MỤC LỤC PHẦN I LỜI MỞ ĐẦU 1 PHẦN II NỘI DUNG 2 CHƯƠNG I MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VĂN HÓA CHÍNH TRỊ 2 1 1 Khái niệm văn hóa chính trị 2 1 1 1 Định nghĩa 2 1 1 2 Cấu trúc của văn hoá chính trị 2 1 2 Đặc. MỤC LỤCPHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU1PHẦN II: NỘI DUNG2CHƯƠNG I: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VĂN HÓA CHÍNH TRỊ21.1. Khái niệm văn hóa chính trị21.1.1. Định nghĩa:21.1.2 Cấu trúc của văn hoá chính trị.21.2. Đặc điểm và chức năng của Văn hóa Chính trị41.2.1. Đặc điểm của văn hoá chính trị.41.2.2. Chức năng của văn hoá chính trị.8CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VĂN HÓA CHÍNH TRỊ VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI102.1. Thực trạng Văn hóa Chính trị Việt Nam trong thời kỳ Covid 19102.1.1. Chủ nghĩa cá nhân với chủ nghĩa tập thể102.1.2. Khoảng cách quyền lực122.1.3. Mức độ tránh tính bất định132.1.4. Tính cương quyết với tính mềm dẻo142.2. Một số vấn đề đặt ra đối với Văn hóa Chính trị Việt Nam hiện nay16CHƯƠNG III: MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN VĂN HÓA CHÍNH TRỊ VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI183.1. Phương hướng giáo dục và nâng cao văn hóa chính trị ở nươc ta hiện nay.183.1.1. Hình thành và phát triển những cơ sở kinh tế, chính trị, xã hội, tư tưởng cho VHCT hiện đại.183.1.2. Tăng cường công tác giáo dục, nâng cao trình độ nhận thức, năng lực tư duy, tích tích cực, chủ động nhạy bén chính trị cho các chủ thể193.1.3. Tiếp tục đổi mới, kiện toàn HTCT, bảo đảm sự lãnh đạo chính trị duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam,193.1.4. Tăng cường đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận193.2. Giải pháp phát triển nền Văn hóa chính trị Việt Nam203.2.1. Xây dựng một nền văn hoá ngoại giao203.2.2. Tôn vinh những giá trị phổ quá213.2.3. Xây dựng nền pháp quyền toàn cầu.213.2.4. Tiến tới một cộng đồng văn hoá toàn thế giới223.2.5.. Giữ vững bản sắc văn hóa Việt Nam trong ngoại giao văn hóa vì mục đích hòa bình, hội nhập và phát triển bền vững.23KẾT LUẬN24TÀI LIỆU THAM KHẢO25 PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦUVăn hóa chính trị thời nào cũng có và luôn vận động, thay đổi. Dù có thăng trầm, thoái bộ hay tiến bộ, thì dòng chảy văn minh chính trị vẫn luôn tồn tại, thậm chí trong nhiều thời kỳ còn đóng vai trò là “dòng chảy” chủ đạo, mang tính định hướng, dẫn dắt các “dòng chảy” khác. Từ khi ra đời, sự vận động chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam cho thấy rất rõ tính tiếp biến của văn hóa chính trị, tuy có thăng, có trầm, nhưng căn bản là ngày càng hoàn thiện, ngày càng tạo dựng được vị thế chính trị xã hội trong lòng nhân dân. Một đảng chính trị đạo đức, văn minh phải là một đảng mạnh về tổ chức, có cơ sở triết lý theo đuổi, có khả năng dẫn dắt một dân tộc quốc gia phát triển bền vững, có tín nhiệm, tạo được sự hài lòng và đồng thuận với nhân dân và củng cố vị thế dân tộc trên trường quốc tế. Từ quan điểm chứa đựng yếu tố văn hóa nói về Đảng Cộng sản Việt Nam “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” thì thấy các thuộc tính trong quan niệm về đảng văn minh cũng chính là những tiêu chí hoàn thiện của Đảng. Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối xây dựng Đảng và lãnh đạo đất nước chính là thực hiện sứ mệnh chính trị (sứ mệnh cầm quyền) và sự tự hoàn thiện của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhận thức những vấn đề đặt ra hiện nay cần phải giải quyết thì có nhiều nhưng có thể nêu một số nhóm vấn đề có tính căn bản, xuyên suốt trong quá trình lãnh đạo của Đảng ta. Nắm bắt được điều đó, qua quá trình học tập và tìm hiểu, tác giả đã chọn đề tài “ Văn hóa chính trị Việt Nam thời kỳ đổi mới” để có cái nhìn sâu và rộng hơn. PHẦN II: NỘI DUNGCHƯƠNG I: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VĂN HÓA CHÍNH TRỊ1.1. Khái niệm văn hóa chính trị1.1.1. Định nghĩa:Trên cơ sở quan điểm mang tính định hướng của tư tưởng Hồ Chí Minh, các nhà nghiên cứu lý luận Việt Nam đã đưa ra nhiều cách diễn đạt về khái niệm Văn hóa chính trị(VHCT). PGS.TS Hoàng Chí Bảo quan niệm: “VHCT là chất lượng tổng hòa của tri thức, tình cảm, niềm tin chính trị, tạo thành ý thức chính trị công dân, thúc đẩy họ tới những hành động chính trị tích cực phù hợp với lý tưởng chính trị của xã hội, là thói quen và nhu cầu tham gia một cách tự giác chủ động vào các quan hệ chính trị xã hội, trở thành giá trị xã hội của công dân, góp phần hướng dẫn họ trong cuộc đấu tranh vì lợi ích chung của xã hội vì tiến bộ và phát triển” Khoa chính trị học Học viện Báo chí tuyên truyền Hà Nội định nghĩa: “Văn hoá chính trị là một lĩnh vực biểu hiện đặc biệt của văn hóa của loài người trong xã hội có giai cấp được hiểu là trình độ phát triển của con người được thể hiện ở trình độ hiểu biết về chính trị, trình độ tổ chức hệ thống quyền lực theo một chuẩn giá trị xã hội nhất định nhằm điều hòa các quan hệ lợi ích của giai cấp cầm quyền, phù hợp với xu thế phát triển và tiến bộ xã hội” 1.1.2 Cấu trúc của văn hoá chính trị.Xác định cấu trúc của VHCT phải gắn liền với những khía cạnh khác nhau của nó, có hai phương diện cơ bản:a. VHCT với tư cách là hệ thống các giá trị. Những giá trị chính trị là lí do, là định hướng và lí giải hành động của chủ thể chính trị, thể hiện trạng thái, nhu cầu và triển vọng phát triển của xã hội cũng như của các thành viên, các nhóm trong xã hội. Với ý nghĩa đó, VHCT là kết quả tổng hợp của các giá trị sau.b. VHCT với tư cách là sản phẩm hoạt động chính trị của các chủ thể chính trị: cá nhân và tổ chứcVHCT là do con người trong quan hệ với chính trị sáng tạo nên. Các giá trị chính trị thể hiện bản chất của các hoạt động chính trị của các chủ thể trong quá trình thực hiện lợi ích giai cấp. Chính trong thực tiễn chính trị, các chủ thể tạo cho mình hệ thống các giá trị VHCT, tạo nên đặc trưng, bản chất VHCT cho mình VHCT cá nhân.VHCT cá nhân thường được nhìn nhận, đánh giá qua những yếu tố như: trình độ hiểu biết và sự giác ngộ chính trị của mỗi cá nhân trong tư cách con người chính trị của nó (công dân, một người cán bộ, một thủ lĩnh). Trình độ đó được biểu hiện ở ý thức chính trị, thái độ, lập trường quan điểm chính trị; mức độ nhận thức, đánh giá các sự kiện, các diễn biến chính trị; sự lựa chọn tham gia của cá nhân vào các hoạt động chính trị thực tiễn; thái độ và mức độ phản ứng hay hưởng ứng trước một tình huống chính trị nào đó trong đời sống xã hội. VHCT cá nhân vừa góp phần tạo lập các giá trị, vừa góp phần hình thành dư luận xã hội tích cực đấu tranh chống những hành vi gây tổn hại tới lợi ích chung của xã hội. VHCT của tổ chức (văn hóa tổ chức).VHCT của tổ chức do VHCT của cá nhân hợp thành. Nhưng để tạo nên sự thống nhất giữa VHCT của các cá nhân trong tổ chức thì VH tổ chức phải là sự đoàn kết, sự phối hợp, sự thống nhất trong mục tiêu, lý tưởng và trong hành động chính trị. Do vậy, để duy trì, phát triển VH tổ chức thì phải thực hiện và giữ vững các nguyên tắc chính trị với ý nghĩa là những chuẩn giá trị VHCT .Những giá trị VH tổ chức ngoài việc được mọi thành viên trong cộng đồng chấp nhận và tự nguyện phục tùng (được đảm bảo về mặt xã hội) còn phải được đảm bảo về mặt pháp lý.1.2. Đặc điểm và chức năng của Văn hóa Chính trị1.2.1. Đặc điểm của văn hoá chính trị. VHCT bao giờ cũng mang tính giai cấp.VHCT hình thành trong thực tiễn đấu tranh giai cấp, do đó nó luôn bị chi phối bởi thế giới quan, hệ tư tưởng, những quan điểm chính trị của giai cấp nhất định và nó phục vụ lợi ích của mỗi giai cấp. Không bao giờ có những giá trị chính trị chung chung. Chính trị và công việc nhà nước đều là phạm vi hoạt động gắn với những quan hệ quyền lực. Do vậy, bất cứ hành vi nào của chủ thể chính trị khi đã chịu sự điều chỉnh của các chuẩn giá trị VHCT cũng là hành vi hướng tới thực hiện lợi ích giai cấp và bảo vệ lợi ích của giai cấp ấy một cách nhân văn.Tuy rất quan trọng, nhưng tính giai cấp không phải là thuộc tính duy nhất của VHCT. Tính dân tộc và tính nhân loại luôn tồn tại trong VHCT của từng giai cấp. Đặc biệt trong bối cảnh của thế giới hiện đại mối quan hệ giữa tính giai cấp, tính dân tộc và tính nhân loại càng gắn bó chặt chẽ hữu cơ hơn bao giờ hết.Văn hóa trước hết là vấn đề tồn tại và phát triển của một cộng đồng người nhất định, cộng đồng trở nên bền vững khi nó trở thành dân tộc đó là yếu tố quyết định của một nền văn hóa. Tính dân tộc luôn gắn liền với tính nhân loại và tính giai cấp, trong mối quan hệ này thì quan hệ dân tộc nhân loại là trường cửu, giai cấp dù tồn tại lâu thì cũng chỉ là phạm trù lịch sử. Như vậy, giá trị VHCT chỉ thống nhất với giá trị văn hóa khi mà giai cấp chủ thể chính trị của nó đại diện cho phương thức sản xuất mới, cho xu thế vận động và phát triển phù hợp với tiến bộ xã hội. Do đó tác động của giai cấp và đấu tranh giai cấp vào văn hóa của một dân tộc tùy thuộc vào từng biến động của lịch sử, tác động tới bước đi của nền văn hóa chứ không quyết định bản chất của nền văn hóa. Hệ tư tưởng của giai cấp thống trị tất yếu có dấu ấn mạnh tới nền văn hóa dân tộc khi quyền lợi của giai cấp đó nhất trí với quyền lợi của dân tộc.Để phát triển bền vững theo hướng duy trì bản sắc văn hóa dân tộc, vừa không đi ngược giá trị nhân loại (nhân văntính người) cần phải kết hợp nhuần nhuyễn tính giai cấp, tính dân tộc và tính nhân loại trong văn hóa nói chung và VHCT nói riêng. Việc phát huy văn hóa dân tộc chung chung, thoát ly khỏi định hướng giai cấp trong lĩnh vực văn hóa là một sai lầm. Sự mất cảnh giác đối với chiến lược diễn biến hoà bình về văn hoá cũng chính là tự diễn biến hoà bình trong chính chúng ta. Mặt khác, trong khi khẳng định tính giai cấp của VHCT không được đối lập giữa giai cấp cộng đồng nhân loại, nếu không sẽ rơi vào quan điểm giai cấp cực đoan. Để đạt đến VHCT thì vừa phải sử dụng những giá trị giai cấp, vừa phải sử dụng những giá trị cộng đồng và nhân loại; điều đó cũng lý giải vấn đề vì sao nước ta với nhiều nước trên thế giới khác nhau về chế độ chính trị nhưng vẫn quan hệ, giao lưu và hợp tác; vì sao bên cạnh Qui chế dân chủ ở cơ sở, các cộng đồng cư dân vẫn có những hương ước, tộc ước... VHCT mang tính lịch sử cụ thể. VHCT bị qui định bởi những điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan. Hai loại nhân tố này có nội dung, tính chất và phương thức qui định khác nhau trong các thời kỳ lịch sử khác nhau, điều đó qui định tính lịch sử của VHCT.+ VHCT không chỉ là kết quả của sự phát triển của nhận thức chính trị và hoạt động chính trị sáng tạo của nhiều chủ thể VHCT ở các nước khác nhau và các dân tộc khác nhau mà còn gắn liền với các nền chính trị khác nhau. Có VHCT của giai cấp nắm QLNN đặc trưng cho mỗi nền chính trị, nhưng bản thân sự tồn tại của mỗi nền chính trị lại không vĩnh viễn mà luôn có sự thay thế kế tiếp nhau trong lịch sử, nên VHCT cũng thay đổi theo.+ Hơn nữa,VHCT không phải là một hiện tượng biệt lập, sự xuất hiện và phát triển của nó nằm trong mối liên hệ mật thiết, biện chứng với các yếu tố lịch sử, nó chịu sự chi phối của những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội. Khi các yếu tố này có sự thay đổi thì VHCT cũng chịu ảnh hưởng của sự thay đổi đó.Sự truyền dẫn VHCT từ thế hệ này sang thế hệ khác cũng được thực hiện theo khuôn mẫu và định hướng nhất định, thích hợp với nhận thức và nhu cầu của mỗi cá nhân và toàn xã hội trong đời sống chính trị ở mỗi giai đoạn lịch sử. Do vậy, VHCT còn phụ thuộc vào khả năng tạo lập, kế thừa và sử dụng các giá trị VHCT của mỗi chủ thể nào đó trong từng giai đoạn lịch sử nhất định.+ VHCT còn gắn với hiện tượng tâm lý xã hội của chủ thể (nhất là phương diện cá nhân). Cùng tiếp cận giá trị nhưng tính khí và khí chất khác nhau sẽ tạo nên những quyết định hành vi, quyết định hoạt động chính trị của các chủ thể khác nhau. Tính cụ thể của VHCT không chỉ dựa trên cơ sở lý tưởng chính trị, lập trường và hành vi... mà có khi cả trên cơ sở của yếu tố tâm lý xã hội.Tính lịch sử, cụ thể của VHCT thể hiện cả ở chỗ: trong các điều kiện lịch sử khác nhau, tính chất, nội dung, mức độ phát triển của VHCT không giống nhau. Mặt khác cũng cho thấy, giá trị VHCT không phải là cái gì bất biến mà luôn có sự vận động và phát triển. Điều đó ảnh hưởng lớn đến những thay đổi trong nhân cách xã hội của con người. VHCT mang tính kế thừa.Tính lịch sử, cụ thể không thể tạo nên sự gián đoạn hay cô lập tuyệt đối của VHCT của một giai cấp nào đó trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Sự ra đời của một nền VHCT bao giờ cũng là kết quả phủ định biện chứng đối với nền VHCT trước nó. Đó là sự giữ lại và nâng lên một trình độ mới những nhân tố có giá trị chung mang tính tích cực của nền VHCT bị phủ định.
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU 1
PHẦN II: NỘI DUNG 2
CHƯƠNG I: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VĂN HÓA CHÍNH TRỊ 2
1.1 Khái niệm văn hóa chính trị 2
1.1.1 Định nghĩa: 2
1.1.2 Cấu trúc của văn hoá chính trị 2
1.2 Đặc điểm và chức năng của Văn hóa Chính trị 4
1.2.1 Đặc điểm của văn hoá chính trị 4
1.2.2 Chức năng của văn hoá chính trị 8
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VĂN HÓA CHÍNH TRỊ VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI 10
2.1 Thực trạng Văn hóa Chính trị Việt Nam trong thời kỳ Covid- 19 10
2.1.1 Chủ nghĩa cá nhân với chủ nghĩa tập thể 10
2.1.2 Khoảng cách quyền lực 12
2.1.3 Mức độ tránh tính bất định 13
2.1.4 Tính cương quyết với tính mềm dẻo 14
2.2 Một số vấn đề đặt ra đối với Văn hóa Chính trị Việt Nam hiện nay 16
CHƯƠNG III: MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN VĂN HÓA CHÍNH TRỊ VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI 18
Trang 23.1 Phương hướng giáo dục và nâng cao văn hóa chính trị ở
nươc ta hiện nay 18
3.1.1 Hình thành và phát triển những cơ sở kinh tế, chính trị, xã hội, tư tưởng cho VHCT hiện đại 18
3.1.2 Tăng cường công tác giáo dục, nâng cao trình độ nhận thức, năng lực tư duy, tích tích cực, chủ động nhạy bén chính trị cho các chủ thể 19
3.1.3 Tiếp tục đổi mới, kiện toàn HTCT, bảo đảm sự lãnh đạo chính trị duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam, 19
3.1.4 Tăng cường đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận 19
3.2 Giải pháp phát triển nền Văn hóa chính trị Việt Nam 20
3.2.1 Xây dựng một nền văn hoá ngoại giao 20
3.2.2 Tôn vinh những giá trị phổ quá 21
3.2.3 Xây dựng nền pháp quyền toàn cầu 21
3.2.4 Tiến tới một cộng đồng văn hoá toàn thế giới 22
3.2.5 Giữ vững bản sắc văn hóa Việt Nam trong ngoại giao văn hóa vì mục đích hòa bình, hội nhập và phát triển bền vững 23
KẾT LUẬN 24
TÀI LIỆU THAM KHẢO 25
Trang 3PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU
Văn hóa chính trị thời nào cũng có và luôn vận động, thay đổi Dù cóthăng trầm, thoái bộ hay tiến bộ, thì dòng chảy văn minh chính trị vẫn luôntồn tại, thậm chí trong nhiều thời kỳ còn đóng vai trò là “dòng chảy” chủ đạo,mang tính định hướng, dẫn dắt các “dòng chảy” khác Từ khi ra đời, sự vậnđộng chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam cho thấy rất rõ tính tiếp biến củavăn hóa chính trị, tuy có thăng, có trầm, nhưng căn bản là ngày càng hoànthiện, ngày càng tạo dựng được vị thế chính trị - xã hội trong lòng nhân dân
Một đảng chính trị đạo đức, văn minh phải là một đảng mạnh về tổchức, có cơ sở triết lý theo đuổi, có khả năng dẫn dắt một dân tộc - quốc giaphát triển bền vững, có tín nhiệm, tạo được sự hài lòng và đồng thuận vớinhân dân và củng cố vị thế dân tộc trên trường quốc tế Từ quan điểm chứađựng yếu tố văn hóa nói về Đảng Cộng sản Việt Nam “Đảng ta là đạo đức, làvăn minh” thì thấy các thuộc tính trong quan niệm về đảng văn minh cũngchính là những tiêu chí hoàn thiện của Đảng Tư tưởng Hồ Chí Minh, quanđiểm đường lối xây dựng Đảng và lãnh đạo đất nước chính là thực hiện sứmệnh chính trị (sứ mệnh cầm quyền) và sự tự hoàn thiện của Đảng Cộng sảnViệt Nam Nhận thức những vấn đề đặt ra hiện nay cần phải giải quyết thì cónhiều nhưng có thể nêu một số nhóm vấn đề có tính căn bản, xuyên suốt trongquá trình lãnh đạo của Đảng ta
Nắm bắt được điều đó, qua quá trình học tập và tìm hiểu, tác giả đã
chọn đề tài “ Văn hóa chính trị Việt Nam thời kỳ đổi mới” để có cái nhìn
sâu và rộng hơn
Trang 4PHẦN II: NỘI DUNG CHƯƠNG I: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VĂN HÓA
CHÍNH TRỊ 1.1 Khái niệm văn hóa chính trị
1.1.1 Định nghĩa:
Trên cơ sở quan điểm mang tính định hướng của tư tưởng Hồ ChíMinh, các nhà nghiên cứu lý luận Việt Nam đã đưa ra nhiều cách diễn đạt vềkhái niệm Văn hóa chính trị(VHCT) PGS.TS Hoàng Chí Bảo quan niệm:
“VHCT là chất lượng tổng hòa của tri thức, tình cảm, niềm tin chính trị, tạothành ý thức chính trị công dân, thúc đẩy họ tới những hành động chính trịtích cực phù hợp với lý tưởng chính trị của xã hội, là thói quen và nhu cầutham gia một cách tự giác chủ động vào các quan hệ chính trị xã hội, trởthành giá trị xã hội của công dân, góp phần hướng dẫn họ trong cuộc đấutranh vì lợi ích chung của xã hội vì tiến bộ và phát triển”
Khoa chính trị học Học viện Báo chí tuyên truyền - Hà Nội định nghĩa:
“Văn hoá chính trị là một lĩnh vực biểu hiện đặc biệt của văn hóa của loàingười trong xã hội có giai cấp được hiểu là trình độ phát triển của con ngườiđược thể hiện ở trình độ hiểu biết về chính trị, trình độ tổ chức hệ thốngquyền lực theo một chuẩn giá trị xã hội nhất định nhằm điều hòa các quan hệlợi ích của giai cấp cầm quyền, phù hợp với xu thế phát triển và tiến bộ xãhội”
1.1.2 Cấu trúc của văn hoá chính trị.
Xác định cấu trúc của VHCT phải gắn liền với những khía cạnh khácnhau của nó, có hai phương diện cơ bản:
a VHCT với tư cách là hệ thống các giá trị.
Những giá trị chính trị là lí do, là định hướng và lí giải hành động củachủ thể chính trị, thể hiện trạng thái, nhu cầu và triển vọng phát triển của xã
Trang 5hội cũng như của các thành viên, các nhóm trong xã hội Với ý nghĩa đó,VHCT là kết quả tổng hợp của các giá trị sau.
b VHCT với tư cách là sản phẩm hoạt động chính trị của các chủ thể chính trị: cá nhân và tổ chức
VHCT là do con người trong quan hệ với chính trị sáng tạo nên Cácgiá trị chính trị thể hiện bản chất của các hoạt động chính trị của các chủ thểtrong quá trình thực hiện lợi ích giai cấp Chính trong thực tiễn chính trị, cácchủ thể tạo cho mình hệ thống các giá trị VHCT, tạo nên đặc trưng, bản chấtVHCT cho mình
* VHCT cá nhân
VHCT cá nhân thường được nhìn nhận, đánh giá qua những yếu tốnhư: trình độ hiểu biết và sự giác ngộ chính trị của mỗi cá nhân trong tư cáchcon người chính trị của nó (công dân, một người cán bộ, một thủ lĩnh) Trình
độ đó được biểu hiện ở ý thức chính trị, thái độ, lập trường quan điểm chínhtrị; mức độ nhận thức, đánh giá các sự kiện, các diễn biến chính trị; sự lựachọn tham gia của cá nhân vào các hoạt động chính trị thực tiễn; thái độ vàmức độ phản ứng hay hưởng ứng trước một tình huống chính trị nào đó trongđời sống xã hội VHCT cá nhân vừa góp phần tạo lập các giá trị, vừa gópphần hình thành dư luận xã hội tích cực đấu tranh chống những hành vi gâytổn hại tới lợi ích chung của xã hội
* VHCT của tổ chức (văn hóa tổ chức)
VHCT của tổ chức do VHCT của cá nhân hợp thành Nhưng để tạo nên
sự thống nhất giữa VHCT của các cá nhân trong tổ chức thì VH tổ chức phải
là sự đoàn kết, sự phối hợp, sự thống nhất trong mục tiêu, lý tưởng và tronghành động chính trị Do vậy, để duy trì, phát triển VH tổ chức thì phải thựchiện và giữ vững các nguyên tắc chính trị với ý nghĩa là những chuẩn giá trịVHCT Những giá trị VH tổ chức ngoài việc được mọi thành viên trong cộng
Trang 6đồng chấp nhận và tự nguyện phục tùng (được đảm bảo về mặt xã hội) cònphải được đảm bảo về mặt pháp lý.
1.2 Đặc điểm và chức năng của Văn hóa Chính trị
1.2.1 Đặc điểm của văn hoá chính trị.
* VHCT bao giờ cũng mang tính giai cấp
VHCT hình thành trong thực tiễn đấu tranh giai cấp, do đó nó luôn bịchi phối bởi thế giới quan, hệ tư tưởng, những quan điểm chính trị của giaicấp nhất định và nó phục vụ lợi ích của mỗi giai cấp Không bao giờ có nhữnggiá trị chính trị chung chung Chính trị và công việc nhà nước đều là phạm vihoạt động gắn với những quan hệ quyền lực Do vậy, bất cứ hành vi nào củachủ thể chính trị khi đã chịu sự điều chỉnh của các chuẩn giá trị VHCT cũng
là hành vi hướng tới thực hiện lợi ích giai cấp và bảo vệ lợi ích của giai cấp
ấy một cách nhân văn
Tuy rất quan trọng, nhưng tính giai cấp không phải là thuộc tính duynhất của VHCT Tính dân tộc và tính nhân loại luôn tồn tại trong VHCT củatừng giai cấp Đặc biệt trong bối cảnh của thế giới hiện đại mối quan hệ giữatính giai cấp, tính dân tộc và tính nhân loại càng gắn bó chặt chẽ hữu cơ hơnbao giờ hết.Văn hóa trước hết là vấn đề tồn tại và phát triển của một cộngđồng người nhất định, cộng đồng trở nên bền vững khi nó trở thành dân tộc -
đó là yếu tố quyết định của một nền văn hóa Tính dân tộc luôn gắn liền vớitính nhân loại và tính giai cấp, trong mối quan hệ này thì quan hệ dân tộc -nhân loại là trường cửu, giai cấp dù tồn tại lâu thì cũng chỉ là phạm trù lịch
sử Như vậy, giá trị VHCT chỉ thống nhất với giá trị văn hóa khi mà giai cấp
- chủ thể chính trị của nó đại diện cho phương thức sản xuất mới, cho xu thếvận động và phát triển phù hợp với tiến bộ xã hội Do đó tác động của giaicấp và đấu tranh giai cấp vào văn hóa của một dân tộc tùy thuộc vào từngbiến động của lịch sử, tác động tới bước đi của nền văn hóa chứ không quyếtđịnh bản chất của nền văn hóa Hệ tư tưởng của giai cấp thống trị tất yếu có
Trang 7dấu ấn mạnh tới nền văn hóa dân tộc khi quyền lợi của giai cấp đó nhất trí vớiquyền lợi của dân tộc.
Để phát triển bền vững theo hướng duy trì bản sắc văn hóa dân tộc, vừakhông đi ngược giá trị nhân loại (nhân văn-tính người) cần phải kết hợpnhuần nhuyễn tính giai cấp, tính dân tộc và tính nhân loại trong văn hóa nóichung và VHCT nói riêng Việc phát huy văn hóa dân tộc chung chung, thoát
ly khỏi định hướng giai cấp trong lĩnh vực văn hóa là một sai lầm Sự mấtcảnh giác đối với chiến lược "diễn biến hoà bình" về văn hoá cũng chính là
"tự diễn biến hoà bình" trong chính chúng ta Mặt khác, trong khi khẳng địnhtính giai cấp của VHCT không được đối lập giữa giai cấp - cộng đồng - nhânloại, nếu không sẽ rơi vào quan điểm giai cấp cực đoan Để đạt đến VHCT thìvừa phải sử dụng những giá trị giai cấp, vừa phải sử dụng những giá trị cộngđồng và nhân loại; điều đó cũng lý giải vấn đề vì sao nước ta với nhiều nướctrên thế giới khác nhau về chế độ chính trị nhưng vẫn quan hệ, giao lưu vàhợp tác; vì sao bên cạnh Qui chế dân chủ ở cơ sở, các cộng đồng cư dân vẫn
có những hương ước, tộc ước
* VHCT mang tính lịch sử - cụ thể
VHCT bị qui định bởi những điều kiện khách quan và nhân tố chủquan Hai loại nhân tố này có nội dung, tính chất và phương thức qui địnhkhác nhau trong các thời kỳ lịch sử khác nhau, điều đó qui định tính lịch sửcủa VHCT
+ VHCT không chỉ là kết quả của sự phát triển của nhận thức chính trị
và hoạt động chính trị sáng tạo của nhiều chủ thể VHCT ở các nước khácnhau và các dân tộc khác nhau mà còn gắn liền với các nền chính trị khácnhau Có VHCT của giai cấp nắm QLNN đặc trưng cho mỗi nền chính trị,nhưng bản thân sự tồn tại của mỗi nền chính trị lại không vĩnh viễn mà luôn
có sự thay thế kế tiếp nhau trong lịch sử, nên VHCT cũng thay đổi theo
Trang 8+ Hơn nữa,VHCT không phải là một hiện tượng biệt lập, sự xuất hiện
và phát triển của nó nằm trong mối liên hệ mật thiết, biện chứng với các yếu
tố lịch sử, nó chịu sự chi phối của những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội.Khi các yếu tố này có sự thay đổi thì VHCT cũng chịu ảnh hưởng của sự thayđổi đó
Sự truyền dẫn VHCT từ thế hệ này sang thế hệ khác cũng được thựchiện theo khuôn mẫu và định hướng nhất định, thích hợp với nhận thức vànhu cầu của mỗi cá nhân và toàn xã hội trong đời sống chính trị ở mỗi giaiđoạn lịch sử Do vậy, VHCT còn phụ thuộc vào khả năng tạo lập, kế thừa và
sử dụng các giá trị VHCT của mỗi chủ thể nào đó trong từng giai đoạn lịch sửnhất định
+ VHCT còn gắn với hiện tượng tâm lý xã hội của chủ thể (nhất làphương diện cá nhân) Cùng tiếp cận giá trị nhưng tính khí và khí chất khácnhau sẽ tạo nên những quyết định hành vi, quyết định hoạt động chính trị củacác chủ thể khác nhau Tính cụ thể của VHCT không chỉ dựa trên cơ sở lýtưởng chính trị, lập trường và hành vi mà có khi cả trên cơ sở của yếu tốtâm lý xã hội
Tính lịch sử, cụ thể của VHCT thể hiện cả ở chỗ: trong các điều kiệnlịch sử khác nhau, tính chất, nội dung, mức độ phát triển của VHCT khônggiống nhau Mặt khác cũng cho thấy, giá trị VHCT không phải là cái gì bấtbiến mà luôn có sự vận động và phát triển Điều đó ảnh hưởng lớn đến nhữngthay đổi trong nhân cách xã hội của con người
Trang 9với nền VHCT trước nó Đó là sự giữ lại và nâng lên một trình độ mới nhữngnhân tố có giá trị chung mang tính tích cực của nền VHCT bị phủ định.
Tính kế thừa của VHCT trong sự phát triển được kết tinh từ nhữngthành tựu văn hóa, những di sản tinh thần của thời đại, của truyền thống, kếthợp với kinh nghiệm thực tiễn, từ đó làm cho VHCT không ngừng được nânglên Lịch sử dân tộc Việt Nam đã có hơn nghìn năm Bắc thuộc, kẻ thù muốnHán hoá dân tộc Việt Nam Tuy nhiên, người Việt Nam đã không chịu sựđồng hóa của người Hán, nhưng vẫn khôn khéo tiếp thu, học tập văn hóa Hán,biến nó thành giá trị, thành phương thức để phát huy bản sắc văn hóa của dântộc mình
Trong VHCT truyền thống, ông cha ta cũng đã để lại cho đời sốngchính trị hiện tại của chúng ta nhiều bài học kinh nghiệm quí báu Trong quátrình vận động và phát triển, các giá trị truyền thống không biến mất, mà nóhóa thân vào các giá trị của thời sau theo qui luật kế thừa và tái tạo Các giátrị trước trở thành truyền thống khi được các thế hệ sau lựa chọn, tiếp nhận vàphát triển, đó chính là quan hệ giữa truyền thống và hiện tại Sự thích nghicủa những giá trị cũ đối với sự thay đổi của thời đại là biểu hiện tính liên tụccủa văn hóa Bởi vậy, trong chính trị cũng phải luôn có sự kế thừa về mặt giátrị, quay lưng với những giá trị truyền thống cũng có nghĩa quay lưng lại vớilịch sử dân tộc Điều đó vừa là sự sa sút về bản lĩnh văn hóa vừa trái với quiluật vận động và phát triển của văn hóa, và như thế ắt có sự trả giá
* VHCT luôn mang tính đa dạng
Hệ tư tưởng là nhân tố cốt lõi nhất của VHCT, mà trong mỗi hình tháikinh tế - xã hội nhất định kết cấu giai cấp cũng phức tạp không thuần nhất,cho nên hệ tư tưởng của các giai cấp không đồng nhất Trong mỗi nền chínhtrị, VHCT không thuần nhất Do đối lập về lợi ích nên các giai cấp thường có
hệ tư tưởng đối lập chi phối văn hóa của các giai cấp tương ứng, tạo nên bức
Trang 10tranh đa dạng của VHCT Bên cạnh VHCT của giai cấp nắm QLNN còn cóVHCT của các giai cấp và giai tầng khác trong xã hội Ngay trong CNXH, tuylợi ích của các giai tầng thống nhất với hệ tư tưởng vô sản, chi phối nhữngđịnh hướng cơ bản của VHCT; song mỗi giai cấp có tính độc lập tương đối,tạo nên bản sắc VHCT riêng VHCT XHCN cũng là sự thống nhất trong đadạng Đảng ta cũng đã khẳng định: “nền văn hóa mà nhân dân ta xây dựng lànền văn hóa thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam ”.
Hơn nữa, sự xuất hiện và phát triển của VHCT nằm trong mối liên hệmật thiết với các yếu tố lịch sử, nó là “một tiểu hệ thống” trong lĩnh vực vănhóa nói chung, do đó có mối liên hệ chặt chẽ với các thành tố khác của nềnvăn hóa nói chung như: kinh tế, đạo đức, pháp quyền, thẩm mỹ, tôn giáo
Trong CNXH, VHCT XHCN vừa là nội dung, là động lực, vừa là biểuhiện chất lượng của nền dân chủ (văn hóa dân chủ) Là nhân tố thúc đẩy choviệc đạt mục tiêu của CNXH: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dânchủ, văn minh Đồng thời VHCT XHCN là phương thức để nhân dân laođộng trở thành chủ thể thực sự của QLCT, QLNN
1.2.2 Chức năng của văn hoá chính trị
VHCT có những chức năng rất quan trọng trong việc nâng cao chấtlượng của chủ thể chính trị Ý nghĩa động lực của VHCT biểu hiện qua cácchức năng của nó, đó là:
* VHCT góp phần điều chỉnh, định hướng cho hành vi và các quan hệ
xã hội, nâng cao nhận thức, giáo dục cho các chủ thể chính trị.
VHCT có vai trò to lớn trong việc điều chỉnh các quan hệ con ngườivới con người, con người với xã hội trong đời sống chính trị Trong quá trìnhđiều chỉnh, một mặt nó dựa vào những chuẩn mực giá trị, mô hình chính trị đểđiều chỉnh hành vi, hành động của chủ thể phù hợp với “cái tốt, cái đúng”
Trang 11Mặt khác, nó tăng cường khả năng tự điều chỉnh của các chủ thể phù hợp, hàihoà với lợi ích của các chủ thể khác, với lợi ích xã hội
Với tầm cao của VHCT, giới cầm quyền có thể kịp thời phát hiện ranhững điểm nóng chính trị - xã hội, nhằm đưa ra những biện pháp hữu hiệu đểchủ động"tháo ngòi nổ”,làm dịu đi các xung đột xã hội, giữ vững ổn địnhchính trị Trong những tình huống chính trị, VHCT có ý nghĩa đặc biệt quantrọng, thiếu nó người ta có thể làm cho những quan hệ xã hội vốn bình thườnghoặc ít gay cấn lại trở nên căng thẳng, gay gắt, nóng bỏng, thậm chí đối đầu
* Chức năng tổ chức và quản lý xã hội.
VHCT là kết quả của hoạt động sáng tạo của con người trong quá trìnhhiện thực hóa mục tiêu, lý tưởng chính trị trong những điều kiện kinh tế chínhtrị xã hội Nhưng đến lượt nó, VHCT lại đóng vai trò quan trọng trong tổ chức
và quản lý xã hội
+ VHCT đối với việc xây dựng và phát triển kinh tế
Ngày nay, sự phát triển kinh tế - xã hội không chỉ bắt nguồn từ sứcmạnh kinh tế mà còn phụ thuộc vào sức mạnh của văn hóa nói chung,VHCTnói riêng Hiệu quả của nền kinh tế phụ thuộc ngày càng nhiều vào trình độphát triển của khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo; vào các giá trị tinhthần của xã hội, các thể chế chính trị; vào trình độ, năng lực, phẩm chất củanhững con người chính trị Văn hóa là nhân tố quan trọng của kinh tế, mộtnhân tố qui định bên trong của hoạt động sản xuất Kinh tế không tự mìnhphát triển nếu thiếu nền tảng văn hóa, VHCT trong nó và tác động vào nó
+ VHCT đối với việc giải quyết các vấn đề chính trị
Ý thức chính trị, các thiết chế QLCT, hoạt động chính trị thực tiễn, đềuliên quan đến VHCT, đều thể hiện trình độ VHCT của một lực lượng xã hội,một giai cấp, một tổ chức hay một cá nhân nào đó Bản thân đời sống chính trị
là một hệ thống các giá trị VHCT Vì vậy, vấn đề chỉ ở chỗ, các chủ thể chính
Trang 12trị sử dụng các giá trị VHCT đó như thế nào, có phát huy được vai trò của cácgiá trị VHCT trong việc giữ vững nền chính trị và sự ổn định chính trị củamình hay không
Sức mạnh kinh tế, sức mạnh quân sự là những yếu tố cơ bản quan trọng
để giữ vững nền chính trị, bởi kinh tế quyết định chính trị, “chính trị là sựbiểu hiện tập trung của kinh tế” Điều khẳng định đó đúng nhưng chưa đủ,đời sống xã hội không chỉ có kinh tế với chính trị mà còn có văn hóa Kinh tế
và văn hoá là hai nền tảng vật chất và tinh thần của xã hội Nhiều quốc giasiêu cường về kinh tế, quân sự nhưng không có sự ổn định chính trị, xã hội rốiloạn, một trong những nguyên nhân là do VHCT không được phát huy tácdụng Vậy VHCT tác động như thế nào?
* Chức năng đánh giá và dự báo chính trị:
Chức năng đánh giá của VHCT thể hiện qua thái độ của các chủ thểVHCT đối với một hiện tượng, một sự kiện, một quá trình chính trị nào đó.Trên cơ sở nhận thức, chủ thể đánh giá các hiện tượng trong đời sống chínhtrị và lựa chọn cho mình những hành vi theo đánh giá ấy Như vậy, VHCT kếthợp với khả năng chủ quan của mỗi chủ thể là cơ sở cho các đánh giá chínhtrị
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VĂN HÓA CHÍNH TRỊ
VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI 2.1 Thực trạng Văn hóa Chính trị Việt Nam trong thời kỳ Covid- 19
Các chiều cạnh của văn hóa chính trị Việt Nam biểu hiện trong việcứng phó với đại dịch COVID-19
2.1.1 Chủ nghĩa cá nhân với chủ nghĩa tập thể
Từ thời điểm dịch COVID-19 xuất hiện ở Việt Nam cho đến nay, ViệtNam trải qua 2 đợt dịch Xuyên suốt cả hai đợt dịch, người dân trong cả nước
Trang 13đều chấp hành các quy định và cảnh báo từ chính quyền với sự đồng thuậncao, tinh thần đoàn kết cùng quyết tâm “chống dịch như chống giặc”.
Đeo khẩu trang là một quy định nhằm bảo vệ các cá nhân khỏi dịchbệnh song nó cũng đồng thời là trách nhiệm của từng thành viên đối với cộngđồng Với quy định này ở Việt Nam, hầu hết mọi người dân đều chấp hànhmột cách nghiêm túc ngay từ giai đoạn đầu chống dịch Bên cạnh ý thức đeokhẩu trang để bảo vệ bản thân và cộng đồng, nhiều cá nhân và tổ chức đã thựchiện phát khẩu trang miễn phí cho mọi người tại các địa điểm công cộngnhằm tăng cường khả năng chống dịch của cộng đồng Vào giai đoạn caođiểm chống dịch, lo ngại nguồn cung khẩu trang khan hiếm, và nhằm tiếtkiệm nguồn lực cho Nhà nước, nhiều người dân đã tình nguyện nhườngnhững khẩu trang y tế cho lực lượng y bác sỹ và chỉ sử dụng khẩu trang vải cóthể sử dụng nhiều lần Một phản ứng gần như ngay lập tức của người dântrước tình huống ảnh hưởng đến cộng đồng, cũng như tinh thần hợp tác caođối với những khuyến cáo của chính quyền là những biểu hiện của tinh thầntập thể và chủ nghĩa cộng đồng Nó không thể là biểu hiện có tính ngẫu nhiên,
mà là kết quả của một quá trình kết tinh trong suốt tiến trình chính trị của dântộc
Khác với chủ nghĩa tập thể, chủ nghĩa cá nhân coi trọng tự do cá nhân,quyền cá nhân trong việc ứng phó với những tình huống tác động đến sự annguy của cả cộng đồng, cụ thể là các khuyến cáo y tế nhằm phòng chốngdịch Vào thời điểm dịch bệnh bùng phát và lây lan, người dân ở nhiều quốcgia trên thế giới có thái độ thờ ơ, kỳ thị với hành vi đeo khẩu trang như biểutượng của bệnh tật, đáng xua đuổi và thậm chí bị tấn công Bởi thế, ngaytrong thời điểm bùng phát dịch, việc đeo khẩu trang ở nhiều quốc gia, đặc biệt
là các quốc gia phương Tây, vẫn thuộc về quyền lựa chọn của mỗi cá nhân
Không chỉ là ý thức bảo vệ bản thân và cộng đồng, Việt Nam cònchứng kiến sự tình nguyện huy động nguồn lực xã hội nhằm chia sẻ với Nhà