1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhận thức về xây dựng, phát triển nền văn hóa của đảng cộng sản việt nam thời kỳ đổi mới( đại hội VI đến đại hội XIII)

28 12 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhận thức về xây dựng, phát triển nền văn hóa của đảng cộng sản việt nam thời kỳ đổi mới( đại hội VI đến đại hội XIII)
Trường học Trường đại học X, Việt Nam
Chuyên ngành Xây dựng và Phát triển Nền Văn Hóa
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 45,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 2 I KHÁI NIỆM, ĐẶC TRƯNG, CHỨC NĂNG CỦA XÂY DỰNG PHÁT TRIỂN NỀN VĂN HÓA 2 1 1 Khái niệm văn hóa theo tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng 2 1 1 1 Định nghĩa về văn hóa.MỤC LỤCMỞ ĐẦU1NỘI DUNG2I. KHÁI NIỆM, ĐẶC TRƯNG, CHỨC NĂNG CỦA XÂY DỰNG PHÁT TRIỂN NỀN VĂN HÓA.21.1. Khái niệm văn hóa theo tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng21.1.1. Định nghĩa về văn hóa21.1.2. Quan điểm về xây dựng một nền văn hóa mới21.1.3. Vai trò của Văn hóa trong phát triển31.2. Đặc trưng, chức năng của xây dựng phát triển nền văn hóa51.2.1. Đặc trưng của văn hóa51.2.2. Chức năng của văn hóa:6II. NỘI DUNG NHẬN THỨC VỀ XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN NỀN VĂN HÓA CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI82.1. Nhận thức về xây dựng, phát triển nền văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam từ Đại hội VIVIII82.1.1. Nhận thức về xây dựng, phát triển văn hóa từ Đại hội VI82.1.2. Nhận thức về xây dựng, phát triển văn hóa từ Đại hội VII92.1.3. Nhận thức về xây dựng, phát triển văn hóa từ Đại hội VIII92.1.4. Nhận thức về xây dựng, phát triển văn hóa từ Đại hội IX102.1.5. Nhận thức về xây dựng, phát triển văn hóa từ Đại hội X102.1.6. Nhận thức về xây dựng, phát triển văn hóa từ Đại hội XI112.1.7. Nhận thức về xây dựng, phát triển văn hóa từ Đại hội XII112.1.8. Nhận thức về xây dựng, phát triển văn hóa từ Đại hội XIII122.2. Thực trạng xây dựng và phát triển nền văn hóa hiện nay132.2.1. Một số thành tựu đạt được132.2.2. Một số hạn chế trong quá trình phát triển văn hóa15III. ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG PHÁT TRIỂN NỀN VĂN HÓA, GIẢI PHÁP XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN VĂN HÓA VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI173.1. Cơ hội và thách thức đặt ra với sự phát triển văn hóa Việt Nam những năm sắp tới173.1.1. Cơ hội đặt ra với sự phát triển văn hóa Việt Nam173.1.2. Thách thức đặt ra với sự phát triển văn hóa Việt Nam193.2. Giải pháp xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam213.2.1. Giải pháp phát triển nhận thức của sinh viên về văn hóa213.2.2. Giải pháp xây dựng và phát triển văn hóa văn nghệ của nước ta trong xu thế hội nhập22KẾT LUẬN25TÀI LIỆU THAM KHẢO26  MỞ ĐẦUSinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm đến sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam. Người chỉ rõ: Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do loài người sáng tạo ra với phương thức sử dụng chúng, nhằm đáp ứng lẽ sinh tồn, đồng thời đó cũng là mục đích của cuộc sống loài người. Đây là ngọn lửa soi đường, dẫn lối cho dân tộc đi đến thắng lợi. Trải qua gần 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, Đảng ta đã định hướng phát triển đất nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và xây dựng, phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Quan điểm của Đảng về xây dựng và phát triển văn hóa có những bước vận động rất quan trọng. Văn hóa được coi là nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, trong đó con người được nhìn nhận là trung tâm trong chiến lược phát triển bền vững. Việc nhấn mạnh đến vấn đề con người thể hiện sự phù hợp với quan điểm tiến bộ về văn hóa trên thế giới hiện nay. Do đó qua quá trình học tập và tìm hiểu, tác giả đã chọn đề tài “ Nhận thức về xây dựng, phát triển nền văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam thời kỳ đổi mới( Đại hội VI đến Đại hội XIII)” NỘI DUNGI. KHÁI NIỆM, ĐẶC TRƯNG, CHỨC NĂNG CỦA XÂY DỰNG PHÁT TRIỂN NỀN VĂN HÓA.1.1. Khái niệm văn hóa theo tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng1.1.1. Định nghĩa về văn hóaNăm 1943, Hồ Chí Minh đã nêu lên định nghĩa về văn hóa:“Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn hoá, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá. Văn hoá là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn.”(tập 3, tr.431)1.1.2. Quan điểm về xây dựng một nền văn hóa mớiCùng với định nghĩa về văn hóa, Hồ Chí Minh đã đưa ra 5 điểm lớn định hướng cho việc xây dựng nền văn hóa dân tộc:•Xây dựng tâm lý: tinh thần độc lập tự cường•Xây dựng lý luận: biết hy sinh mình, làm lợi cho quần chúng•Xây dựng xã hội: mọi sự nghiệp có lien quan đến phúc lợi của nhân dân trong xã hội•Xây dựng chính trị: dân quyền•Xây dựng kinh tếCó thể thấy: từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã quan tâm tới văn hóa trong đời sống xã hội. Ta hiểu vì sao ngay sau khi giành được độc lập, Người đã đưa văn hóa vào chiến lược phát triển đất nước.1.1.3. Vai trò của Văn hóa trong phát triểnĐể xác định vai trò của văn hóa trong phát triển, cần hiểu rõ nội dung văn hóa mang tính bản chất trong hoạt động của mỗi chủ thể và trong toàn xã hội, gắn với vai trò và chức năng của từng chủ thể, như trên đã nói. Để hiểu rõ vai trò của văn hóa đối với sự phát triển thì cần tránh cách hiểu văn hóa thiên về giác độ cách ứng xử, quan hệ…; mà phải hiểu văn hóa là những giá trị cốt lõi định hướng, chi phối hoạt động của các chủ thể và toàn xã hội trong mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường sinh thái. Nhìn nhận một cách khái quát văn hóa có những vai trò chủ yếu sau :i). Là cơ sở để xác lập các giá trị cốt lõi của mô hình con đường thể chế phát triển của một quốc gia dân tộc, xác lập các giá trị cốt lõi của thể chế chính trị thực sự “của dân, do dân và vì dân”. Xác lập mục tiêu bao trùm của sự phát triển là vì con người; con người vừa là chủ thể vừa là mục tiêu của sự phát triển. Các giá trị này thường được xác định, chế định trong cương lĩnh của các Đảng cầm quyền, trong hiến pháp, pháp luật, chiến lược phát triển của quốc gia…ii). Là cơ sở để xác lập các giá trị cốt lõi của thể chế kinh tế, triết lý và đạo đức kinh doanh thúc đẩy phát triển năng động, hiệu quả, hài hòa và bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường; phát triển bao trùm, “không để ai tụt lại phía sau”. Xác lập hệ giá trị phát triển chung của quốc gia trong định hướng phát triển dài hạn và trong những giai đoạn cụ thể. Hệ giá trị phát triển đó được cụ thể hóa thành các giá trị phát triển trong các lĩnh vực con người, chính trị, kinh tế, xã hội, môi trường sinh thái.iii). Là cơ sở để xác lập các giá trị xã hội, lối sống xã hội, nền đạo đức xã hội thượng tôn pháp luật, nhân văn, nhân ái, tôn trọng quyền con người, quyền công dân. Là cơ sở để tạo nên “sức mạnh mềm” trong phát triển.iv). Là cơ sở để xác lập hệ giá trị phát triển cùng với cơ chế hoạt động tương ứng của từng chủ thể trong xã hội (thể hiện những giá trị mà chủ thể đó tuân theo và hướng tới); tạo động lực nội sinh cho sự phát triển bền vững của từng chủ thể cũng như toàn xã hội với tư cách là một hệ thống mở trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.v). Là cơ sở để xác lập hệ giá trị hợp tác và hội nhập quốc tế trên cơ sở nguyên tắc đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên trên trên hết, đồng thời tôn trọng các lợi ích chính đáng của các quốc gia dân tộc khác, hợp tác bình đẳng cùng phát triển và cùng có lợi, cùng bảo vệ các giá trị chung của nhân loại. vi). Là cơ sở để xây dựng cơ chế liên kết điều tiết sự phát triển thông qua liên kết các giá trị giữa các chủ thể và trong toàn xã hội; hạn chế những tác động tiêu cực trong quá trình phát triển. Xét trên bình diện quốc gia dân tộc, để văn hóa trở thành sức mạnh nội sinh của sự phát triển bền vững, thì các giá trị con người văn hóa phải trở thành nền tảng cốt lõi trong mọi hoạt động của tất cả các chủ thể trong xã hội, nhưng trong đó trọng trách hàng đầu được đặt vào vai trò giá trị văn hóa của Đảng cầm quyền và Nhà nước. Có lẽ chính vì vậy, tại lễ kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng Chủ tịch Hồ Chí Minh nói : “Đảng ta vĩ đại như biển rộng, như núi cao, Ba mươi năm phấn đấu và thắng lợi biết bao nhiêu tình, Đảng ta là đạo đức, là văn minh, Là thống nhất, độc lập, là hòa bình ấm no...”.Trong các câu thơ trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về những “giá trị” văn hóa thể hiện bản chất của Đảng ta cần phải đấu tranh, phấn đấu gìn giữ và phát triển. Đảng có những giá trị đó, phát triển các giá trị đó trở thành giá trị đặc trưng bản chất tiêu biểu của Quốc gia Dân tộc thì mới tạo thành sức mạnh nội sinh phát triển của cả dân tộc (trong đấu tranh cách mạng cũng như trong xây dựng đất nước).1.2. Đặc trưng, chức năng của xây dựng phát triển nền văn hóa1.2.1. Đặc trưng của văn hóaVăn hóa có tính hệ thốngCần phải phân biệt rạch ròi giữa tính hệ thống với tính tập hợp. Tính hệ thống của văn hóa có “xương sống” là mối liên hệ mật thiết giữa các thành tố với nhau, các thành tố có thể bao gồm hàng loạt các sự kiện, nó kết nối những hiện tượng, quy luật lại với nhau trong quá trình phát triển.Nhờ có tính hệ thống mà văn hóa có thể thực hiện được các chức năng của xã hội. Lý do là bởi văn hóa bao trùm lên tất cả các hoạt động, các lĩnh vực. Từ đó có thể làm tăng độ ổn định của xã hội, cung cấp và trang bị cho xã hội những phương tiện cần thiết để ứng biến với môi trường tự nhiên.Nói cách khác, văn hóa xây lên nền tảng vững chắc cho sự phát triển tiến bộ của xã hội. Có lẽ chính vì thế mà người ta thường gắn văn hóa với loại từ “nền” để tạo thành cụm từ thông dụng “nền văn hóa”.Văn hóa có tính giá trịVăn hóa khi được hiểu theo khía cạnh của một tính từ sẽ mang nghĩa là tốt đẹp, là có giá trị. Người có văn hóa cũng chính là một người có giá trị. Do đó mà văn hóa trở thành thước đo chuẩn mực cho con người và xã hội.Văn hóa tự chính bản thân nó cũng mang trong mình những giá trị riêng bao gồm giá trị vật chất và giá trị tinh thần. Xét về mặt ý nghĩa thì văn hóa có thể chia thành giá trị sử dụng, giá trị thẩm mỹ, giá trị đạo đức. Đứng trên góc độ thời gian lại có thể chia văn hóa thành giá trị vĩnh cửu và giá trị nhất thời.Với mỗi góc độ khác nhau gắn với một sự vật, hiện tượng, sự kiện khác nhau ta lại có thể có cái nhìn khác nhau. Từ những cái nhìn này, ta có thể đánh giá văn hóa dưới những góc độ khách quan quan khác nhau.Văn hóa có tính nhân sinhTính nhân sinh của văn hóa có nghĩa rằng văn hóa được coi như một hiện tượng xã hội. Hiện tượng xã hội được hiểu là những hiện tượng do con người sáng tạo ra hay còn gọi là nhân tạo, khác với các giá trị tự nhiên hay còn gọi là thiên tạo. Chính vì là một thực thể có tính nhân sinh nên văn hóa chịu tác động của cả vật chất lẫn tinh thần của con người.Đồng thời, vì có tính nhân sinh nên văn hóa vô tình trở thành sợi dây liên kết giữa người với người, vật với vật và cả vật với người. Đó chính là ý nghĩa nhân sinh sâu sắc nhất mà văn hóa hàm chứa.Văn hóa có tính lịch sửVăn hóa phản ánh quá trình sáng tạo của con người trong một không gian và thời gian nhất định. Chính vì thế mà văn hóa cũng gắn liền với chiều dài lịch sử, thậm chí là văn hóa hàm chứa lịch sử. Tính lịch sử khiến cho văn hóa mang đặc trưng có bề dày, có chiều sâu, có hệ giá trị. Nhờ có tính lịch sử mà văn hóa cũng cần được duy trì, nói một cách khác đó là biến văn hóa trở thành truyền thống văn hóa.Văn hóa có tính lịch sử cao cần phải được tích lũy, được gìn giữ và không ngừng tái tạo, chắt lọc những tinh hoa, không ngừng sản sinh và phát triển để hoàn thiện dưới dạng ngôn ngữ, phong tục

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 2

I KHÁI NIỆM, ĐẶC TRƯNG, CHỨC NĂNG CỦA XÂY DỰNG PHÁT TRIỂN NỀN VĂN HÓA 2

1.1 Khái niệm văn hóa theo tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng 2

1.1.1 Định nghĩa về văn hóa 2

1.1.2 Quan điểm về xây dựng một nền văn hóa mới 2

1.1.3 Vai trò của Văn hóa trong phát triển 3

1.2 Đặc trưng, chức năng của xây dựng phát triển nền văn hóa 5

1.2.1 Đặc trưng của văn hóa 5

1.2.2 Chức năng của văn hóa: 6

II NỘI DUNG NHẬN THỨC VỀ XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN NỀN VĂN HÓA CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI 8

2.1 Nhận thức về xây dựng, phát triển nền văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam từ Đại hội VI-VIII 8

2.1.1 Nhận thức về xây dựng, phát triển văn hóa từ Đại hội VI 8

2.1.2 Nhận thức về xây dựng, phát triển văn hóa từ Đại hội VII 9

2.1.3 Nhận thức về xây dựng, phát triển văn hóa từ Đại hội VIII 9

2.1.4 Nhận thức về xây dựng, phát triển văn hóa từ Đại hội IX 10

2.1.5 Nhận thức về xây dựng, phát triển văn hóa từ Đại hội X 10

2.1.6 Nhận thức về xây dựng, phát triển văn hóa từ Đại hội XI 11

2.1.7 Nhận thức về xây dựng, phát triển văn hóa từ Đại hội XII 11

Trang 2

2.1.8 Nhận thức về xây dựng, phát triển văn hóa từ Đại hội XIII 12

2.2 Thực trạng xây dựng và phát triển nền văn hóa hiện nay 13

2.2.1 Một số thành tựu đạt được 13

2.2.2 Một số hạn chế trong quá trình phát triển văn hóa 15

III ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG PHÁT TRIỂN NỀN VĂN HÓA, GIẢI PHÁP XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN VĂN HÓA VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI 17

3.1 Cơ hội và thách thức đặt ra với sự phát triển văn hóa Việt Nam những năm sắp tới 17

3.1.1 Cơ hội đặt ra với sự phát triển văn hóa Việt Nam 17

3.1.2 Thách thức đặt ra với sự phát triển văn hóa Việt Nam 19

3.2 Giải pháp xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam 21

3.2.1 Giải pháp phát triển nhận thức của sinh viên về văn hóa 21

3.2.2 Giải pháp xây dựng và phát triển văn hóa văn nghệ của nước ta trong xu thế hội nhập 22

KẾT LUẬN 25

TÀI LIỆU THAM KHẢO 26

Trang 3

Trải qua gần 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, Đảng ta đã địnhhướng phát triển đất nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và xâydựng, phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Quan điểm củaĐảng về xây dựng và phát triển văn hóa có những bước vận động rất quantrọng Văn hóa được coi là nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, trong đócon người được nhìn nhận là trung tâm trong chiến lược phát triển bền vững.Việc nhấn mạnh đến vấn đề con người thể hiện sự phù hợp với quan điểm tiến

bộ về văn hóa trên thế giới hiện nay Do đó qua quá trình học tập và tìm hiểu,

tác giả đã chọn đề tài “ Nhận thức về xây dựng, phát triển nền văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam thời kỳ đổi mới( Đại hội VI đến Đại hội XIII)”

Trang 4

NỘI DUNG

I KHÁI NIỆM, ĐẶC TRƯNG, CHỨC NĂNG CỦA XÂY DỰNG

PHÁT TRIỂN NỀN VĂN HÓA.

1.1 Khái niệm văn hóa theo tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng

1.1.1 Định nghĩa về văn hóa

Năm 1943, Hồ Chí Minh đã nêu lên định nghĩa về văn hóa:

“Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sángtạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôngiáo, văn hoá, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn,

ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức

là văn hoá Văn hoá là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểuhiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đờisống và đòi hỏi của sự sinh tồn.”(tập 3, tr.431)

1.1.2 Quan điểm về xây dựng một nền văn hóa mới

Cùng với định nghĩa về văn hóa, Hồ Chí Minh đã đưa ra 5 điểm lớnđịnh hướng cho việc xây dựng nền văn hóa dân tộc:

 Xây dựng tâm lý: tinh thần độc lập tự cường

 Xây dựng lý luận: biết hy sinh mình, làm lợi cho quần chúng

 Xây dựng xã hội: mọi sự nghiệp có lien quan đến phúc lợi củanhân dân trong xã hội

 Xây dựng chính trị: dân quyền

 Xây dựng kinh tế

Có thể thấy: từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã quan tâm tới văn hóa trongđời sống xã hội Ta hiểu vì sao ngay sau khi giành được độc lập, Người đãđưa văn hóa vào chiến lược phát triển đất nước

Trang 5

1.1.3 Vai trò của Văn hóa trong phát triển

Để xác định vai trò của văn hóa trong phát triển, cần hiểu rõ nội dungvăn hóa mang tính bản chất trong hoạt động của mỗi chủ thể và trong toàn xãhội, gắn với vai trò và chức năng của từng chủ thể, như trên đã nói Để hiểu rõvai trò của văn hóa đối với sự phát triển thì cần tránh cách hiểu văn hóa thiên

về giác độ cách ứng xử, quan hệ…; mà phải hiểu văn hóa là những giá trị cốtlõi định hướng, chi phối hoạt động của các chủ thể và toàn xã hội trong mọilĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường sinh thái Nhìn nhận một cáchkhái quát văn hóa có những vai trò chủ yếu sau :

i) Là cơ sở để xác lập các giá trị cốt lõi của mô hình - con đường - thểchế phát triển của một quốc gia - dân tộc, xác lập các giá trị cốt lõi của thể chếchính trị thực sự “của dân, do dân và vì dân” Xác lập mục tiêu bao trùm của

sự phát triển là vì con người; con người vừa là chủ thể vừa là mục tiêu của sựphát triển Các giá trị này thường được xác định, chế định trong cương lĩnhcủa các Đảng cầm quyền, trong hiến pháp, pháp luật, chiến lược phát triển củaquốc gia…

ii) Là cơ sở để xác lập các giá trị cốt lõi của thể chế kinh tế, triết lý vàđạo đức kinh doanh thúc đẩy phát triển năng động, hiệu quả, hài hòa và bềnvững cả về kinh tế, xã hội và môi trường; phát triển bao trùm, “không để ai tụtlại phía sau” Xác lập hệ giá trị phát triển chung của quốc gia trong địnhhướng phát triển dài hạn và trong những giai đoạn cụ thể Hệ giá trị phát triển

đó được cụ thể hóa thành các giá trị phát triển trong các lĩnh vực con người,chính trị, kinh tế, xã hội, môi trường sinh thái

iii) Là cơ sở để xác lập các giá trị xã hội, lối sống xã hội, nền đạo đứcxã hội thượng tôn pháp luật, nhân văn, nhân ái, tôn trọng quyền con người,quyền công dân Là cơ sở để tạo nên “sức mạnh mềm” trong phát triển

Trang 6

iv) Là cơ sở để xác lập hệ giá trị phát triển cùng với cơ chế hoạt độngtương ứng của từng chủ thể trong xã hội (thể hiện những giá trị mà chủ thể đótuân theo và hướng tới); tạo động lực nội sinh cho sự phát triển bền vững củatừng chủ thể cũng như toàn xã hội với tư cách là một hệ thống mở trong tất cảcác lĩnh vực của đời sống xã hội.

v) Là cơ sở để xác lập hệ giá trị hợp tác và hội nhập quốc tế trên cơ sởnguyên tắc đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên trên hết, đồng thời tôn trọngcác lợi ích chính đáng của các quốc gia - dân tộc khác, hợp tác bình đẳngcùng phát triển và cùng có lợi, cùng bảo vệ các giá trị chung của nhân loại

vi) Là cơ sở để xây dựng cơ chế liên kết - điều tiết sự phát triển thôngqua liên kết các giá trị giữa các chủ thể và trong toàn xã hội; hạn chế nhữngtác động tiêu cực trong quá trình phát triển

Xét trên bình diện quốc gia - dân tộc, để văn hóa trở thành sức mạnhnội sinh của sự phát triển bền vững, thì các giá trị con người - văn hóa phảitrở thành nền tảng cốt lõi trong mọi hoạt động của tất cả các chủ thể trong xãhội, nhưng trong đó trọng trách hàng đầu được đặt vào vai trò giá trị văn hóacủa Đảng cầm quyền và Nhà nước Có lẽ chính vì vậy, tại lễ kỷ niệm 30 nămngày thành lập Đảng Chủ tịch Hồ Chí Minh nói :

“Đảng ta vĩ đại như biển rộng, như núi cao,

Ba mươi năm phấn đấu và thắng lợi biết bao nhiêu tình,

Đảng ta là đạo đức, là văn minh,

Là thống nhất, độc lập, là hòa bình ấm no ”

Trong các câu thơ trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về những “giá trị”văn hóa thể hiện bản chất của Đảng ta cần phải đấu tranh, phấn đấu gìn giữ vàphát triển Đảng có những giá trị đó, phát triển các giá trị đó trở thành giá trịđặc trưng bản chất tiêu biểu của Quốc gia - Dân tộc thì mới tạo thành sức

Trang 7

mạnh nội sinh phát triển của cả dân tộc (trong đấu tranh cách mạng cũng nhưtrong xây dựng đất nước).

1.2 Đặc trưng, chức năng của xây dựng phát triển nền văn hóa

1.2.1 Đặc trưng của văn hóa

Văn hóa có tính hệ thống

Cần phải phân biệt rạch ròi giữa tính hệ thống với tính tập hợp Tính hệthống của văn hóa có “xương sống” là mối liên hệ mật thiết giữa các thành tốvới nhau, các thành tố có thể bao gồm hàng loạt các sự kiện, nó kết nối nhữnghiện tượng, quy luật lại với nhau trong quá trình phát triển

Nhờ có tính hệ thống mà văn hóa có thể thực hiện được các chức năngcủa xã hội Lý do là bởi văn hóa bao trùm lên tất cả các hoạt động, các lĩnhvực Từ đó có thể làm tăng độ ổn định của xã hội, cung cấp và trang bị cho xãhội những phương tiện cần thiết để ứng biến với môi trường tự nhiên

Nói cách khác, văn hóa xây lên nền tảng vững chắc cho sự phát triểntiến bộ của xã hội Có lẽ chính vì thế mà người ta thường gắn văn hóa với loại

từ “nền” để tạo thành cụm từ thông dụng “nền văn hóa”

Văn hóa có tính giá trị

Văn hóa khi được hiểu theo khía cạnh của một tính từ sẽ mang nghĩa làtốt đẹp, là có giá trị Người có văn hóa cũng chính là một người có giá trị Do

đó mà văn hóa trở thành thước đo chuẩn mực cho con người và xã hội

Văn hóa tự chính bản thân nó cũng mang trong mình những giá trịriêng bao gồm giá trị vật chất và giá trị tinh thần Xét về mặt ý nghĩa thì vănhóa có thể chia thành giá trị sử dụng, giá trị thẩm mỹ, giá trị đạo đức Đứngtrên góc độ thời gian lại có thể chia văn hóa thành giá trị vĩnh cửu và giá trịnhất thời

Trang 8

Với mỗi góc độ khác nhau gắn với một sự vật, hiện tượng, sự kiện khácnhau ta lại có thể có cái nhìn khác nhau Từ những cái nhìn này, ta có thểđánh giá văn hóa dưới những góc độ khách quan quan khác nhau.

Văn hóa có tính nhân sinh

Tính nhân sinh của văn hóa có nghĩa rằng văn hóa được coi như mộthiện tượng xã hội Hiện tượng xã hội được hiểu là những hiện tượng do conngười sáng tạo ra hay còn gọi là nhân tạo, khác với các giá trị tự nhiên haycòn gọi là thiên tạo Chính vì là một thực thể có tính nhân sinh nên văn hóachịu tác động của cả vật chất lẫn tinh thần của con người

Đồng thời, vì có tính nhân sinh nên văn hóa vô tình trở thành sợi dâyliên kết giữa người với người, vật với vật và cả vật với người Đó chính là ýnghĩa nhân sinh sâu sắc nhất mà văn hóa hàm chứa

Văn hóa có tính lịch sử

Văn hóa phản ánh quá trình sáng tạo của con người trong một khônggian và thời gian nhất định Chính vì thế mà văn hóa cũng gắn liền với chiềudài lịch sử, thậm chí là văn hóa hàm chứa lịch sử Tính lịch sử khiến cho vănhóa mang đặc trưng có bề dày, có chiều sâu, có hệ giá trị Nhờ có tính lịch sử

mà văn hóa cũng cần được duy trì, nói một cách khác đó là biến văn hóa trởthành truyền thống văn hóa

Văn hóa có tính lịch sử cao cần phải được tích lũy, được gìn giữ vàkhông ngừng tái tạo, chắt lọc những tinh hoa, không ngừng sản sinh và pháttriển để hoàn thiện dưới dạng ngôn ngữ, phong tục,…

1.2.2 Chức năng của văn hóa:

Nhìn nhận một cách khái quát văn hóa có những vai trò chủ yếu sau:i) Là cơ sở để xác lập các giá trị cốt lõi của mô hình – con đường – thểchế phát triển của một quốc gia – dân tộc, xác lập các giá trị cốt lõi của thểchế chính trị thực sự “của dân, do dân và vì dân” Xác lập mục tiêu bao trùm

Trang 9

của sự phát triển là vì con người; con người vừa là chủ thể vừa là mục tiêucủa sự phát triển Các giá trị này thường được xác định, chế định trong cươnglĩnh của các Đảng cầm quyền, trong hiến pháp, pháp luật, chiến lược pháttriển của quốc gia…

ii) Là cơ sở để xác lập các giá trị cốt lõi của thể chế kinh tế, triết lý vàđạo đức kinh doanh thúc đẩy phát triển năng động, hiệu quả, hài hòa và bềnvững cả về kinh tế, xã hội và môi trường; phát triển bao trùm, “không để ai tụtlại phía sau” Xác lập hệ giá trị phát triển chung của quốc gia trong địnhhướng phát triển dài hạn và trong những giai đoạn cụ thể Hệ giá trị phát triển

đó được cụ thể hóa thành các giá trị phát triển trong các lĩnh vực con người,chính trị, kinh tế, xã hội, môi trường sinh thái

iii) Là cơ sở để xác lập các giá trị xã hội, lối sống xã hội, nền đạo đứcxã hội thượng tôn pháp luật, nhân văn, nhân ái, tôn trọng quyền con người,quyền công dân Là cơ sở để tạo nên “sức mạnh mềm” trong phát triển

iv) Là cơ sở để xác lập hệ giá trị phát triển cùng với cơ chế hoạt độngtương ứng của từng chủ thể trong xã hội (thể hiện những giá trị mà chủ thể đótuân theo và hướng tới); tạo động lực nội sinh cho sự phát triển bền vững củatừng chủ thể cũng như toàn xã hội với tư cách là một hệ thống mở trong tất cảcác lĩnh vực của đời sống xã hội

v) Là cơ sở để xác lập hệ giá trị hợp tác và hội nhập quốc tế trên cơ sởnguyên tắc đặt lợi ích quốc gia – dân tộc lên trên trên hết, đồng thời tôn trọngcác lợi ích chính đáng của các quốc gia – dân tộc khác, hợp tác bình đẳngcùng phát triển và cùng có lợi, cùng bảo vệ các giá trị chung của nhân loại

vi) Là cơ sở để xây dựng cơ chế liên kết – điều tiết sự phát triển thôngqua liên kết các giá trị giữa các chủ thể và trong toàn xã hội; hạn chế nhữngtác động tiêu cực trong quá trình phát triển

Trang 10

II NỘI DUNG NHẬN THỨC VỀ XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN NỀN VĂN HÓA CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG

THỜI KỲ ĐỔI MỚI 2.1 Nhận thức về xây dựng, phát triển nền văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam từ Đại hội VI-VIII

2.1.1 Nhận thức về xây dựng, phát triển văn hóa từ Đại hội VI

Trong Đề cương về văn hóa Việt Nam năm 1943, Đảng ta đã khẳngđịnh: “Quan hệ giữa vǎn hóa và kinh tế, chính trị vǎn hóa là một trong bamặt trận (kinh tế, chính trị, vǎn hóa) ở đó người cộng sản phải hoạt động”.Trong Thư gửi các họa sĩ nhân dịp triển lãm hội họa năm 1951, Chủ tịch HồChí Minh cũng khẳng định: “Văn hóa, nghệ thuật cũng như mọi hoạt độngkhác, không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị”

Kế thừa những quan điểm đó, từ khi thực hiện sự nghiệp đổi mới toàndiện đất nước, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hộinhập quốc tế, tư duy lý luận của Đảng về xây dựng văn hóa trong chính trị vàkinh tế ngày càng được bổ sung, phát triển và hoàn thiện Đại hội đại biểutoàn quốc lần thứ VI của Đảng (năm 1986) đã đánh dấu sự đổi mới toàn diện

tư duy lý luận của Đảng, trong đó có vấn đề phát triển văn hóa, xây dựng conngười Vấn đề văn hóa biểu hiện cụ thể, gồm: sự nghiệp giáo dục, hoạt độngvăn hóa, văn nghệ Mặc dù chưa thể hiện rõ quan điểm xây dựng văn hóatrong chính trị và kinh tế, nhưng Đại hội đã đặt vấn đề hiệu quả của hoạt độngvăn hóa trong mọi hoạt động xã hội, trong đó có chính trị và kinh tế Báo cáochính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội chỉ rõ: “Mỗi hoạtđộng văn hoá, văn nghệ đều phải tính đến hiệu quả xã hội, tác động tốt đến tưtưởng, tâm lý, tình cảm, nâng cao trình độ giác ngộ xã hội chủ nghĩa và trình

độ thẩm mỹ của nhân dân”

Trang 11

2.1.2 Nhận thức về xây dựng, phát triển văn hóa từ Đại hội VII

Tư tưởng đổi mới tư duy lý luận về phát triển văn hóa của Đảng đề rađúng vào lúc UNESCO phát động Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa (1988 -1997) với định hướng lớn là văn hóa vì sự phát triển, giữ gìn bản sắc văn hóa

và đa dạng văn hóa Sự thay đổi cách nhìn về vai trò của văn hóa là cực kỳquan trọng, thể hiện tầm nhìn, tầm tư duy bắt nhịp với xu thế thời đại Tại HộiTrung ương 4 khóa VII (năm 1993), Đảng đã nhìn nhận vai trò quan trọng củavăn hóa, coi “Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, một động lực thúc đẩy

sự phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời là một mục tiêu của chủ nghĩa xã hội”

2.1.3 Nhận thức về xây dựng, phát triển văn hóa từ Đại hội VIII

Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII ra đời trong bối cảnh Đảng ta chủđộng đổi mới tư duy, lãnh đạo toàn dân thực hiện công cuộc đổi mới toàndiện đất nước, trong đó có văn hóa Nghị quyết này thể hiện bước chuyểnquan trọng về tư duy lý luận, năng lực đúc kết thực tiễn những năm đầu đổimới; chứa đựng nhiều giá trị tư tưởng, nhân văn và khoa học Các quan điểmchỉ đạo nêu trong Nghị quyết thực sự đổi mới, có giá trị về cả lý luận và thựctiễn Trong đó, quan điểm văn hóa là mục tiêu và động lực thúc đẩy sự pháttriển kinh tế - xã hội thể hiện sự đổi mới mạnh mẽ, khẳng định mối quan hệgiữa văn hóa với chính trị và kinh tế Nghị quyết khẳng định: “Xây dựng vàphát triển kinh tế phải nhằm mục tiêu văn hóa, vì xã hội công bằng, văn minh,con người phát triển toàn diện Văn hóa là kết quả của kinh tế đồng thời làđộng lực của phát triển kinh tế Các nhân tố văn hóa phải gắn kết chặt chẽ vớiđời sống và hoạt động xã hội trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, xã hội,luật pháp, kỷ cương…” Có thể khẳng định rằng, Nghị quyết Trung ương 5khóa VIII đã đánh dấu bước tiến quan trọng trong quá trình phát triển, hoànthiện lý luận về văn hóa của Đảng, định hướng phát triển văn hóa trong trongđiều kiện đất nước hội nhập quốc tế, phát triển kinh tế thị trường định hướngxã hội chủ nghĩa

Trang 12

2.1.4 Nhận thức về xây dựng, phát triển văn hóa từ Đại hội IX

Với tinh thần đổi mới tư duy lý luận, Đại hội IX của Đảng tiếp tụckhẳng định: “Tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa và giáo dục,xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, ” và “…văn hóa… vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xãhội” Hội nghị Trung ương 10 khóa IX (năm 2004) đặt lên hàng đầu nhiệm vụxây dựng tư tưởng đạo đức, lối sống lành mạnh, nâng cao chất lượng và hiệuquả nhiệm vụ xây dựng con người Việt Nam Nghị quyết đã chỉ ra điều kiệntiên quyết bảo đảm cho sự phát triển toàn diện và bền vững của đất nước làdựa trên cơ sở phát triển đồng bộ cả ba lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa.Kết luận của Hội nghị chỉ rõ: “Bảo đảm sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triểnkinh tế là trung tâm, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là then chốt với không ngừngnâng cao văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội; tạo nên sự phát triển đồng

bộ của ba lĩnh vực trên chính là điều kiện quyết định bảo đảm cho sự pháttriển toàn diện và bền vững của đất nước”

2.1.5 Nhận thức về xây dựng, phát triển văn hóa từ Đại hội X

Đại hội lần thứ X của Đảng (4-2006) khẳng định: “Tiếp tục phát triểnsâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dântộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế - xã hội, làm chovăn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội” Tinh thần cơ bảncủa Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII tiếp tục được khẳng định trong Vănkiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X và XI của Đảng, đặc biệt, đượcnhấn mạnh trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủnghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011): Xây dựng nền văn hóa ViệtNam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiệntiến bộ và công bằng xã hội Trong định hướng phát triển, Đảng ta khẳngđịnh: Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, pháttriển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân

Trang 13

văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn

bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinhquan trọng của phát triển

2.1.6 Nhận thức về xây dựng, phát triển văn hóa từ Đại hội XI

Đại hội XI khẳng định phương hướng xây dựng nền văn hóa Việt Namtiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đadạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho vănhóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nềntảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển, coi

“con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể pháttriển Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền

và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân” Đại hội đề

ra mục tiêu cho giai đoạn tiếp theo là xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đàbản sắc dân tộc; gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, con người phát triển toàndiện về trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, ý thức công dân, tuân thủpháp luật

2.1.7 Nhận thức về xây dựng, phát triển văn hóa từ Đại hội XII

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng Cộng sảnViệt Nam tiếp tục khẳng định đường lối nhất quán xây dựng nền văn hóa ViệtNam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, con người Việt Nam phát triển toàndiện đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổquốc xã hội chủ nghĩa và mục tiêu “Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinhthần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự pháttriển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc”(3) Việc thực hiện nhiệm vụxây dựng con người có bước chuyển biến quan trọng: Gắn nhiệm vụ xây dựngvăn hóa, con người với nhiệm vụ xây dựng và phát triển đất nước; gắn xâydựng môi trường văn hóa với xây dựng con người; bước đầu hình thànhnhững giá trị mới về con người với các phẩm chất về trách nhiệm xã hội, ý

Trang 14

thức công dân, dân chủ, chủ động, sáng tạo, khát vọng vươn lên Mục tiêuđược đề ra là: Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàndiện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn,dân chủ và khoa học, trong đó, “xây dựng con người Việt Nam phát triển toàndiện”phải trở thành một mục tiêu của chiến lược phát triển.

2.1.8 Nhận thức về xây dựng, phát triển văn hóa từ Đại hội XIII

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII nhấn mạnh đến phươnghướng, nhiệm vụ xây dựng nền văn hóa, xây dựng con người Việt Nam Quanđiểm này tiếp tục được khẳng địnhtrong các giai đoạn tiếp theo và các chươngtrình hành động tương ứng được triển khai nhằm đạt mục tiêu đặt ra Trong

đó, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”được khởixướng và phát động từ năm 2000 với mục đích tạo dựng môi trường văn hóalành mạnh, giúp người dân nâng cao chất lượng cuộc sống Cùng với việcphát động phong trào là việc thành lập ban chỉ đạo xuyên suốt từ Trung ươngđến địa phương để triển khai thực hiện

Mặc dù phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đãgóp phần ổn định an ninh chính trị, xây dựng đời sống văn hóa tinh thần lànhmạnh, tiến bộ và giúp người dân nâng cao chất lượng cuộc sống, tuy nhiên,bên cạnh những kết quả đạt được, phong trào vẫn còn những hạn chế Đại hội

X của Đảng đã đánh giá: “Việc xây dựng nếp sống văn hóa chưa được coitrọng đúng mức Tình trạng suy thoái, xuống cấp về đạo đức, lối sống, sự giatăng tệ nạn xã hội và tội phạm đáng lo ngại, nhất là trong lớp trẻ Quản lý nhànước về văn hóa còn nhiều sơ hở, yếu kém Đấu tranh ngăn ngừa văn hóaphẩm độc hại chưa được chú ý đầy đủ, còn nhiều khuyết điểm, bất cập”;phong trào triển khai chưa đồng đều; hoạt động của ban chỉ đạo ở một số địaphương còn nặng tính hành chính; cách thức triển khai phong trào còn cónhững điểmchưa phù hợp với thực tiễn, chưa đáp ứng được mục tiêu đặt ra

Ngày đăng: 09/01/2023, 18:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, t.7, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2010, tr, tr. 316 Khác
2.Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.7, Nxb Chính trị quốc gia, H, 2011, tr. 246 Khác
3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, H, 1986, tr. 91 Khác
4. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, t.52, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2010, tr. 513 Khác
5. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 1996, tr. 110 - 111 Khác
6. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 1998, tr. 55 Khác
7. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2001, tr. 88 Khác
8. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2001, tr. 144 Khác
9. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VII,IX) Về văn hóa, xã hội, khoa học - kỹ thuật, giáo dục, đào tạo, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2005, tr. 283 Khác
10. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, H, 2006, tr. 106 Khác
11. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2006, tr. 213 Khác
12. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2011, tr. 169, 223 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w