1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tế của Đảng cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới

20 8 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tế của Đảng cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Triết học, Chính trị học
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 48,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC MỤC LỤC 1 PHẦN I LỜI MỞ ĐẦU 3 1 Lý do chọn đề tài 3 2 Mục đích nghiên cứu 4 3 Phạm vi nghiên cứu 4 4 Phương pháp nghiên cứu 4 5 Kết cấu cấu đề tài 4 PHẦN II NỘI DUNG 5 CHƯƠNG I MỘT SỐ KHÁI NIỆ.MỤC LỤCMỤC LỤC1PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU31.Lý do chọn đề tài32.Mục đích nghiên cứu43. Phạm vi nghiên cứu44. Phương pháp nghiên cứu45. Kết cấu cấu đề tài4PHẦN II: NỘI DUNG5CHƯƠNG I: MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐÊN PHẠM TRÙ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VÀ NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN51.1. KHÁI NIỆM THỰC TIỄN VÀ LÝ LUẬN CỦA TRIẾT HỌC51.2. Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn7CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI122.1. Tình hình Việt Nam sau đổi mới 1986122.2. Những vận dụng của Đảng trong thời kỳ đổi mới122.3. Thành quả của sự vận dụng hợp lý nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tế14CHƯƠNG III: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT CHO VIỆC VẬN DỤNG TÍNH THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NHẮM PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM163.1 Một số đề xuất cho việc vận dụng tính thống nhất giữa lý luận và thực tiễn nhằn phát triển kinh tế Việt Nam trong tương lai.163.2. Ý nghĩa của việc vận dụng tính thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong quá trình đổi mới kinh tế Việt Nam.17PHẦN III: KẾT LUẬN19TÀI LIỆU THAM KHẢO20 PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU1.Lý do chọn đề tàiQua quá trình học tập và tìm hiểu, chúng ta biết rằng triết học là một trong ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác. Và chủ nghĩa duy vật biện chứng đó chính là triết học của chủ nghĩa Mác. Cho đến nay, triết học Mác đã thể hiện tính ưu việt hơn cả. Những vấn đề triết học về lý luận nhận thức và thực tiễn, phương pháp biện chứng... luôn là cơ sở, là phương hướng, là tôn chỉ cho hoạt động thực tiễn, xây dựng và phát triển xã hội. Qua quá trình tìm hiểu và vận dụng triết học Mác Lênin, Đảng và Nhà nước ta đã học tập và tiếp thu tư tưởng tiến bộ, đề ra những mục tiêu, phương hướng chỉ đạo chính xác, đúng đắn để đưa đất nước chúng bước vào thế kỷ XXI với những thay đổi to lớn. Mặc dù vẫn có những khiếm khuyết không thể tránh khỏi song chúng ta luôn đi đúng hướng trong cải tạo thực tiễn, phát triển kinh tế, từng bước đưa đất nước ta tiến kịp trình độ các nước trong khu vực và thế giới về mọi mặt. Chính những thành tựu của xây dựng chủ nghĩa xã hội từ sau thời kỳ đổi mới là minh chứng rõ ràng nhất cho điều đó. Tuy vậy hoạt động nhận thức và cải tạo thực tiễn cùng với sự nắm bắt các quy luật khách quan trong vận hành nền kinh tế ở nước ta là một vấn đề còn nhiều tranh cãi và cần xem xét kỹ lưỡng hơn, nhất là trong quá trình đổi mới hiện nay. Do đó, để hiểu thêm về nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn và cách Đảng cũng như nhà nước đang vận dụng trong nền kinh tế thị trường, chúng em đã lựa chọn đề tài “Sự vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tế của Đảng cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới”. 2.Mục đích nghiên cứuBài viết tập chung xoay quay nghiên cứu về các khái niệm cũng như các lí luận về nguyên tắc thống nhất giữa lý luận, để từ các lí luận đó làm nổi bật nên sự vận dụng của Đảng và nhà nước trong sự nghiệp đổi mới của Việt Nam hiện nay.3. Phạm vi nghiên cứuBài viết tập chung nghiên cứu về các khái niệm cũng như lý luận về các vấn đề liên quan đến nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tế. Do thời gian có hạn cùng với việc nghiên cứu chỉ dừng lại ở hình thức tiểu luận nên em sẽ lấy khách thể nghiên cứu là hoạt động sáng tạo,lý luận của nhận thức Macxít nói riêng, chủ nghĩa Mác Lênin nói chung4. Phương pháp nghiên cứu Về phương pháp luận, tiểu luận sử dụng những phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài này bao gồm phương pháp thống kê, lịch sử logic ,phương pháp so sánh, phương pháp phân tích tổng hợp và đối chiếu.5. Kết cấu cấu đề tàiNgoài mục lục, phần mở đầu, kết luận, cũng như các phần phụ lục khác, kết cấu đề tài gồm các phần sau: I, Một Số Khái Niệm Liên Quan Đến Phạm Trù Lý Luận, Thực Tiễn Và Nguyên Tắc Thống Nhất Giữa Lý Luận Và Thực TiễnII, Tình Hình Vận Dụng Nguyên Tắc Thống Nhất Giữa Lý Luận Và Thực Tiễn Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Trong Thời Kỳ Đổi MớiIII, Một Số Đề Xuất Cho Việc Vận Dụng Tính Thống Nhất Giữa lý Luận Và Thực Tiễn Nhằm Phát Triển Nề Kinh Tế Việt NamPHẦN II: NỘI DUNGCHƯƠNG I: MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐÊN PHẠM TRÙ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VÀ NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN1.1. KHÁI NIỆM THỰC TIỄN VÀ LÝ LUẬN CỦA TRIẾT HỌC 1.1.1. Phạm trù thực tiễn của Triết học  Các quan điểm về thực tiễn Trước Mác, đã có rất nhiều quan điểm về thực tiễn được đưa ra, tuy nhiên những quan điểm đó đều tồn tại những khuyết điểm, chủ yếu là chưa đưa ra được đầy đủ vai trò của thực tiễn đối với nhận thức. Một số nhà triết học như Ph. Bêcơn, Đ. Diđơrô …đề cao vai trò của thực nghiệm khoa học, chưa đề cập đến vai trò của các hình thức khác của thực tiễn đối với nhận thức. G. Hêghen tuy có đề cập đến thực tiễn, nhưng ông không coi thực tiễn là hoạt động vật chất mà là hoạt động tinh thần. L. Phoiơbăc chỉ coi lý luận mới là hoạt động đích thực, còn thực tiễn chỉ được ông xem xét ở khía cạnh biểu hiện bẩn thỉu mà thôi.C. Mác và Ph. Ăngghen đã thực hiện một bước chuyển biến cách mạng trong lý luận nhận thức bằng cách đưa phạm trù thực tiễn vào trong lý luận nhận thức. Lênin nhấn mạnh: “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức”  Thực tiễn là gì Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất có tính xã hội lịch sử của con người nhằm biến đổi tự nhiên, xã hội và bản thân con người .  Các hình thức cơ bản của thực tiễn Hoạt động thực tiễn có 3 hình thức cơ bản: Lao động sản xuất vật chất là hình thức thực tiễn cơ bản nhất, là hoạt động trực tiếp tác động vào tự nhiên nhằm tạo ra của cải vật chất cho sự tồn tại và phát triển của xã hội. Hoạt động biến đổi xã hội là hình thức thực tiễn cao nhất, Là hoạt dộng của con người trong các lĩnh vực chính trị xã hội nhằm phát triển và hoàn thiện các thiết chế xã hội, các quan hệ xã hội làm địa bàn rộng rãi cho hoạt động sản xuất và tạo ra những môi trường xã hội xứng đáng với bản chất con người bằng cách đấu tranh giai cấp và cách mạng xã hội.Thực nghiệm khoa học là hình thức thực tiễn đặc biệt, nhằm mục đích phục vụ nghiên cứu khoa học và kiểm tra lý thuyết khoa học.

Trang 1

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2.Mục đích nghiên cứu 4

3 Phạm vi nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Kết cấu cấu đề tài 4

PHẦN II: NỘI DUNG 5

CHƯƠNG I: MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐÊN PHẠM TRÙ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VÀ NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5

1.1 KHÁI NIỆM THỰC TIỄN VÀ LÝ LUẬN CỦA TRIẾT HỌC 5

1.2 Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn 7

CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI 12

2.1 Tình hình Việt Nam sau đổi mới 1986 12

2.2 Những vận dụng của Đảng trong thời kỳ đổi mới 12

2.3 Thành quả của sự vận dụng hợp lý nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tế 14

CHƯƠNG III: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT CHO VIỆC VẬN DỤNG TÍNH THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NHẮM PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM 16

Trang 2

3.1 Một số đề xuất cho việc vận dụng tính thống nhất giữa lý luận và thực tiễn nhằn phát triển kinh tế Việt Nam trong tương lai 16 3.2 Ý nghĩa của việc vận dụng tính thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong quá trình đổi mới kinh tế Việt Nam 17

PHẦN III: KẾT LUẬN 19 TÀI LIỆU THAM KHẢO 20

Trang 3

PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Qua quá trình học tập và tìm hiểu, chúng ta biết rằng triết học là một trong ba

bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác Và chủ nghĩa duy vật biện chứng đó chính là triết học của chủ nghĩa Mác Cho đến nay, triết học Mác đã thể hiện tính ưu việt hơn cả Những vấn đề triết học về lý luận nhận thức và thực tiễn, phương pháp biện chứng luôn là cơ sở, là phương hướng, là tôn chỉ cho hoạt động thực tiễn, xây dựng và phát triển xã hội Qua quá trình tìm hiểu và vận dụng triết học Mác - Lênin, Đảng và Nhà nước ta đã học tập và tiếp thu tư tưởng tiến bộ, đề ra những mục tiêu, phương hướng chỉ đạo chính xác, đúng đắn để đưa đất nước chúng bước vào thế kỷ XXI với những thay đổi to lớn Mặc dù vẫn có những khiếm khuyết không thể tránh khỏi song chúng ta luôn

đi đúng hướng trong cải tạo thực tiễn, phát triển kinh tế, từng bước đưa đất nước ta tiến kịp trình độ các nước trong khu vực và thế giới về mọi mặt Chính những thành tựu của xây dựng chủ nghĩa xã hội từ sau thời kỳ đổi mới

là minh chứng rõ ràng nhất cho điều đó Tuy vậy hoạt động nhận thức và cải tạo thực tiễn cùng với sự nắm bắt các quy luật khách quan trong vận hành nền kinh tế ở nước ta là một vấn đề còn nhiều tranh cãi và cần xem xét kỹ lưỡng hơn, nhất là trong quá trình đổi mới hiện nay

Do đó, để hiểu thêm về nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn và cách Đảng cũng như nhà nước đang vận dụng trong nền kinh tế thị trường,

chúng em đã lựa chọn đề tài “Sự vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tế của Đảng cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới”.

Trang 4

2.Mục đích nghiên cứu

Bài viết tập chung xoay quay nghiên cứu về các khái niệm cũng như các lí luận về nguyên tắc thống nhất giữa lý luận, để từ các lí luận đó làm nổi bật nên sự vận dụng của Đảng và nhà nước trong sự nghiệp đổi mới của Việt Nam hiện nay

3 Phạm vi nghiên cứu

Bài viết tập chung nghiên cứu về các khái niệm cũng như lý luận về các vấn đề liên quan đến nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tế Do thời gian có hạn cùng với việc nghiên cứu chỉ dừng lại ở hình thức tiểu luận nên

em sẽ lấy khách thể nghiên cứu là hoạt động sáng tạo,lý luận của nhận thức Macxít nói riêng, chủ nghĩa Mác- Lênin nói chung

4 Phương pháp nghiên cứu

Về phương pháp luận, tiểu luận sử dụng những phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài này bao gồm phương pháp thống kê, lịch sử - logic ,phương pháp

so sánh, phương pháp phân tích tổng hợp và đối chiếu

5 Kết cấu cấu đề tài

Ngoài mục lục, phần mở đầu, kết luận, cũng như các phần phụ lục khác, kết cấu đề tài gồm các phần sau:

I, Một Số Khái Niệm Liên Quan Đến Phạm Trù Lý Luận, Thực Tiễn Và Nguyên Tắc Thống Nhất Giữa Lý Luận Và Thực Tiễn

II, Tình Hình Vận Dụng Nguyên Tắc Thống Nhất Giữa Lý Luận Và Thực Tiễn Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Trong Thời Kỳ Đổi Mới

III, Một Số Đề Xuất Cho Việc Vận Dụng Tính Thống Nhất Giữa lý Luận Và Thực Tiễn Nhằm Phát Triển Nề Kinh Tế Việt Nam

Trang 5

PHẦN II: NỘI DUNG CHƯƠNG I: MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐÊN PHẠM TRÙ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VÀ NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT

GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 KHÁI NIỆM THỰC TIỄN VÀ LÝ LUẬN CỦA TRIẾT HỌC

1.1.1 Phạm trù thực tiễn của Triết học

 Các quan điểm về thực tiễn

Trước Mác, đã có rất nhiều quan điểm về thực tiễn được đưa ra, tuy nhiên những quan điểm đó đều tồn tại những khuyết điểm, chủ yếu là chưa đưa ra được đầy đủ vai trò của thực tiễn đối với nhận thức

Một số nhà triết học như Ph Bêcơn, Đ Diđơrô …đề cao vai trò của thực nghiệm khoa học, chưa đề cập đến vai trò của các hình thức khác của thực tiễn đối với nhận thức

G Hêghen tuy có đề cập đến thực tiễn, nhưng ông không coi thực tiễn

là hoạt động vật chất mà là hoạt động tinh thần

L Phoiơbăc chỉ coi lý luận mới là hoạt động đích thực, còn thực tiễn chỉ được ông xem xét ở khía cạnh biểu hiện bẩn thỉu mà thôi

C Mác và Ph Ăngghen đã thực hiện một bước chuyển biến cách mạng trong lý luận nhận thức bằng cách đưa phạm trù thực tiễn vào trong lý luận nhận thức

Lênin nhấn mạnh: “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức”

 Thực tiễn là gì

Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất có tính xã hội - lịch sử

của con người nhằm biến đổi tự nhiên, xã hội và bản thân con người

 Các hình thức cơ bản của thực tiễn

Trang 6

Hoạt động thực tiễn có 3 hình thức cơ bản:

Lao động sản xuất vật chất là hình thức thực tiễn cơ bản nhất, là hoạt

động trực tiếp tác động vào tự nhiên nhằm tạo ra của cải vật chất cho sự tồn tại và phát triển của xã hội

Hoạt động biến đổi xã hội là hình thức thực tiễn cao nhất, Là hoạt dộng của con người trong các lĩnh vực chính trị xã hội nhằm phát triển và hoàn thiện các thiết chế xã hội, các quan hệ xã hội làm địa bàn rộng rãi cho hoạt động sản xuất và tạo ra những môi trường xã hội xứng đáng với bản chất con người bằng cách đấu tranh giai cấp và cách mạng xã hội

Thực nghiệm khoa học là hình thức thực tiễn đặc biệt, nhằm mục đích phục vụ nghiên cứu khoa học và kiểm tra lý thuyết khoa học

1.1.2 Phạm trù lý luận của Triết học

Lý luận là hệ thống những tri thức được khái quát từ thực tiễn phản ánh những mối liên hệ bản chất, những quy luật của sự vật, hiện tượng

Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người , là tổng hợp những tri thức về tụ nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử”

Để hình thành lí luận, con người phải thông qua quá trình nhận thức kinh nghiệm Nhận thức kinh nghiệm là quá trình quan sát sự lặp đi lặp lại diễn biến của các sự vật hiện tượng Kết quả của nhận thức kinh nghiệm là tri thức kinh nghiệm Tri thức kinh nghiệm bao gồm tri thức kinh nghiệm thong thường và tri thức kinh nghiệm khoa học.Tri thức kinh nghiệm tuy là thành tố của tri thức ở trình độ thấp nhưng nó là cơ sở để hình thành lý luận

Lý luận có nghững cấp độ khác nhau tùy phạm vi phản ánh và vai trò của nó, cps thể phân chia lý luận thành lí luận ngành và lí luận triết học

Trang 7

Lý luận ngành là lý luận khái quát những quy luật hình thành và phát triển của một ngành Nó là cơ sở để sáng tạo tri thức cũng như phương pháp luận hoạt động của ngành đó, như lý luận văn học, lý luận nghệ thuật…

Lý luận triết học là hệ thống những quan niệm chung nhất về thế giới

và con người, là thế giới quan và phương pháp luận nhận thức và hoạt động của con người

1.2 Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn

1.2.1 Nội dung nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn

Giữa lý luận và thực tiễn giường như hai mặt tương đối độc lập với nhau nhưng lại có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau Trong

đó thực tiễn luôn luôn giữ vai trò quyết định Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn bắt nguồn từ mối quan hệ giữa con người và thế giới khách quan Con người luôn tác động tích cực vào thế giới khách quan, tự nhiên và xã hội, cải biến thế giới khách quan bằng thực tiễn Trong quá trình đó sự phát triển nhận thức của con người và sự biến đổi thế giới khách quan là hai mặt thống nhất Điều đó quy định sự thống nhất biện chứng giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt động sinh tồn của cá nhân và cộng đồng Thực tiễn là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức, của lý luận; lýluận hình thành, phát triển phải xuất phát từ thực tiễn, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn

1.2.2 Những yêu cầu của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn

1.2.2.1 Lý luận phải xuất phát từ thực tiễn,

Nghĩa là phải nghiên cứu, nắm bắt cụ thể tình hình thực tiễn, phải thấy được nhũng yêu cầu, những vấn đề do thực tiễn đặt ra và yêu cầu lý luận phải giải đáp Trong những vấn đề, yêu cầu do thực tiễn đặt ra, phải đặc biệt chú ý đến những vấn đề, yêu cầu cấp bách để tập trung giải đáp Cần thấy rằng những vấn đề, yêu cầu của thực tiễn về thực chất bao giờ cũng là những vấn

đề, đòi hỏi của chính những con người, những tập đoàn người đang hoạt động

và vấn đề đặt ra của thực tiễn cũng chính là những vấn đề của con người Vì

Trang 8

vậy, yêu cầu quan trọng nhất ở đây là phải thấy được lợi ích, xuất phát từ lợi ích của những lực lượng xã hội nhất định và căn cứ vào đó để xác định những nhiệm vụ, mục đích, phương thức giải quyết chúng về mặt lý luận

Có hàng loạt những yêu cầu và vấn đề đủ loại do thực tiễn đặt ra, như yêu cầu của sản xuất vật chất, kinh tế, khoa học-công nghệ; yêu cầu về an ninh, trật tự

xã hội; yêu cầu về văn hoá xã hội; thậm chí cả những yêu cầu rất thông thường của cuộc sống hàng ngày Lý luận phải căn cứ vào từng loại yêu cầu

đó mà phân công giải đáp Do đó, xuất phát từ thực tiễn phải rất cụ thể: đối với lý luận này thì phải từ thực tiễn tương ứng của nó, không phải từ thực tiễn bất kỳ, nhưng lại phải xem xét nó trong mối liên hệ với thực tiễn khác, với thực tiễn căn bản (nền sản xuất, sự phát triển kinh tế của xã hội) Tuy vậy, trong tất cả nhữngvyêu cầu do thực tiễn đặt ra, lý luận phải thấy được và xuất phát từ những yêu cầu kinh tế căn bản gắn liền với lợi ích căn bản của lực lượng xã hội nhất định

Đồng thời, phải thấy được những điều kiện, tiền đề, khả năng khách quan mà thực tiễn cung cấp giúp cho việc giải quyết vấn đề Những điều kiện, tiền đề, phương tiện cần được tính đến có vô vàn hình thức, dạng thái khác nhau Có những điều kiện vật chất, tinh thần hoặc sự kết họp của cả hai điều kiện ấy, môi trường xã hội (kinh tế, chính trị, xã hội và văn hoá), những điều kiện thiết thân của người hoạt động lý luận (tiền lương, tài liệu, quan hệ xã hội, đồng nghiệp, những tổ chức hoạt động cụ thể, các điều kiện chủ quan như trình độ, năng lực của từng người cũng như cả đội ngũ hoạt động lý luận v.v)

Để tránh rơi vào những ảo tưởng, sai lầm, thất bại trong hoạt động lý luận cần phải tính đến những điều kiện của hoạt động lý luận Mác viết: “Cho nên, nhân loại bao giờ cũng chỉ đặt ra cho mình những nhiệm vụ mà nó có thể giải quyết được, vì khi xét kỳ hơn, bao giờ người ta cũng thấy rằng bản thân nhiệm vụ ấy chỉ nảy sinh khi những điều kiện vật chất để giải quyết nhiệm vụ

đó đã có rồi, hay ít ra cũng đang ở trong quá trình hình thành” Luận điểm của

Trang 9

Mác nhấn mạnh tầm quan trọng của những điều kiện vật chất để giải quyết những nhiệm vụ xã hội-lịch sử của con người, bao gồm cả những nhiệm vụ lý luận

Kết hợp hai nội dung trên, lý luận phải xuất phát từ thực tiễn, tức là phải tính đến biện chứng của những yêu cầu, vấn đề đặt ra và những điều kiện, phương tiện để thực hiện nó

Xuất phát từ thực tiễn còn có nghĩa là lý luận phải thường xuyên bám sát thực tiễn, không được thoát ly hiện thực Tuy nhiên, điều này cũng cần được hiểu một cách tương đối

1.2.2.2 Phản ánh trung thành đối tượng

Lý luận phải trở thành chân lý Thực tiễn nói chung và thực nghiệm khoa học không thể đạt được mục đích, kết quả hiện thực một khi lý luận cung cấp cho nó những kết luận, giải pháp sai lầm về hiện thực, sự vật, đối tượng

Trong nội dung yêu cầu này một khía cạnh rất quan trọng được đặt ra là lý luận phải được kiểm nghiệm, phải được chứng minh là chân lý trước khi ứng dụng vào thực tiễn Cho nên, yêu cầu đối với người hoạt động lý luận là phải nắm vững những tiêu chuẩn của chân lý, phải có khả năng kiểm tra tính khoa học xác thực của lý luận bằng các tiêu chuẩn lôgic và tiêu chuẩn thực tiễn, cần lưu ý đến những tiêu chuẩn, khả năng đánh giá tính khoa học của lý luận

ở cấp độ hai, vì đây là lý luận rất khó có thể áp dụng trong thực nghiệm, nhưng tác dụng của nó cả về mặt tích cực và tiêu cực đều rất lớn

1.2.2.3 Lý luận phải được vận dụng vào thực tiễn

Đây là yêu cầu tự nhiên, hiển nhiên của hoạt động lý luận Nhưng vận dụng lý luận không thế tuỳ tiện, mà phải có phương thức, cách thức của nó, phải có “nghệ thuật” Phải có năng lực chuyển cái lý luận thành cái hiện thực

Trang 10

Tuỳ theo những yêu cầu cụ thể của thực tiễn mà áp dụng những lý luận tương ứng Đối với những lý luận ở cấp độ I phải thấy được phạm vi, tác dụng của từng lý thuyết cụ thể với những lý thuyết chung và biết kết họp giữa chúng Phải thấy được những khâu trung gian của sự chuyển hoá lý luận thành thực tiễn như các lĩnh vực nhận thức, tinh thần khác nhau gắn liền với nhũng con người, nhóm, tầng lóp người cụ thể

Không nên hiểu vận dụng lý luận vào thực tiễn một cách máy móc, tuyệt đối, trái lại, phải thấy rằng lý luận một khi có tác dụng đối với một lĩnh vực nhận thức nhất định, thí dụ làm sáng tỏ về lý luận một vấn đề nhận thức, lý luận nào đó (thuộc về lịch sử chẳng hạn), thì suy cho cùng vậh dụng ấy cũng đem lại những giá trị và lợi ích thực tiễn

Kết hợp giữa các hình thức, cấp độ lý luận với nhau, không được cô lập một

lý luận nào đó (khoa học tự nhiên và xã hội) trong vận dụng lý luận Đây là yêu cầu của giai đoạn lịch sử hiện nay, nó căn cứ vào sự “phối thuộc tổng thể” giữa các khoa học Ở đây đòi hỏi phải đánh giá được đúng vị trí, vai trò,

ưu thế và giới hạn của mỗi lý luận

Thực chất yêu cầu trên là lý luận phải giúp cho thực tiễn đạt được những mục đích, lợi ích thực tế (hiện thực)

1.2.2.4 Lý luận phải đóng vai trò chỉ đạo, dẫn đường cho thực tiễn

Yêu cầu thực tiễn đối với lý luận là về tính tự giác, chủ động của con người trong hoạt động, cũng có nghĩa là yêu cầu về sự khẳng định bản chất, tính chủ thể của con người Mặc dù lý luận có nguồn gốc từ thực tiễn, nhưng một khi đã trở thành một quan điểm, một hệ thống, thì nó chính là thực tiễn đã được ý thức, do đó nó đóng vai trò dẫn đường cho thực tiễn Lý luận không thể theo sau thực tiễn Nhưng lý luận muốn đỏng vai trò dẫn đường, chỉ đạo thực tiễn, nó phải là lý luận khoa học, tiên tiến và cách mạng Đây là một yêu

Trang 11

cầu rất cơ bản, thể hiện rất rõ bản chất của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận

và thực tiễn

Lý luận phải xác định được những mục tiêu hoạt động cụ thể, bao gồm cả những mục tiêu xa, gần, phải xây dựng được các mô hình sản phấm của hoạt động con người cả về chất lượng, số lượng trong các lĩnh vực khác nhau Đặc biệt lý luận phải hoạch định đường lối chiến lược, sách lược phát triển cụ thể không chỉ đối với từng ngành cụ thể mà cả đối với toàn thể cộng đồng, xã hội Đồng thời lý luận còn phải đóng vai trò dự báo khoa học cho các lĩnh vực hoạt động của con người

1.2.2.5 Lý luận phải không ngừng được bổ sung, đổi mới, phát triển để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn

Bản thân thực tiễn không ngừng vận động, phát triển, cho nên lý luận không thể đứng im, trái lại phải thường xuyên được bổ sung, được làm giàu

có hơn, được phát triển hơn Lý luận phải thường xuyên tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, để kiểm tra, kiểm nghiệm lý luận trong thực tiễn

Đòi hỏi lý luận phải bám sát mọi thay đổi diễn ra trong thực tiễn, từ những thay đổi nhỏ bé, đến những thay đổi lớn, từ những thay đổi có tính hiện tượng, bề mặt, đến nhũng thay đổi bên trong, căn bản để không ngừng đổi mới, phát triển lý luận, cần thấy rõ những thay đổi căn bản của lý luận, phân biệt với nhũng thay đổi từng mặt Không để cho lý luận theo sau cuộc sống, thực tiễn

Đối mới, phát triển lý luận cần phải quan tâm đến cả hệ thống cũng như từng khái niệm, quan niệm riêng biệt của nó, trong đó phải thấy được sự cần thiết phải bổ sung, thay đổi, phát triển nhũng khái niệm then chốt, căn bản của hệ thống Thậm chí phải thấy cả những yêu cầu thay đổi về ngôn từ, nếu không thì công tác tuyên truyền, trình bày, thể hiện lý luận sẽ thiếu tính thuyết phục

và không đạt’ hiệu quả thực tiễn cao

Ngày đăng: 21/01/2023, 12:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w