1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

NHẬN THỨC VỀ XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN NỀN VĂN HOÁ CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI

20 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhận thức về xây dựng, phát triển nền văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam thời kỳ đổi mới
Tác giả Nguyễn Mi Lan Anh, Trần Hà Nhân Hoà, Hoàng Đức Tài, Lê Nguyễn Nhật Tân, Võ Lâm Hoài Thanh, Đinh Dương Châu Thảo
Người hướng dẫn ThS. Lê Quang Chung
Trường học Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Lịch sử Đảng
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 154,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thời kỳ đổi mới, tiến hành phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, Đảng ta đã từng bước nhận thức toàn diện và sâ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP HCM

KHOA CHÍNH TRỊ VÀ LUẬT



MÔN HỌC: LỊCH SỬ ĐẢNG

TIỂU LUẬN

NHẬN THỨC VỀ XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN NỀN VĂN HOÁ CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

THỜI KỲ ĐỔI MỚI

GVHD: Ths Lê Quang Chung

Nguyễn Mi Lan Anh 20125144 Trần Hà Nhân Hoà 20132143 Hoàng Đức Tài 19131119

Lê Nguyễn Nhật Tân 20132101

Võ Lâm Hoài Thanh 20132094 Đinh Dương Châu Thảo 20132232 Lớp thứ 6 - Tiết 5-6

Mã lớp: LLCT220514_22_1_42

Tp Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2022

Trang 2

ĐIỂM SỐ TIÊU CHÍ NỘI DUNG TRÌNH BÀY TỔNG

ĐIỂM

NHẬN XÉT

Ký tên

Ths Lê Quang Chung

Trang 3

BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ THỨ

TỰ HỌ TÊN NHIỆM VỤ KẾT QUẢ KÝ TÊN

1 Nguyễn Mi Lan Anh

2 Trần Hà Nhân Hoà

3 Hoàng Đức Tài

4 Lê Nguyễn Nhật Tân

5 Võ Lâm Hoài Thanh

6 Đinh Dương Châu Thảo

Trang 4

MỤC LỤC

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trải qua hơn 79 năm trên chặng đường phát triển văn hóa, từ văn kiện đầu tiên

“Đề cương văn hoá năm 1943”, Đảng và nhà nước ta đã tích lũy kinh nghiệm thực tiễn

và lý luận để lại dấu ấn lịch sử, dấu ấn thời đại về tư duy văn hoá Việc đưa ra các chiến lược phát triển kinh tế là rất quan trọng tuy nhiên bên cạnh chiến lược phát triển kinh tế, chúng ta cần có chiến lược phát triển nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc phù hợp với phát triển kinh tế Tất nhiên đậm đà bản sắc dân tộc không thể đóng cửa nền văn hóa, mà chủ động chọn lọc những tinh hoa văn hóa nhân loại để làm phong phú, giàu có thêm, hiện đại hơn nền văn hóa của dân tộc của đất nước mình Văn hóa vốn bao giờ cũng là nền tảng quyết định của xã hội, một văn hóa cho sự phát triển mạnh

mẽ, sâu sắc toàn diện nhất toàn cầu hóa và hôi nhập, toàn cầu hóa như một tất yếu Có thể khẳng định: Văn hóa là cốt hồn của dân tộc, một dân tộc, nếu không giữ được bản sắc văn hóa riêng thì dân tộc đó sẽ bị lu mờ thậm chí không còn dân tộc đó nữa Vì thế, xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc không chỉ là trách nhiệm của ngành văn hoá mà còn là trách nhiệm của toàn đảng, toàn dân và toàn xã hội Trong thời kỳ đổi mới, tiến hành phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, Đảng ta

đã từng bước nhận thức toàn diện và sâu sắc hơn về vai trò của văn hóa và việc phát huy nguồn lực văn hóa đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Từ việc nhận thấy văn hóa là một trong những yếu tố được chú trọng nhất trong thời kỳ đổi mới của đất nước và là tiền đề cho sự phát triển văn hóa hiện nay, nhóm chúng tôi quyết định chọn đề tài: “Nhận thức về xây dựng, phát triển nền văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam thời kỳ đổi mới” để làm rõ các lý luận chính trị liên quan đến vấn đề này

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu

- Làm rõ được khái niệm, đặc trưng của văn hóa và nhận thức của Đảng Cộng

Sản Việt Nam về xây dựng và phátchứ triển văn hóa trong thời kì đổi mới

- Trình bày được quá trình thực hiện xây dựng và phát triển văn hóa của Đảng thông qua các kì đại hội

Trang 6

- Trình bày được những thành tựu cũng như các hạn chế của Đảng trong quá trình xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam thời kì đổi mới

Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục tiêu đã nêu trên, nhóm nghiên cứu cần thực hiện được một số các mục tiêu cụ thể như sau:

- Nghiên cứu, làm rõ các khái niệm cơ bản về văn hóa cũng như các đặc trưng

và chức năng của văn hóa trên các phương diện của đời sống con người

- Tìm hiểu, trình bày quá trình Đảng Cộng Sản Việt Nam xây dựng và phát triển nền văn hóa thông qua các kì đại hội (từ đại hội VI đến đại hội VII và từ đại hội IX đến XIII)

- Trình bày những thành tựu và hạn chế của Đảng trong quá trình thực hiện các chính sách xây dựng và phát triển văn hóa trong các kì đại hội này

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài đó chính là Văn hóa trong sự nhận thức của Đảng và nhà nước ta qua các kì Đại hội và bên cạnh đó là nhận thức của Đảng Cộng Sản ta về việc xây dựng và phát triển nền văn hóa nước nhà trong thời kì đổi mới thông qua đó nhận thức được những thành tựu và hạn chế trong công tác xây dựng và phát triển Văn hóa nước nhà

Phạm vi nghiên cứu: Chúng ta sẽ tiến hành nghiên cứu thông qua các văn kiện của Đảng ta qua các kì Đại hội từ đại hội VI đến Đại hội XIII về vấn đề đó là xây dựng

và phát triển Văn hóa nước ta trong thời kì trước đổi mới và sau đổi mới qua đó ta sẽ

có cái nhìn cụ thể hơn về quá trình xây dựng và phát triển Văn hóa nước nhà

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu: Theo phương pháp luận sử học, đồng thời dựa dựa vào phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin và kết hợp chặt chẽ các phương pháp lịch sử nhằm làm nổi bật lên được nhận thức của Đảng Cộng Sản ta về xây dựng, phát triển nền văn hoá của Việt Nam ta thời kỳ đổi mới

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của tiểu luận

Tổng quan đánh giá được tình hình xây dựng và phát triển Văn hoá của nước ta trong thời kì đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản và Nhà nước

Trang 7

Phân tích được những ảnh hưởng của Văn hoá đến với đời sống nhân dân Việt Nam

Qua đó thấy được những mặt hạn chế cần khắc phục và những thành tựu cần phát huy trong quá trình xây dựng và phát triển Văn hoá nước nhà

6 Kết cấu của tiểu luận

Nội dung bài tiểu luận của chúng tôi gồm có 3 phần chính với kết cấu theo 3 chương như sau:

Chương 1 Khái niệm, đặc trưng và chức năng của văn hoá

Chương 2 Nhận thức của Đảng Cộng Sản Việt Nam về xây dựng và phát triển văn hoá trong thời kì đổi mới

Chương 3 Đánh giá quá trình xây dựng và phát triển văn hoá thời kì đổi mới

Trang 8

Chương 1

KHÁI NIỆM, ĐẶC TRƯNG VÀ CHỨC NĂNG CỦA VĂN HÓA

1.1 Khái niệm của văn hóa

Hai từ “văn hoá” có rất nhiều nghĩa, cho đến hiện tại vẫn chưa có định nghĩa chính xác về hai từ “văn hóa” này Trong tiếng Việt theo nghĩa thông dụng thì văn hoá dùng để chỉ học thức (trình độ văn hóa), lối sống (nếp sống văn hóa)… Trong khi theo nghĩa rộng thì văn hóa hóa bao gồm tất cả, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại cho đến tín ngưỡng, phong lục, lối sống, lao động…

Tuy nhiên ngay cả với cách hiểu rộng này trên thế giới cũng có hàng trăm định nghĩa khác nhau về “văn hoá” Trước hết để định nghĩa một khái niệm thì ta cần xác định được những đặc trưng cơ bản của nó Đó là những nét riêng biệt và tiêu biểu, cần

và đủ để phân biệt khái niệm (sự vật) ấy với khái niệm (sự vật) khác Sau khi phân tích các cách tiếp cận văn hóa phổ biến hiện nay (coi văn hóa như tập hợp, như hệ thống, như giá trị, như hoạt động, như kí hiệu, như thuộc tính nhân cách, như thuộc tính xã hội…), có thể xác định được các đặc trưng cơ bản mà tổng hợp lại, ta có thể nêu ra một định nghĩa văn hóa như sau: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất

và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động, thực tiễn, trong

sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội”

Theo UNESCO năm 1994: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động và sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu – những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc” Định nghĩa này nhấn mạnh vào hoạt động sáng tạo của các cộng đồng người gắn liền với tiến trình phát triển có tính lịch sử của mỗi cộng đồng trải qua một thời gian dài tạo nên những giá trị có tính nhân văn phổ biến, đồng thời có tính đặc thù của mỗi cộng đồng, bản sắc riêng của từng dân tộc

Tuy nhiên, nếu chỉ căn cứ vào định nghĩa có tính khái quát này, trong hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa, chúng ta dễ bị hiểu một cách sai lạc: Quản lý văn hóa là quản lý các hoạt động sáng tạo và thu hẹp hơn nữa là quản lý sáng tác văn học nghệ thuật Thực tế không phải như vậy Trong Tư tưởng Hồ Chí Minh thì văn hoá được Bác hiểu theo ba nghĩa rộng, hẹp và rất hẹp

Trang 9

Theo nghĩa rộng, Bác viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống,

loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn,

ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” Định nghĩa về văn hóa của Bác đã khắc phục được những quan niệm phiến diện về văn hóa trong lịch sử và hiện tại, giúp chúng ta hiểu văn hoá cụ thể và đầy đủ hơn

Theo nghĩa hẹp, Bác viết: “Trong công cuộc kiến thiết nước nhà, có bốn vấn đề

cần chú ý đến, cũng phải coi là quan trọng ngang nhau: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa Nhưng văn hóa là một kiến trúc thượng tầng” (theo Báo Cứu quốc 8/1945)

Theo nghĩa rất hẹp, văn hóa đơn giản là chỉ học thức (trình độ văn hoá) của con

người, thể hiện ở việc Bác yêu cầu mọi người “phải đi học văn hóa”, “xóa mù chữ”,…

Với những định nghĩa đã nêu thì văn hóa chính là một hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo, tích lũy trong hoạt động thực tiễn qua quá trình tương tác giữa con người với tự nhiên, xã hội và bản thân Văn hóa là của con người, do con người sáng tạo và vì lợi ích của con người Văn hóa được con người giữ gìn, sử dụng để phục vụ đời sống con người và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác (làm gạch đầu dòng)

1.2 Đặc trưng của văn hóa

1.2.1 Tính hệ thống

Văn hóa trước hết phải có tính hệ thống Cần phải phân biệt rạch ròi giữa tính

hệ thống với tính tập hợp Tính hệ thống của văn hóa có “xương sống” là mối liên hệ mật thiết giữa các thành tố với nhau, các thành tố có thể bao gồm hàng loạt các sự kiện, nó kết nối những hiện tượng, quy luật lại với nhau trong quá trình phát triển

Nhờ có tính hệ thống mà văn hóa có thể thực hiện được các chức năng của xã hội Lý do là bởi văn hóa bao trùm lên tất cả các hoạt động, các lĩnh vực Từ đó có thể làm tăng độ ổn định của xã hội, cung cấp và trang bị cho xã hội những phương tiện cần thiết để ứng biến với môi trường tự nhiên

Trang 10

Nói cách khác, văn hóa xây lên nền tảng vững chắc cho sự phát triển tiến bộ của xã hội Có lẽ chính vì thế mà người ta thường gắn văn hóa với loại từ “nền” để tạo thành cụm từ thông dụng “nền văn hóa”

1.2.2 Tính giá trị

Đặc trưng quan trọng thứ hai của văn hóa là tính giá trị Văn hóa khi được hiểu theo khía cạnh của một tính từ sẽ mang nghĩa là tốt đẹp, là có giá trị Người có văn hóa cũng chính là một người có giá trị Do đó mà văn hóa trở thành thước đo chuẩn mực cho con người và xã hội

Văn hóa tự chính bản thân nó cũng mang trong mình những giá trị riêng bao gồm giá trị vật chất và giá trị tinh thần Xét về mặt ý nghĩa thì văn hóa có thể chia thành giá trị sử dụng, giá trị đạo đức và giá trị thẩm mĩ Đứng trên góc độ thời gian lại

có thể chia văn hóa thành giá trị vĩnh cửu và giá trị nhất thời… Với mỗi góc độ khác nhau gắn với một sự vật, hiện tượng, sự kiện khác nhau ta lại có thể có cái nhìn khác nhau Từ những cái nhìn này, ta có thể đánh giá văn hóa dưới những góc độ khách quan quan khác nhau

1.2.3 Tính nhân sinh

Đặc trưng thứ ba của văn hóa là tính nhân sinh Tính nhân sinh cho phép phân biệt văn hóa như một hiện tượng xã hội (do con người sáng tạo, nhân tạo) với các giá trị tự nhiên (thiên tạo) Chính vì là một thực thể có tính nhân sinh nên văn hóa chịu tác động của cả vật chất lẫn tinh thần của con người

Đồng thời, vì có tính nhân sinh nên văn hóa vô tình trở thành sợi dây liên kết giữa người với người, vật với vật và cả vật với người Đó chính là ý nghĩa nhân sinh sâu sắc nhất mà văn hóa hàm chứa

1.2.4 Tính lịch sử

Văn hóa còn có tính lịch sử Nó cho phép phân biệt văn hóa như sản phẩm của một quá trình và được tích lũy qua nhiều thế hệ với văn minh như sản phẩm cuối cùng, chỉ ra trình độ phát triển của từng giai đoạn Tính lịch sử tạo cho văn hóa tính bề dày một chiều sâu, nó buộc văn hóa thường xuyên tự điều chỉnh, tiến hành phân loại và phân bố lại các giá trị Tính lịch sử được duy trì bằng truyền thống văn hóa

Trang 11

Văn hóa có tính lịch sử cao cần phải được tích lũy, được gìn giữ và không ngừng tái tạo, chắt lọc những tinh hoa, không ngừng sản sinh và phát triển để hoàn thiện dưới dạng ngôn ngữ, phong tục,…

1.3 Chức năng của văn hóa

Nhìn nhận một cách khái quát văn hóa có những chức năng chủ yếu sau:

Chức năng giáo dục: Chức năng bao trùm nhất của văn hóa là chức năng giáo dục Nói cách khác, chức năng tập trung của văn hóa là bồi dưỡng con người, hướng lí tưởng, đạo đức và hành vi của con người vào "điều hay lẽ phải, điều khôn, lẽ thiệt", theo những khuôn mẫu, chuẩn mực mà xã hội quy định Bằng chức năng giáo dục, văn hóa tạo cho lịch sử nhân loại và lịch sử mỗi dân tộc một sự phát triển liên tục Mặt khác, chức năng giáo dục của văn hóa phải được thực hiện thông qua các chức năng:

Chức năng nhận thức: Chức năng này tồn tại trong mọi hoạt động văn hóa Nói cách khác, chức năng nhận thức là chức năng đầu tiên của mọi hoạt động văn hóa, thiếu nó, không thể nói tới chức năng nào khác

Chức năng thẩm mĩ: Đây là một chức năng rất quan trọng của văn hóa, nhưng cũng là chức năng hay bị bỏ quên, bị coi nhẹ, khi xem xét, điều hành, quản lí văn hóa Cùng với nhu cầu hiểu biết, con người còn có nhu cầu hưởng thụ, hướng tới cái đẹp Con người nhào nạn hiện thực theo quy luật của cái đẹp như Các Mác từng khẳng định, cho nên văn hóa nghệ thuật phải có chức năng này Xét cho cùng, văn hóa là sự sáng tạo của con người theo quy luật của cái đẹp

Chức năng giải trí: Chức năng này cũng không tách rời chức năng giáo dục và không đi ra ngoài mục tiêu hoàn thiện con người Bởi lẽ, trong cuộc sống, con người, ngoài hoạt động lao động, còn có nhu cầu giải tỏa tinh thần, tâm lí, sự mệt mỏi cơ bắp v.v Họ tìm đến với các hoạt động văn hóa, câu lạc bộ, bảo tàng, lễ hội, v.v nói khác

đi là tìm sự giải trí Trong một chừng mực nhất định, sự giải trí ấy là bổ ích, cần thiết Chẳng hạn, sau một vòng quay mùa vụ của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước, đi hội, xem hội, mở hội làng là nhu cầu của người nông dân, không chỉ đơn thuần là sự giải tỏa tâm linh mà còn là sự giải trí

Nhận biết được các chức năng của văn hóa, chính là khẳng định rõ ràng hơn mục tiêu cao cả của văn hóa là vì con người, vì sự hoàn thiện và phát triển của con người

Trang 12

Chương 2

NHẬN THỨC CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI

2.1 Nhận thức của Đảng về xây dựng và phát triển văn hoá từ đại hội VI đến đại hội VII

Nhìn lại hơn 92 năm qua, từ khi Đảng ta ra đời ngày 3-2-1930 cho đến nay, những quan điểm cơ bản của Đảng về văn hóa, phát triển văn hóa, con người đã từng bước được bổ sung, hoàn thiện một cách khoa học, cách mạng, nhân văn Hệ thống các quan điểm này được nhân dân đồng tình, ủng hộ, bởi tất cả đều hướng đến mục tiêu vì hạnh phúc của nhân dân

Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Đảng, Nhà nước ta trăn trở tìm con đường đổi mới đất nước, trước hết là đổi mới tư duy về kinh tế Đại hội

Đảng toàn quốc lần thứ VI (năm 1986) khẳng định rõ quan điểm này Từ đổi mới tư duy về kinh tế, chính trị, Đảng ta xác lập cơ sở lý luận và thực tiễn để đổi mới văn hóa Trong giai đoạn từ năm 1986 đến năm 1994, lĩnh vực văn hóa, văn nghệ được Đảng quan tâm sâu sắc hơn Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được thông qua tại Đại hội lần thứ VII (6-1991) xác định “nền văn

hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” là một trong sáu đặc trưng cơ bản của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12-1986) đã mở đầu công cuộc đổi mới Đại hội VII tiếp tục chủ trương đổi mới toàn diện, đồng bộ và triệt

để nhằm đưa đất nước đi vào thế ổn định và phát triển Sau một thời gian khủng hoảng kinh tế - xã hội và sau những biến động phức tạp của tình hình chính trị quốc tế, hai kỳ đại hội trên ưu tiên tập trung xác định đường lối phát triển kinh tế, ổn định xã hội; văn hóa mặc dù được quan tâm phát triển, nhưng chưa được xem là vấn đề trọng tâm

Tại Hội Trung ương 4 khóa VII (năm 1993), Đảng đã nhìn nhận vai trò quan trọng của văn hóa, coi “Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, một động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời là một mục tiêu của chủ nghĩa xã hội” Đại hội VII của Đảng (tháng 6-1991) đã tổng kết 5 năm đổi mới (1986-1990), khẳng định đường lối đổi mới là đúng đắn và bước đi phù hợp với thực tiễn Thành công lớn của Đại hội VII là đã đề ra: Cương lĩnh xây dựng đất nước, trong đó bao gồm cả văn hóa,

Ngày đăng: 28/11/2022, 22:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w