chung lưng đấu cật toàncầu đe gìn giữ, bảo vệ và phục hồi sự lành mạnh và tính toàn bộ của hệ sinh tháicủa Trái đất Vì sự đóng góp khác nhau vào việc làm thoái hoá môi trường toàncầu, các quốc gia có những trách nhiệm chung nhưng khác biệt nhau Các nướcphát trien công nhận trách nhiệm của họ trong các nỗ lực quốc tế về phát trien bềnvững do những áp lực mà xã hội của họ gây ra cho môi trường toàn cầu và donhững công nghệ và những nguồn tài chính của họ chi phối, điều khien
8 Đe đạt được sự phát trien bền vững và chất lượng cao hơn cho mọingười, các quốc gia nên giảm dần và loại trừ những phương thức sản xuất và tiêudùng không bền vững và đấy mạnh những chính sách dân số thích hợp
9 Các quốc gia nên hợp tác đe củng cố, xây dựng năng lực hội sinh chophát trien bền vững bằng cách nâng cao sự hieu biết khoa học thông qua trao đổi
Trang 10kiến thức khoa học và công nghệ và bằng cách đấy mạnh sự phát trien và thíchnghi, truyền bá và chuyen giao công nghệ, ke cả những công nghệ mới và cải tiến.
10 Các vấn đề môi trường được giải quyết tốt nhất với sự tham gia củadân chúng có liên quan và ở cấp độ thích hợp Ớ cấp độ quốc gia, mỗi cá nhân cóquyền được các nhà chức trách cung cấp các thông tin thích hợp liên quan đến môitrường, bao gồm những thông tin về những nguyên liệu và hoạt động nguy hiemtrong cộng đồng và cơ hội tham gia vào quá trình quyết định Các quốc gia cầnkhuyến khích, tuyên truyền và
Trang 11Nhóm 1 - lớp cao học QTKD - Đại học Hồng Bàng Trang
11
tạo đều kiện cho sự tham gia của nhân dân bằng cách phổ biến những thôngtin rộng rãi Nhân dân cần được tạo điều kiện tiếp cận có hiệu quả những văn bảnluật pháp và hành chính kể cả uốn nắn và sửa chữa
11 Các quốc gia cần ban hành luật pháp hữu hiệu về môi trường, các tiêuchuấn môi trường, những mục tiêu quản ý và những ưu tiên phải phản ánh nộidung môi trường và phát triển mà chúng gắn với Những tiêu chuấn mà một vàinước áp dụng có thể không phù hợp và gây tổn phí về kinh tế - xã hội không biệnminh được cho các nước khác, nhất là các nước đang phát triển
12 Các nước nên hợp tác để phát huy một hệ thống kinh tế thế giớithoáng và giúp đỡ nhau dẫn đến sự phát triển kinh tế và phát triển bền vững ở tất
cả các nước, để nhằm đúng hơn vào những vấn đề thoái hoá môi trường
13 Những biện pháp chính sách về thương mại với những mục đích môitrường không nên trở thành một phương tiện phân biệt đối xử độc đoán hay vô lýhoặc một sự ngăn cản trá hình đối với thương mại quốc tế Cần tránh những hoạtđộng đơn phương để giải quyết những vấn đề thách thức của môi trường ngoàiphạm vi quyền hạn của những nước nhập cảng Những biện pháp môi trường nhằmgiải quyết những vấn đề môi trường ngoài biên giới hay toàn cầu dựa trên sự nhấttrí quốc tế cao nhất có thể đạt được
14 Các nước cần soạn thảo luật quốc gia về trách nhiệm pháp lý và bồithường cho những nạn nhân của sự ô nhiễm và tác hại môi trường khác Các quốcgia cũng cần hợp tác một cách khấn trương và kiên quyết hơn để phát triển hơnnữa luật quốc gia về trách nhiệm pháp lý và bồi thường về những tác hại môitrường do những hoạt động trong phạm vi quyền hạn hay kiểm soát của họ gây racho những vùng ngoài phạm vi quyền hạn của họ
15 Các quốc gia nên hợp tác một cách có hiệu quả để ngăn cản sự thaythế và chuyển giao các quốc gia khác bất cứ một hoạt động nào và một chất nàogây nên sự thoái hoá môi trường nghiêm trọng hoặc xét thấy có hại cho sức khoẻcon người
Trang 1216 Để bảo vệ môi trường, các quốc gia cần áp dụng rộng rãi phươngpháp tiếp cận ngăn ngừa tuỳ theo khả năng từng quốc gia Ớ chỗ nào có nguy cơgây tác hại nghiêm trọng hay không sửa chữa được thì không thể nêu lý do là thiếu
sự chắc chắn khoa học hoàn toàn để trì hoãn áp dụng các biện pháp hữu hiệu nhằmngăn chặn sự thoái hoá môi trường
17 Các nhà chức trách của mỗi quốc gia nên cố gắng đấy mạnh sự quốc
tế hoá những chi phí môi trường và sử dụng các biện pháp kinh tế căn cứ vào quanđiểm cho rằng về nguyên tắc người gây ô nhiễm phải chịu phí tổn ô nhiễm, với sựquan tâm đúng mức tới quyền lợi chung và không ảnh hưởng xấu đến nền thươngmại và đầu tư quốc tế
18 Đối với những hoạt động có thể gây những tác động xấu tới môitrường cần có sự đánh giá như một công cụ quốc gia về tác động môi trường vàtuân theo quyết định của một cơ quan quốc gia có thấm quyền
19 Các quốc gia cần thông báo ngay cho các quốc gia khác về bất cứmột thiên tai nào hay tình hình khấn cấp nào có thể gây những tác hại đột ngột đốivới môi trường của nước đó Cộng đồng quốc tế phải ra sức giúp các quốc gia bịtai hoạ này
20 Các quốc gia cần phải thông báo trước, kịp thời và cung cấp thông tin
có liên quan cho các quốc gia có khả năng bị ảnh hưởng về những hoạt động có thểgây ảnh hưởng xấu đáng ke đến môi trường vượt ra ngoài biên giới và cần thamkhảo ý kiến của các quốc gia này sớm và có thiện ý
21 Phụ nữ có một vai trò quan trọng trong quản lý và phát trien môitrường Do đó, việc họ tham gia đầy đủ là cần thiết đe đạt được sự phát trien bềnvững
22 Cần huy động tinh thần sáng tạo, những lý tưởng và sự can đảm củathanh niên thế giới nhằm tạo nên một sự chung lưng đấu cật đe đạt được sự pháttrien bền vững và đảm bảo một tương lai tốt đẹp hơn cho tất cả mọi người
Trang 13Nhóm 1 - lớp cao học QTKD - Đại học Hồng Bàng Trang
13
23 Nhân dân bản xứ, những cộng đồng của họ và các cộng đồng kháccủa địa phương có vai trò quan trọng trong quản lý và phát trien môi trường về sựhieu biết và tập tục truyền thống của họ Các quốc gia nên công nhận và ủng hộthích đáng bản sắc văn hoá và những mối quan tâm của họ, khiến họ tham gia cóhiệu quả vào việc thực hiện một sự phát trien bền vững
24 Môi trường và tài nguyên thiên nhiên của các dân tộc bị áp bức, bịthống trị và bị chiếm đóng cần phải được bảo vệ
25 Chiến tranh vốn dĩ là yếu tố phá hoại sự phát trien bền vững Do đó,các quốc gia cần phải tôn trọng luật pháp quốc tế, bảo vệ môi trường trong thờigian có xung đột vũ trang và hợp tác đe phát trien môi trường hơn nữa
26 Hoà bình, Phát trien và Bảo vệ môi trường phụ thuộc nhau và khôngthe chia cắt được Các quốc gia cần phải giải quyết mọi bất hoà về môi trường mộtcách hoà bình và bằng các biện pháp thích hợp theo Hiến chương Liên hợp quốc
27 Mọi quốc gia và dân tộc cần hợp tác có thiện ý với tinh thần chunglưng đấu cật trong việc thực hiện các nguyên tắc được the hiện trong bản tuyên bốnày và trong sự phát trien hơn nữa luật pháp quốc tế trong lĩnh vực phát trien bềnvững
B Tiêu chí để đo lường sư phát triển bền vững
Đe đo lường sự phát trien bền vững, phải dựa trên các chỉ tiêu về: Bền vữngsinh thái; bền vững chính trị - xã hội, bền vững về mặt kinh tế bảo đảm duy trì bảnsắc văn hóa mọi dân tộc Đặc biệt, đe bảo đảm cho sự phát trien bền vững, trướchết ta phải xác định tính bền vững của một đường lối phát trien Con đường, cáchthức, phương pháp làm việc của mỗi con người, mỗi dân tộc đe đưa đất nước pháttrien bền vững thì hết sức đa dạng và phong phú
Trên thực tế, chúng ta cần có nhiều công trình nghiên cứu khoa học “đắcdụng” và hệ thống tri thức đe đáp ứng yêu cầu thực tế của sự phát trien bền vững,nhưng đó phải là một nền khoa học mới với một nền kinh tế tri thức mới có thegiúp ta định hướng đúng, kịp thời vào các vấn đề đặt ra Phải là một hệ thống trí
Trang 14thức khoa học không thoát ly các giá trị chính trị, kinh tế, xã hội và đạo lý, bảođảm tính quy luật và khách quan, không thiên lệch trong cách tiếp cận, có các bướcthử nghiệm những giả thiết khoa học một cách bài bản và chính xác.
Các hoạt động nghiên cứu khoa học phục vụ sự phát trien bền vững phảiđược đặt trong khuôn mẫu mới, biết chấp nhận sự phát trien mang tính quy luậtcủa xã hội và tự nhiên, đe từ đó mới có the điều khien nó thoát ra khỏi những nhucầu nghiên cứu phiến diện, nhằm góp phần không chỉ nâng cao giá trị phục vụ lợiích cho toàn xã hội, mà còn là việc nâng cao chất lượng cuộc sống của mỗi conngười, đây chính là mục tiêu trọng tâm trong thời kỳ đổi mới, toàn cầu hóa hiệnnay
Phát trien bền vững bao gồm sự thay đổi Công nghệ hiện đại, Công nghệsạch, Công nghệ có hiệu quả hơn nhằm tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên hoặc từsản phấm kinh tế - xã hội
Muốn vậy, phải giải quyết các mâu thuẫn như sản xuất -nhu cầu-tài nguyênthiên nhiên và phân phối, vốn đầu tư, cũng như Công nghệ tiên tiến cho sản xuất.Các nước trên thế giới đều có điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên; điềukiện kinh tế -xã hội khác nhau, đưa đến hiện tượng có nước giàu và nước nghèo,nước công nghiệp phát trien và nước nông nghiệp Do đó cần xem xét bốn vấn đề:con người, kinh tế, môi trường và công nghệ, qua đó phân tích phát trien bền vững
và có đạt được mục tiêu phát trien bền vững
Tóm lại: Phát trien bền vững liên quan đến 3 giác độ là kinh tế - xã hội - môitrường được mô phỏng như hình dưới đây:
Phát Triển bề vững
Trang 15Nhóm 1 - lớp cao học QTKD - Đại học Hồng Bàng Trang
• Giá cố định: là giá tại năm có nền kinh tế tương đối ổn định
- GNP, GDP thực tế được tính từ GNP, GDP danh nghĩa điều chỉnh theo tỷ lệ lạm phát
Trang 16• Tong thu nhập quốc dân bình quân đầu người Khả năng nâng cao phúc
lợi vật chất cho nhân dân một nước, không chỉ là tăng sản lượng của nền kinh tế,
mà còn liên quan đến vấn đề dân số Do vậy, chỉ số tổng thu nhập bình quân đầungười là một chỉ số thích hợp hơn đe phản ánh sự tăng trưởng kinh tế GNI bình
Bảng 2 Tốc độ tăngtrưởng GDP của một sốnước, năm2000
Nướ Tôc độ tăng trưởng Nước Tôc độ tăng trưởng
Trang 17Nhóm 1 - lớp cao học QTKD - Đại học Hồng Bàng Trang
1100,0
1300,078,5
840.0390.0
Nguồn: World Development Indicators Database, 4/2002
• Cùng với GNI bình quân đầu người, GDP bình quân đầu người cũng
là một chỉ tiêu quan trọng đo lường thu nhập bình quân của dân cư của một quốc gia
2 Nhóm chỉ tiêu xã hôi
• Các chỉ tiêu chăm sóc y tế
- Số người dân/bác sỹ
- Tỷ lệ phụ nữ sinh đẻ được sự giúp đỡ của y tế
- Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng
- Tỷ lệ chết trẻ sơ sinh
Trang 18- Tuổi thọ kỳ vọng (Life expectancy at birth): Được tính bằng thời gian
kỳ vọng sống từ khi được sinh ra bình quân của cư dân
• Môt số chỉ tiêu phát triển xã hôi
cần thiết nâng cao trình độ văn hoá,khoa học kỹ thuật cho người dân, nhờ vậy người dân sẽ tích cực
trường cho sự phát trien bền vững Muốn vậy phải đào tạo một đội ngũ cácnhà giáo đủ về số lượng, cũng như các thầy thuốc, các kỹ thuật viên, các chuyêngia, các nhà khoa học trong mọi lĩnh vực của đời sống Đảm bảo các tiêu chí :
- Tỷ số người dân/1 bác sĩ
- Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng năm
- Tỷ lệ chết trẻ sơ sinh dưới 1 tuổi, năm
- Các chỉ tiêu về dân số và việc làm
- Tốc độ tăng dân số: Thường được so sánh với tốc độ tăng trưởngkinh tế đe xem xét khả năng đảm bảo việc làm
- Cơ cấu dân số, lao động theo ngành, theo giới, theo độ tuổi và theovùng
(ngh
Tốc
đ
Cơ cấutheo giới (%)
Cơ cấu theo vùng (%)
Nam
Nữ
Thà
nh thị
Nôngthôn
Trang 19Nhóm 1 - lớp cao học QTKD - Đại học Hồng Bàng Trang
19
- Một số chỉ tiêu về dân số và cơ cấu lao động
Tốc độ tăng dân số năm 2000 của một số nước: Đức: 0,1%, Nhật: 0,2%,Trung quốc: 0,9%, Thái Lan: 0,8%, các nước chậm phát triển nhất: 2,3% (Nguồn:World Development Indicators Database, 4/2002) Cơ cấu lao động của lực lượnglao động chia theo nhóm ngành của Việt Nam tại thời điểm 1/7/2000:
- Nông nghiệp: 22.650.814 người, chiếm 62,56%
- Công nghiệp và XD: 4.761.436 người, chiếm 13,15%
- Dịch vụ: 8.794.785 người, chiếm 24,29%
- Các chỉ tiêu về phân phối thu nhập và nghèo đói
Bất bình đẳng giữa các vùng, giữa các dân tộc, giữa nam và nữ, giữa các thếhệ:
Bảng Phân phối thu nhập theo quy mô một quốc gia đang phát triển
Bảng 5Các nhóm dân sô Phân trăm
thu nhập
(%)
- Đường cong Lorenz
Đường cong Lorenz là đường thể hiện mối quan hệ giữa các nhóm dân số vàphần trăm thu nhập tương ứng của họ trong tổng thu nhập quốc dân Đường congLorenz được xây đựng trên phương thức phân phối thu nhập theo quy mô
Từ các số liệu ví dụ ở Bảng 5 chúng ta có được những thông tin sau
Dân số cộng dồn - Xi(%) Thu nhập cộng dồn - Yi(%)
Trang 21Nhóm 1 - lớp cao học QTKD - Đại học Hồng Bàng Trang
Theo thống kê của Ngân hàng Thế giới khoảng phân bổ của Hệ số Gini nhưsau:
- Những nước có thu nhập thấp: 0,3 < G < 0,5
- Những nước có thu nhập trung bình: 0,4 < G < 0,6
- Những nước có thu nhập cao: 0,2 < G < 0,4
Từ thực tế trên Ngân hàng Thế giới đưa ra kết luận là quốc gia nào có Hệ sốGini ở mức xung quanh 0.3 thì được đánh giá là tốt
Tỷ lệ nghèo đói của Việt Nam, năm 2001 là 32%, Trung Quốc: 6% (World Development Indicators Database, 4/2002).
- Chỉ số Phát triển con người (HDD Chỉ số HDI một chỉ tiêu tổng hợp, thường được dùng đe xếp loại mức độ phát triển con người của một đất nước
Chỉ số HDI được tính tổng hợp từ các chỉ tiêu cơ bản:
+ Tuổi thọ kỳ vọng + GDP bình quân đầu người + Trình độ học vấn:
+ Tỷ lệ biết chữ của cư dân + Tỷ lệ trẻ em nhập học
HDI = IA — I E — —
Trang 22Trong đó: IA : Chỉ số đo tuổi thọ
IE : Chỉ số tri thức, giáo dục IĨN: Chỉ số mức sống
Bảng 6 Chỉ số phát triển con người của Việt Nam
Trang 23Nhóm 1 - lớp cao học QTKD - Đại học Hồng Bàng Trang 23
Phạm vi phân bổ của chỉ số HDI của một quốc gia theo lý thuyết có
khoảng phân bổ là
1 : HDI : 1 Chỉ số HDI của một quốc gia càng lớn thì
càng được đánh giá cao
3 Nhóm chỉ tiêu môi trường
Ve môi trường: phát triển bền vững đòi hỏi phải sử dụng tài nguyên như đất
trồng, nguon nước, khoáng sản Đồng thời, phải chọn lựa kỹ thuật và công nghệ tiêntiến để nâng cao sản lượng, cũng như mở rộng sản xuất đáp ứng nhu cầu của dân sốtăng nhanh Phát triển bền vững đòi hỏi không làm thoái hoá các ao hồ, sông ngòi, uyhiếp đời sống sinh vật hoang dã, không lạm dụng hoá chất bảo vệ thực vật trong nôngnghiệp, không gây nhiễm độc nguồn nước và lương thực
- Tỷ lệ che phủ rừng: tính theo phần trăm (%)
- Tỷ lệ diện tích khu bảo tồn thiên nhiên so với diện tích tự nhiên, tínhtheo phần trăm (%)
- Tỷ lệ đất bị suy thoái hàng năm, tính theo phần trăm (%)
- Tỷ lệ các khu, cụm công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải
- Tỷ lệ các khu công nghiệp có hoặc sử dụng chung hệ thống xử lý rácthải rắn
- Số doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn ISO 14001
- Phát thải các khí nhà kính, tính theo tấn/năm
- Tỷ lệ các vùng đô thị có mức ô nhiễm không khí vượt quá tiêu chuẩncho phép
- Hệ sinh thái đang bị đe doạ và các loài có nguy cơ diệt chủng, tính bằng
số lượng
- Tổn thất về kinh tế do thiên tai hàng năm, phải được qui đổi ra tiền
• Chỉ tiêu tổng hợp đo lường phát triển bền vững
- Giá Trị Của 1m2 Diện Tích Đất Rừng
- Điều hòa ổn định khí hậu, hấp thụ CO2
Trang 24- Quá quan trọng trong việc lưu trữ nước và làm chậm tốc độ dòng chảy sau mưa
- Vô giá đối với bảo vệ và phát triển đa dạng sinh học, các nguồn gien quý hiếm
- Vô giá trong việc cung cấp các thảo dược quý
- Vô giá đối với sức khỏe con người
- Con ngứời đã sống vượt quá khả năng chịu tải của Trái đất (ha/người)
- Theo cách sống hiện tại, loài người đến 2050 sẽ cần 02 hành tinh như Trái đất
- Đã hơn 20 năm qua chúng ta đã sống vượt quá khả năng chịu tải của Trái đất Đó là lối sống, tiêu dùng không bền vững
Báo cáo của LHQ năm 2005 đã cảnh báo: Mặc dù 1/5 dân số Châu Á còn sống duới
2 USD/ngày nhưng vùng này đã bị khai thác quá khả năng chịu tải về môitrường của nó
20% người giầu nhất thế giới hưởng thụ và sở hữu 80% tổng số của cải vật chất80% người nghèo nhất sở hữu 20% của cải còn lại
Ve Công nghệ: phát triển bền vững là giảm thiểu tiêu thụ năng lượng và sửdụng các nguon tài nguyên thiên nhiên trong sản xuất, áp dụng có hiệu quả các loạihình công nghệ sạch trong sản xuất Trong sản xuất công nghiệp can đạt mục tiêu ítchất thải hoặc chất gây ô nhiễm môi trường, tái sử dụng các chất thải, ngăn ngừa cácchất khí thải công nghiệp làm suy giảm tang ozon bảo vệ trái đất Phát triển bền vững
và các mục tiêu phát triển kinh tế -xã hội -văn hoá -môi trường.Mỗi mục tiêu pháttriển có vị trí riêng của nó, song nó được gắn với mục tiêu khác Sự hoà nhập hài hoàhữu cơ này tạo nên sự phát triển tối ưu cho cả nhu cầu hiện tại và tương lai vì xã hộiloài người
CHƯƠNG III THỰC TIỄN Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN
1 Khái niệm về nước đang phát triển
Trang 25Nhóm 1 - lớp cao học QTKD - Đại học Hồng Bàng Trang 25
- Nước đang phát triển là quốc gia có mức sống còn khiêm tốn, có nềntảng công nghiệp kém phát triển và có chỉ số phát triển con người (HDI) không cao Ớcác nước này, thu nhập đầu người ít ỏi, nghèo nàn phổ biến và cơ cấu tư bản thấp
"Nước đang phát triển" gần nghĩa với Thế giới thứ ba thường dùng trong Chiến tranhLạnh
2 Những Đăc điểm chung của các nước đang phát triển
- Thu nhập thấp
- GDP thấp, GNI/ người thấp
- GNI bình quân đầu người ở mức 2000 USD được coi là điểm mốc đểgiải quyết các vấn đề cơ bản của con người (lương thực, y tế, giáo dục Tuy nhiên,hiện nay có trên 100 nước đang phát triển có mức thu nhập bình quân đầu người nhỏhơn mức 2000 USD, trong số đó gần một nửa có mức thu nhập bình quân đầu ngườithấp hơn 600 USD, Khả năng tích luỹ thấp Tỷ lệ tích luỹ của các nước đang pháttriển hiện nay trên dưới 10% GDP Phải chịu một áp lực lớn về dân số và việc làm -Dân số đông, tốc độ tăng dân số cao
- Sản xuất kém phát triển triển, do tỷ lệ tích luỹ thấp, dẫn đến tỷ lệ thấtnghiệp cao
- Công nghệ sản xuất lạc hậu
- Hoạt động của nền kinh tế chủ yếu dựa trên cơ sở sản xuất nhỏ, nôngnghiệp chiếm tỷ trọng cao trong GDP, kỹ thuật sản xuất thủ công, lạc hậu, năng suấtthấp
- Trình độ công nghệ của các nước đang phát trien chậm hơn từ 3 đến 6 thập kỷ so với trình độ công nghệ của các nước phát trien
- Những đặc điem cơ bản này tạo ra “vòng luấn quấn” cho các nước đang phát trien:
Trang 26- Vấn đề đặt ra là các nước đang phát trien phải tìm ra con đường phát trien củamình đe phá vỡ vòng luấn quấn trên vươn lên thành các nước phát trien Mô hình pháttrien kinh tế nào là phù hợp đe đấy nhanh quá trình phát trien của các nước đang pháttrien
Các Mục tiêu Phát trien Thiên niên kỷ Tám mục tiêu phát trien thiên niên kỷ(MDGMillennium Development Goals) bao gồm từ mục tiêu giảm một nửa tỷ lệnghèo cùng cực tới chặn đứng sự lây lan của HIV/AIDS và đạt phổ cập giáo dục tieuhọc, tất cả đều phải hoàn thành vào năm 2015
Các MDG đã được tất cả các nước cũng như tất cả các cơ quan/tổ chức pháttrien hàng đầu trên thế giới nhất trí Các mục tiêu này đã thúc đấy những nỗ lực to lớnchưa từng có nhằm đáp ứng nhu cầu của những người nghèo nhất trên thế giới.CácMDG là nhằm phục vụ con người và đảm bảo rằng:
Mọi người đều có đủ lương thực Tất cả trẻ em học hết tiểu học Phụ nữ có các
cơ hội và được tôn trọng như nam giới
Có thêm nhiều trẻ em dưới 5 tuổi lớn lên khoẻ mạnh Ngày càng có ít bà mẹ bị
tử vong khi sinh con Số người bị mắc các bệnh hiểm nghèo như HIV/AIDS và sốt rétliên tục giảm
Vòng luẩn quẩn của các nước ĐPT
Trang 27Nhóm 1 - lớp cao học QTKD - Đại học Hồng Bàng Trang 27
Chúng ta để lại cho các thế hệ con cháu mai sau một môi trường trong lành vàđấy lùi tình trạng gây hại đối với môi trường
Cộng đồng toàn cầu liên hiệp và phối hợp với nhau để xây dựng một thế giớibình đẳng và công bằng hơn Tại Hội nghị Thượng đỉnh Thiên niên kỷ của Liên HợpQuốc năm 2000, 189 quốc gia thành viên nhất trí thông qua Tuyên bố Thiên niên kỷ
và cam kết đạt được tám Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ vào năm 2015 Đây là sựđồng thuận chưa từng có của các nhà lãnh đạo trên thế giới về những thách thức quantrọng toàn cầu trong thế kỷ 21 cũng như cam kết chung về việc giải quyết nhữngthách thức này Tuyên bố Thiên niên kỷ vào các MDG là lộ trình tiến tới xây dựngmột thế giới mà ở đó không còn nghèo đói, tất cả trẻ em đều được học hành, sức khoẻcủa người dân được nâng cao, môi trường được duy trì bền vững và mọi người được
tự do, công bằng và bình đẳng
3 Thưc trangcủa các nước đang phát triển
Hình ảnh một thế giới phát triển “không bền vững”, hoàn toàn đi ngược vớitinh thần của Thượng đỉnh Rio de Janeiro năm 1992 Khoảng cách giàu nghèo giữacác quốc gia càng lớn dần so với các nước Bắc bán cầu và Nam bán cầu Đối với cácquốc gia đang phát triển, giai cấp giàu chiếm thiểu số, giai cấp nghèo chiếm tuyệt đại
đa số và giai cấp trung lưu chiếm tỷ lệ rất khiêm nhường Trên thế giới vẫn còn cóhàng tỷ người không có điều kiện tiếp cận và xử dụng nguồn nước sạch, hệ thống vệsinh thường thức hàng ngày, có mức dinh dưởng tối thiểu, có nơi cư trú an toàn, vàđược chăm sóc sức khỏe Tệ hại nhất, môi sinh tòan cầu đang phải gánh chịu hậu quả
do sự phát triển “không bền vững” gây ra
Trước hết, về khía cạnh tăng trưởng, (theo lý thuyết, để nhân đôi GDP trong 10năm, một quốc gia cần đạt tốc độ tăng trưởng trung bình 7%/năm).Bảng 7 dưới đâyviện dẫn so sánh của Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF)
Trang 28Thái Lan - 4,4 4,6 1,9 5,2 4,2
Tuy nhiên, gia tăng bất bình đẳng thu nhập lại là một thách thức lớn Theo cácnghiên cứu của Ngân hàng thế giới (WB), Chương trình Phát triển Liên hợp quốc(UNDP), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) , không chỉ có sự chênh lệch ngàycàng tăng về thu nhập giữa các nhóm dân cư mà hiện tượng này còn xảy ra giữa thànhthị với nông thôn, giữa các tỉnh có điều kiện kinh tế xã hội khác nhau Báo cáothường niên năm 2003 của GSO chỉ rõ, trung bình nhóm 20% số người thuộc nhómthu nhập cao