1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng hồ chí minh về nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và sự vận dụng của đảng cộng sản việt nam trong thời kỳ đổi mới

22 4 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và sự vận dụng của Đảng cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
Người hướng dẫn Ths...
Trường học Trường đại học Giao thông Vận tải TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Lý luận Chính trị
Thể loại Tiểu luận kết thúc học phần
Năm xuất bản 2021
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 71,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI TP HỒ CHÍ MINH KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ Họ và tên SV Mã số SV Mã nhóm HP TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TÊN ĐỀ TÀI Giảng viên hướng dẫn Ths Thành phố. TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI TP. HỒ CHÍ MINHKHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊHọ và tên SV Mã số SV Mã nhóm HPTIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINHTÊN ĐỀ TÀIGiảng viên hướng dẫn: Ths...Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2021 MỤC LỤCLỜI MỞ ĐẦU1NỘI DUNG2CHƯƠNG I: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NHÀ NƯỚC CỦA DÂN, DO DÂN, VÌ DÂN21.1 Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước21.1.1. Cơ sở lý luận21.1.2. Cơ sở thực tiễn41.2. Xây dựng Nhà nước thể hiện quyền là chủ của nhân dân61.2.1. Nhà nước của dân61.2.2. Nhà nước do dân81.2.3. Nhà nước vì dân10CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG VỀ NHÀ NƯỚC CỦA DÂN, DO DÂN, VÌ DÂN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP112.1. Thực trạng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của dân, do dân, vì dân112.1.1. Hoạch định đường lối, chính sách phù hợp với quy luật khách quan và đáp ứng đúng yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân122.1.2. Dân chủ hóa đời sống xã hội122.1.3. Đổi mới phương thức lãnh đạo của đảng đối với hệ thống chính trị132.1.4. Đảng tự đổi mới, tự chỉnh đốn152.2. Một số giải pháp vận dụng quan điểm Hồ Chí Minh về nhà nước của dân, do dân và vì dân16KẾT LUẬN17TÀI LIỆU THAM KHẢO18 LỜI MỞ ĐẦUTrong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế Việt Nam ta đang ngày một tiến lên sánh vai cùng các cường quốc năm châu, đang dần khẳng định vị thế của mình với thế giới về một nền độc lập, tự do, dân chủ.Để đạt được thành quả này là cả một quá trình đấu tranh gian khổ với những hy sinh mất mát không thể bù đắp được của bao thế hệ cha ông ta. Và để có được nền độc lập dân chủ của nước nhà thì ngoài sự cống hiến, hy sinh của cả một dân tộc, còn có những người con kiệt xuất với phẩm chất anh dũng, kiên cường, không sợ khó, sợ khổ, sẵn sàng hy sinh cho tổ quốc. Người thanh niên mang tên Nguyễn Tất Thành đã một mình bôn ba khắp năm châu bốn bể để tìm ra con đường mang lại độc lập tự do cho tổ quốc mình. Nhắc tới người là nhắc tới một vị anh hùng dân tộc, một danh nhân văn hoá của nhân loại, một vị lãnh tụ tài ba và đặc biệt là người cha già kình yêu của dân tộc. Cả cuộc đời Người đã cống hiến cho nền độc lập của dân tộc cho sự tự do của đất nước. Một trong những tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh là xây dựng một nhà nước kiểu mới – nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân. Đây là tư tưởng xuyên suốt trong quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng và Bác Hồ, đã được minh chứng và kiểm nghiệm trong lịch sử đấu tranh giành chính quyền và xây dựng chính quyền nhà nước dân chủ nhân dân. Theo Hồ Chủ tịch, nhà nước kiểu mới – nhà nước pháp quyền phải là nhà nước của dân, do dân và vì dân, đó là tư tưởng, ý chí nhất quán của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Do vậy, sau một thời gian tìm hiểu, tác giả đã chọn đề tài “ Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới” để có cái nhìn sâu và rộng hơn. NỘI DUNGCHƯƠNG I: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NHÀ NƯỚC CỦA DÂN, DO DÂN, VÌ DÂN1.1 Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước1.1.1. Cơ sở lý luận Học thuyết của chủ nghĩa MácLênin về Nhà nước V.I.Lênin đã khẳng định: “Vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng là vấn đề chính quyền nhà nước”. Vấn đề chính quyền nhà nước là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng vì chỉ giành được chính quyền giai cấp cách mạng mới xác lập được nền chuyên chính của mình, triển khai quyền lực của mình trong đời sống xã hội.Trong Phê phán cương lĩnh Gôta, C. Mác viết: “Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa là một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia. Thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị, và nhà nước của thời kỳ ấy không thể là cái gì khác hơn là nền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản”. Hồ Chí Minh nghiên cứu học thuyết của chủ nghĩa MácLênin, học thuyết cách mạng và khoa học này đã gợi mở cho Người tư tưởng về xây dựng một nhà nước kiểu mới ở Việt Nam.Lý luận mácxít về nhà nước cách mạng vô sản là cơ sở để người đánh giá, phê phán các học thuyết về tổ chức nhà nước cũng như thực tiễn tổ chức của các nước tư bản. Mô hình nhà nước vô sản mà cac nhà kinh điển đưa ra ảnh hưởng một cách quyết định đến quá trình Hồ Chí Minh xác lập mô hình nhà nước cách mạng Việt Nam. Mô hình nhà nước Xô viết mà Lênin tổng kết là mô hình nhà nước mà Hồ Chí Minh mong muốn xây dựng ở Việt Nam. Trong tác phẩm Đường cách Mệnh, khi phân tích các chủ nghĩa, các học thuyết, Người viết: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.CTQG, H, 1996, t. 10, tr. 128). Hồ Chí Minh cũng nghiên cứu, thừa kế những quan điểm tiến bộ trong tư tưởng nhà nước “thân dân” của Nho giáo, nhà nước pháp quyền của G. Rútxô, Môngtexkiơ. Kinh nghiệm về xây dựng nhà nước trong lịch sử dân tộc Việt Nam Tư tưởng xây dựng nhà nước của dân tộc được phản ánh trong các bộ sử lớn, các bộ luật.Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước đã tích lũy biết bao kinh nghiệm quý báu về xây dựng nhà nước được phản ánh trong các bộ sử lớn của dân tộc: Đại Việt sử ký toàn thư, Lịch triều hiến chương loại chí…; Kinh nghiệm làm luật, trị nước cũng được ghi lại trong các bộ luật nổi tiếng: Hình thư (đời Lý), Hình luật (đời Trần), luật Hồng Đức (đời Lê)… mà giá trị của nó có thể sánh ngang với các bộ luật nổi tiếng ở p. Đông. Tư tưởng xây dựng NN “thân dân”, gần dân của Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi…Những yếu tố tích cực của nhà nước thân dân thời kỳ phong kiến hưng thịnh trong lịch sử dân tộc cùng với hình ảnh lý tưởng về nhà nước “vua Nghiêu Thuấn, dân Nghiêu Thuấn”, “nước lấy dân làm gốc” tiếp thu được ở Nho giáo… là những hành trang đầu tiên Hồ Chí Minh mang theo trên con đường tìm kiếm một mô hình nhà nước tiến bộ cho đất nước sau khi giành độc lập.Qua đây ta có thể hiểu nhà nước là: Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, một bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện các chức năng quản lý đặc biệt nhằm duy trì trật tự xã hội với mục đích bảo về địa vị của giai cấp thống trị trong xã hội.). Theo Từ điển BKVN: tổ chức chính trị của xã hội, công cụ cơ bản của quyền lực chính trị trong xã hội có giai cấp. nhà nước ra đời trong quá trình phân công lao động xã hội, hình thành chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và phân chia xã hội thành giai cấp. Là một bộ phận quan trọng của kiến trúc thượng tầng, NN phản ánh và phục vụ những quan hệ sản xuất nhất định, những lợi ích của giai cấp chiếm địa vị thống trị về kinh tế trong xã hội nhất định. nhà nước nào cũng thực hiện chuyên chính nhằm bảo vệ giai cấp cầm quyền và duy trì trật tự xã hội bằng những công cụ cưỡng bức (quân đội, cảnh sát, toà án, nhà tù...). Các nhà nước đều thực hiện hai chức năng đối nội và đối ngoại; đối ngoại là sự kế tục của đối nội. Có nhiều kiểu và hình thức nhà nước khác nhau đã hình thành trong lịch sử. Tương ứng với các hình thái kinh tế xã hội thì có các kiểu nhà nước khác nhau: nhà nước chiếm hữu nô lệ, nhà nước phong kiến, nhà nước tư sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa. Trong mỗi kiểu nhà nước lại có các hình thức khác nhau. Nhân tố quyết định những hình thức khác nhau của một kiểu nhà nước là tương quan lực lượng giai cấp và đặc điểm dân tộc của từng nước.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI TP HỒ CHÍ MINH

Trang 2

MỤC LỤC

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế Việt Nam ta đang ngày một tiến lênsánh vai cùng các cường quốc năm châu, đang dần khẳng định vị thế của mình vớithế giới về một nền độc lập, tự do, dân chủ

Để đạt được thành quả này là cả một quá trình đấu tranh gian khổ với những

hy sinh mất mát không thể bù đắp được của bao thế hệ cha ông ta Và để có đượcnền độc lập dân chủ của nước nhà thì ngoài sự cống hiến, hy sinh của cả một dântộc, còn có những người con kiệt xuất với phẩm chất anh dũng, kiên cường, không

sợ khó, sợ khổ, sẵn sàng hy sinh cho tổ quốc Người thanh niên mang tên NguyễnTất Thành đã một mình bôn ba khắp năm châu bốn bể để tìm ra con đường mang lạiđộc lập tự do cho tổ quốc mình Nhắc tới người là nhắc tới một vị anh hùng dân tộc,một danh nhân văn hoá của nhân loại, một vị lãnh tụ tài ba và đặc biệt là người chagià kình yêu của dân tộc Cả cuộc đời Người đã cống hiến cho nền độc lập của dântộc cho sự tự do của đất nước

Một trong những tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh là xây dựng mộtnhà nước kiểu mới – nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân Đây là tưtưởng xuyên suốt trong quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng và Bác Hồ, đãđược minh chứng và kiểm nghiệm trong lịch sử đấu tranh giành chính quyền và xâydựng chính quyền nhà nước dân chủ nhân dân Theo Hồ Chủ tịch, nhà nước kiểumới – nhà nước pháp quyền phải là nhà nước của dân, do dân và vì dân, đó là tưtưởng, ý chí nhất quán của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Do vậy, sau một thời gian tìm hiểu, tác giả đã chọn đề tài “ Tư tưởng Hồ

Chí Minh về nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới” để có cái nhìn sâu và rộng

hơn

Trang 4

NỘI DUNG CHƯƠNG I: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NHÀ NƯỚC CỦA DÂN,

DO DÂN, VÌ DÂN 1.1 Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước

1.1.1 Cơ sở lý luận

* Học thuyết của chủ nghĩa Mác-Lênin về Nhà nước

- V.I.Lênin đã khẳng định: “Vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng là vấn đềchính quyền nhà nước” Vấn đề chính quyền nhà nước là vấn đề cơ bản của mọicuộc cách mạng vì chỉ giành được chính quyền giai cấp cách mạng mới xác lậpđược nền chuyên chính của mình, triển khai quyền lực của mình trong đời sống xãhội

Trong Phê phán cương lĩnh Gôta, C Mác viết: “Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa

và xã hội chủ nghĩa là một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia.Thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị, và nhà nước của thời kỳ ấykhông thể là cái gì khác hơn là nền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản”

- Hồ Chí Minh nghiên cứu học thuyết của chủ nghĩa Mác-Lênin, học thuyếtcách mạng và khoa học này đã gợi mở cho Người tư tưởng về xây dựng một nhànước kiểu mới ở Việt Nam

Lý luận mácxít về nhà nước cách mạng vô sản là cơ sở để người đánh giá,phê phán các học thuyết về tổ chức nhà nước cũng như thực tiễn tổ chức của cácnước tư bản Mô hình nhà nước vô sản mà cac nhà kinh điển đưa ra ảnh hưởng mộtcách quyết định đến quá trình Hồ Chí Minh xác lập mô hình nhà nước cách mạngViệt Nam Mô hình nhà nước Xô viết mà Lênin tổng kết là mô hình nhà nước mà

Hồ Chí Minh mong muốn xây dựng ở Việt Nam

- Trong tác phẩm Đường cách Mệnh, khi phân tích các chủ nghĩa, các họcthuyết, Người viết: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩachân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin” (Hồ ChíMinh: Toàn tập, Nxb.CTQG, H, 1996, t 10, tr 128)

Trang 5

- Hồ Chí Minh cũng nghiên cứu, thừa kế những quan điểm tiến bộ trong tưtưởng nhà nước “thân dân” của Nho giáo, nhà nước pháp quyền của G Rút-xô,Mông-texki-ơ.

* Kinh nghiệm về xây dựng nhà nước trong lịch sử dân tộc Việt Nam

- Tư tưởng xây dựng nhà nước của dân tộc được phản ánh trong các bộ sửlớn, các bộ luật

Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước đã tích lũy biết bao kinh nghiệmquý báu về xây dựng nhà nước được phản ánh trong các bộ sử lớn của dân tộc: ĐạiViệt sử ký toàn thư, Lịch triều hiến chương loại chí…; Kinh nghiệm làm luật, trịnước cũng được ghi lại trong các bộ luật nổi tiếng: Hình thư (đời Lý), Hình luật (đờiTrần), luật Hồng Đức (đời Lê)… mà giá trị của nó có thể sánh ngang với các bộ luậtnổi tiếng ở p Đông

- Tư tưởng xây dựng NN “thân dân”, gần dân của Trần Quốc Tuấn, NguyễnTrãi…

Những yếu tố tích cực của nhà nước thân dân thời kỳ phong kiến hưng thịnhtrong lịch sử dân tộc cùng với hình ảnh lý tưởng về nhà nước “vua Nghiêu Thuấn,dân Nghiêu Thuấn”, “nước lấy dân làm gốc” tiếp thu được ở Nho giáo… là nhữnghành trang đầu tiên Hồ Chí Minh mang theo trên con đường tìm kiếm một mô hìnhnhà nước tiến bộ cho đất nước sau khi giành độc lập

Qua đây ta có thể hiểu nhà nước là:

Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, một bộ máychuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện các chức năng quản lý đặc biệt nhằmduy trì trật tự xã hội với mục đích bảo về địa vị của giai cấp thống trị trong xã hội.).Theo Từ điển BKVN: tổ chức chính trị của xã hội, công cụ cơ bản của quyền lựcchính trị trong xã hội có giai cấp nhà nước ra đời trong quá trình phân công laođộng xã hội, hình thành chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và phân chia xãhội thành giai cấp Là một bộ phận quan trọng của kiến trúc thượng tầng, NN phảnánh và phục vụ những quan hệ sản xuất nhất định, những lợi ích của giai cấp chiếmđịa vị thống trị về kinh tế trong xã hội nhất định nhà nước nào cũng thực hiện

Trang 6

chuyên chính nhằm bảo vệ giai cấp cầm quyền và duy trì trật tự xã hội bằng nhữngcông cụ cưỡng bức (quân đội, cảnh sát, toà án, nhà tù ) Các nhà nước đều thựchiện hai chức năng đối nội và đối ngoại; đối ngoại là sự kế tục của đối nội Có nhiềukiểu và hình thức nhà nước khác nhau đã hình thành trong lịch sử Tương ứng vớicác hình thái kinh tế - xã hội thì có các kiểu nhà nước khác nhau: nhà nước chiếmhữu nô lệ, nhà nước phong kiến, nhà nước tư sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa.Trong mỗi kiểu nhà nước lại có các hình thức khác nhau Nhân tố quyết định nhữnghình thức khác nhau của một kiểu nhà nước là tương quan lực lượng giai cấp và đặcđiểm dân tộc của từng nước.

1.1.2 Cơ sở thực tiễn

* Hồ Chí Minh đã khảo sát các kiểu nhà nước trên thế giới Người nhận thấy:

- Nhà nước thực dân phong kiến: Đây là nhà nước xấu xa, tàn bạo cả về kinh

tế, chính trị, văn hóa tư tưởng, cần phải thủ tiêu

+ Hồ Chí Minh vạch trần bản chất vô nhân đạo, chỉ rõ bản chất cái gọi là

“công lý” mà thực dân, đế quốc thi hành ở xứ “bảo hộ” Theo Người đây là nhànước đi ngược lại lợi ích của đa số nhân dân, nên nhân dân có quyền đuổi chính phủ

đó đi

+ Năm 1919, Hồ Chí Minh gửi Hội nghị Véc-xây bản yêu sách của nhân dânViệt Nam đòi các quyền tự do tối thiểu cho dân tộc mình Đây là văn kiện pháp lýđầu tiên đặt vấn đề kết hợp khăng khít quyền tự quyết của dân tộc với quyền tự do,dân chủ của nhân dân đồng thời là văn bản có ý nghĩa to lớn trong việc tố cáo, lên

án sự thống trị tàn bạo của bọn đế quốc phong kiến và nhà nước thực dân phongkiến đối với nhân dân Việt Nam

- Nhà nước dân chủ tư sản: Mặc dù có nhiều tiến bộ, nhưng nó là nhà nướccủa số ít, dân chủ hình thức, chứa đựng các đối kháng giai cấp, xã hội

+ Người đã đến các nước tư bản Anh, Pháp, Mỹ đã đến nhiều thuộc địa vàphụ thuộc ở khắp các châu lục Ở đâu Người cũng sống và lao động thật sự nhưnhững người công nhân để xem xét đời sống kinh tế - chính trị - xã hội và Nhànước, chế độ chính trị hiện thời; xem xét đời sống, nguyện vọng, hoạt động đấu

Trang 7

tranh của các dân tộc mong muốn có một chế độ xã hội mới tốt hơn Người cũngchứng kiến hai cuộc chiến tranh thế giới với những tổ thất nặng nề, những hy sinh

to lớn, những hậu quả thật nặng nề của nó, đồng thời cũng thấy được tinh thần quậtkhởi của các dân tộc bị áp bức trong cuộc đấu tranh giải phóng

+ Người coi nhà nước tư sản Mỹ, Pháp là sản phẩm của “những cuộc cáchmạng không đến nơi”, vì ở đó chính quyền vẫn nằm trong tay một số ít người – xãhội bất bình đẳng, đời sống của đa số nhân dân nhất là nhân dân lao động vẫn rấtcực khổ nên Việt Nam không thể đi theo cách mạng tư sản, xây dựng NN dân chủ tưsản

Từ đó Người nhận thấy đất nước Việt Nam không thể đi theo những mô hìnhnhà nước đó được

- Nhà nước Xô-viết: Có nhiều ưu thế nổi bật, đó là Nhà nươc của quần chúnglao động, dân chủ triệt để, giúp đỡ các dân tộc thuộc địa

+ Nhà nước Xô – Viết là kết quả của cuộc cách mạng tháng Mười Nga(1917), cuộc cách mạng đến nơi, đã phát ruộng đất cho dân cày, giao công xưởngcho thợ thuyền…ra sức tổ chức kinh tế mới, để thực hành chủ nghĩa “thế giới đạiđồng” Mô hình nhà nước đó đã gợi ý cho Người về một kiểu nhà nước sẽ được xâydựng trong tương lai Đó là khi giành được chính quyền thì phải chuyển giao về taynhân dân lao động

+ Trong tác phẩm Đường cách mệnh, Người chỉ rõ: “Làm cách mệnh rồi thìgiao quyền cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người” Tiếp nốiquan điểm đó, trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng do Hồ Chí Minh soạn thảo năm

1930, Người khẳng định: “Dựng ra chính phủ công nông binh”

+ Tháng 5 năm 1941, Người tiếp tục khẳng định: “Sau khi đánh đuổi được đếquốc Pháp, Nhật sẽ thành lập một chính phủ nhân dân của Việt Nam dân chủ cộnghòa…Chính phủ ấy do quốc dân đại hội cử ra” (tr 150)

+ Khi thời cơ giải phóng dân tộc đã đến gần, trong Thư gửi đồng bào toànquốc (tháng 10/1944), Hồ Chí Minh cũng nói rõ: trước hết cần có một chính phủ đạibiểu cho sự chân thành đoàn kết và hành dộng nhất trí của toàn thể quốc dân, gồm

Trang 8

tất cả các đảng phái cách mệnh, các đoàn thể ái quốc trong nước bầu cử ra “Một cơcấu như thế mới đủ lực lượng và oai tín, trong thì lãnh đạo công việc cứu quốc,ngoài thì giao thiệp với các hữu bang”(tập 3, tr 505).

+ Sang năm 1945, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, ngày 2/9/1945, HồChí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, khai sinh

ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - thiết lập nhà nước dân chủ nhân dân trênphạm vi cả nước Đây là thắng lợi vĩ đại của sự nghiệp cách mạng trong suốt 15năm đấu tranh liên tục của Đảng, là thắng lợi vĩ đại đầu tiên của tư tưởng Hồ ChíMinh đối với cách mạng Việt Nam, là thắng lợi của tư tưởng Hồ Chí Minh về nhànước kiểu mới ở Việt Nam

1.2 Xây dựng Nhà nước thể hiện quyền là chủ của nhân dân

1.2.1 Nhà nước của dân

- Quyền lực của nhân dân được đặt ở vị trí tối thượng

Điều 1 – Hiến Pháp năm 1946 do Người làm trưởng ban soạn thảo đã khẳngđịnh rõ: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa Tất cả quyền bính trongnước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàunghèo, giai cấp, tôn giáo”

Điều 32 – Hiến pháp năm 1946 cũng quy định: “Những việc quan hệ đến vậnmệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết…” Thực chất đó là chế độ trưng cầudân ý, một hình thức dân chủ trực tiếp được đề ra khá sớm ở nước ta

- Hồ Chí Minh khẳng định Nhà nước của dân là nhà nước mà tất cả quyềnlực đều thuộc về nhân dân

Nhà nước nào cũng mang bản chất của một giai cấp nhất định trong xã hội.Song giai cấp công nhân Việt Nam mà bộ phận ưu tú nhất của nó là Đảng cộng sảnViệt Nam lại đại diện cho quyền lợi của cả dân tộc Nhận thức được điều đó, Hồ ChíMinh luôn khẳng định nhà nước ta là nhà nước của dân Nhà nước của dân thể hiệntrên các nội dung sau:

Trang 9

+ Nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình bằng cách bầu ra Nhà nước

và chính quyền các cấp

Ngay sau ngày thành lập nước, để có được một chính phủ của dân, Hồ ChíMinh đã đề nghị Chính phủ tiến hành tổ chức “Càng sớm càng hay Cuộc tổng tuyển

cử với chế độ phổ thông đầu phiếu”

Người nhấn mạnh: “Tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân tự dolựa chọn những người có tài, có đức để gánh vác công việc nước nhà Trong cuộcTổng tuyển cử, hễ là người muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử, hễ làcông dân thì đều có quyền đi bầu cử…Do Tổng tuyển cử mà toàn dân bầu ra Quốchội Quốc hội sẽ cử ra Chính phủ Chính phủ đó thật là Chính phủ của toàn dân”(95, t4, tr.72) Xây dựng một nhà nước của dân không chỉ trong ý tưởng, thiết kế,

mà còn bằng hành động thực tiễn của Hồ Chí Minh

Ngày 6/1/1946, Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc Việt Nam, mọi công dânViệt Nam không phân biệt giàu nghèo, nam nữ, đảng phái, dân tộc,v.v…được đi bỏphiếu, dân chủ lựa chọn những đại biểu của mình vào Quốc hội, để tạo ra bộ máynhà nước mới phục vụ nhân dân Ngày Tổng tuyển cử 6/1/1946 không những làngày hội lớn mà còn là minh chứng rõ ràng cho tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựngmột nhà nước của dân

+ Nhân dân có quyền kiểm soát giám sát và bãi miễn đại biểu quốc hội và đạibiểu hội đồng nhân dân

Nhà nước cũng như chính quyền các cấp do dân bầu ra, vì vậy phải do dânkiểm soát, hoàn toàn có quyền bãi miễn họ “Chính phủ ta là Chính phủ của nhândân, chỉ có một mục đích là ra sức phụng sự lợi ích của nhân dân Chính phủ rấtmong đồng bào giúp đỡ, đôn đốc, kiểm soát và phê bình để làm tròn nhiệm vụ củamình là người đầy tớ trung thành tận tụy của nhân dân”

+ Nhân dân có quyền bãi miễn, những đại biểu ấy nếu họ tỏ ra không xứngđáng với sự tín nhiệm của nhân dân

+ Dân được hưởng mọi quyền tự do dân chủ, có quyền làm bất cứ việc gìkhông cấm, và có nghĩa vụ tuân theo pháp luật

Trang 10

Hồ Chí Minh đã nêu lên quan điểm dân là chủ và dân làm chủ

“Bao nhiêu lợi ích đều vì dânBao nhiêu quyền hạn đều của dân”

Dân là chủ có nghĩa là xác định vị trí của dân, còn dân làm chủ nghĩa là xácđịnh quyền lợi, nghĩa vụ của dân Trong nhà nước của dân với ý nghĩa đó, ngườidân được hưởng mọi quyền dân chủ Bằng thiết chế dân chủ, nhà nước phải có tráchnhiệm bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, để cho nhân dân thực thi quyền làmchủ của mình trong hệ thống quyền lực của xã hội Quyền lực của nhân dân đượcđặt ở vị trí tối thượng Điều này ý nghĩa thực tế nhắc nhở những người lãnh đạo,những đại biểu của nhân dân làm đúng chức trách, vị thế của mình, không phải làđứng trên nhân dân, coi khinh nhân dân, “cậy thế” với dân

1.2.2 Nhà nước do dân

Nhà nước do là Nhà nước do dân dựng xây nên

* Một là, Nhà nước do dân lập nên, dân ủng hộ, dân làm chủ.

- “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ…”

- “Dễ mười lần không dân cũng chịu Khó trăm lần dân liệu cũng xong”

- Hồ Chí Minh khẳng định: việc nước là việc chung, mỗi người đều phải có trách

nhiệm “ghé vai gánh vác một phần”

- Chính vì vậy, Hồ Chí Minh thường nhấn mạnh nhiệm vụ của những ngườicách mạng là phải làm cho dân hiểu, làm cho dân giác ngộ để nâng cao được tráchnhiệm làm chủ, xây dựng nhà nước đồng thời phải có trách nhiệm quản lý nhànước Quyền lợi quyền hạn bao giờ cũng đi đôi với trách nhiệm, nghĩa vụ

- Trong Báo cáo về dự thảo Hiến pháp sửa đổi tại Quốc hội nước Việt NamDân chủ Cộng hoà khoá I, kỳ họp thứ 11 ngày 18/12/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh

đã nói: “Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nước Hội đồng nhân dân

là cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nước địa phương…” Chúng ta đều biết ngay

từ năm 1946, Quốc hội dược gọi là Nghị viện nhân dân đã được xác định là “cơquan cao nhất của đất nước” (Hiến pháp 1946)

Trang 11

* Hai là, Đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp do nhân dân bầu và chịu trách nhiệm trước nhân dân.

Nhân dân phải sử dụng cơ quan quyền lực - người đại diện của mình để thựchành chức năng quản lý nhà nước Quốc hội bầu ra Chủ tịch nước, Uỷ ban Thường

vụ Quốc hội và Hội đồng Chính phủ Trong thời gian Quốc hội không họp, thì Hộiđồng Chính phủ là cơ quan hành chính cao nhất của nhà nước, là cơ quan chấp hànhluật và nghị quyết của Quốc hội Trong thời Quốc hội không họp, thì Hội đồngChính phủ chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước uỷ ban Thường vụ Quốc hội.Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập pháp Những vấn đề quan tọng nhất củanhà nước trong phạm vi toàn quốc đều do Quốc hội quyết định

* Ba là, Nhân dân phải tham gia vào công việc của NN Mọi công việc xây dựng đất nước là trách nhiệm của dân.

- Tuy ở vị trí cao nhất, Quốc hội vẫn không phải là một cơ quan tập trung tất

cả quyền lực Trong hoạt động của Quốc hội, theo nguyên tắc của Hiến pháp thìnhững việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa nhân dân phúc quyết, nếu 2/3tổng số đại biểu của Nghị viện đồng ý (Điều 32, Hiến pháp năm 1946) Chế độtrưng cầu dân ý tuy được thực hiện khá phổ biến ở các nước, nhưng áp dụng vàonước ta trong giai đoạn đó là một tiến bộ vượt bậc về tư tưởng, đặt nền tảng nhândân trong tổ chức hoạt động của nhà nước Về điểm này, Hồ Chí Minh rất quan tâmđến việc để dân thảo luận, phát huy sáng kiến và tìm cách giải quyết mọi vấn đề”(t.5, tr.297)

- Hội đồng nhân dân được xem như một cơ quan “tự quản” của nhân dân, donhân dân địa phương bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương Hộiđồng nhân dân có quyền quyết định những vấn đề có tính địa phương đã được ghinhận trong Hiến pháp và nhiều sắc lệnh Để đảm bảo cho Hội đồng nhân dân thựchiện đầy đủ thẩm quyền, các nghị quyết của Hội đồng nhân dân phải gửi lên cơquan hành chính cấp trên, trong một thời hạn nhất định nếu không có sự bác bỏhoặc yêu cầu bổ sung thì Hội đồng nhân dân sẽ đương nhiên thực hiện nghị quyếtđó

Ngày đăng: 09/01/2023, 19:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w