MỤC LỤC PHẦN I LỜI MỞ ĐẦU 1 PHẦN II NỘI DUNG 2 CHƯƠNG I MỘT SỐ KHÁI NIỆM 2 1 1 Khái niệm và phạm vi biểu hiện của Văn hóa Chính trị 2 1 1 1 Khái niệm 2 1 1 2 Ba phạm vi biểu hiện chủ yếu của văn hóa c. MỤC LỤCPHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU1PHẦN II: NỘI DUNG2CHƯƠNG I: MỘT SỐ KHÁI NIỆM21.1. Khái niệm và phạm vi biểu hiện của Văn hóa Chính trị21.1.1. Khái niệm21.1.2. Ba phạm vi biểu hiện chủ yếu của văn hóa chính trị31.1.3. Chức năng của văn hoá chính trị.51.2. Cơ sở hình thành và phát triển của văn hoá chính trị Việt Nam71.2.1. Công cuộc xây dựng đất nước, sự gắn bó giữa con người với thiên nhiên, với quê hương xứ sở và lịch sử đấu tranh chống thiên tai.71.2.2. Lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc.81.2.3. Sự tiến triển của các hình thái kinh tế xã hội trong lịch sử Việt Nam.81.2.4. Sự thống nhất trong tính đa dạng của nền văn hoá dân tộc.91.2.5. Quá trình thống nhất quốc gia và hình thành sớm của dân tộc Việt Nam.10CHƯƠNG II: ĐẶC TRƯNG CỦA VĂN HÓA CHÍNH TRỊ VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN VĂN HÓA CHÍNH TRỊ112.1. Đặc trưng Văn hóa Chính trị Việt Nam hiện nay112.2. Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển Văn hóa Chính trị Việt Nam142.2.1. Đẩy mạnh, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước142.2.2. Đề cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên.152.2.3. Bảo vệ và phát huy và phát triển nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng162.2.4. Phát huy vai trò của loại hình văn hóa, nghệ thuật trong việc tuyên truyền, bồi dưỡng, giáo dục lý tưởng chính trị trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay17KẾT LUẬN19TÀI LIỆU THAM KHẢO20 PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦUVăn hoá chính trị làm cho sự tác động của chính trị đến đời sống xã hội giống như sức mạnh nội sinh của văn hoá. Đó là loại sức mạnh không dựa vào quyền lực hay ép buộc là chủ yếu, mà chủ yếu là được tạo dựng từ sự đồng thuận xã hội thông qua cảm hoá, khơi dậy tinh thần sáng tạo, ý thức tự giác của các tầng lớp nhân dân.Văn hóa chính trị chỉ là một khía cạnh, một lĩnh vực của văn hóa. Hoạt động chính trị được coi là văn hóa thì đều phải có một thể chế và niềm tin chính trị. Do vậy, văn hóa chính trị có thể được hiểu là hệ thống các niềm tin về quyền lực, quyền và thẩm quyền những yếu tố gắn với thiết chế nhà nước. Cũng có thể hiểu rằng, văn hóa chính trị là những định hướng chính trị, thái độ chính trị của chủ thể đối với hệ thống chính trị cũng như đối với vai trò của bản thân chủ thể đó trong hệ thống chính trị. Còn theo Lucian Pye và Sidney Verba các nhà khoa học người Mỹ, thì “Văn hóa chính trị là một hệ thống các niềm tin được hình thành trong thực tiễn chính trị”. Có hai vấn đề lớn liên quan đến văn hóa chính trị, đó là: bộ máy nhà nước nên được tổ chức, điều hành như thế nào; bộ máy nhà nước nên làm những gì. Hai vấn đề này chính là sự đề cập đến vai trò của chính trị đối với phát triển kinh tế, xã hội. Ngoài ra, trong văn hóa chính trị có một số nguyên tắc liên quan đến các giá trị, niềm tin và thái độ, cảm xúc của các thành viên trong cộng đồng. Đó là, những niềm tin được san sẻ; những luật lệ được chấp nhận một cách phổ biến. Các nguyên tắc này chính là sự đề cập đến mối quan hệ gắn bó, mang tính pháp lý giữa chính trị và văn hóa. Do đó, tác giả đã chọn đề tài “ Đặc trưng văn hoá chính trị Việt Nam hiện nay”. PHẦN II: NỘI DUNGCHƯƠNG I: MỘT SỐ KHÁI NIỆM 1.1. Khái niệm và phạm vi biểu hiện của Văn hóa Chính trị1.1.1. Khái niệmVăn hóa chính trị chỉ là một khía cạnh, một lĩnh vực của văn hóa. Hoạt động chính trị được coi là văn hóa thì đều phải có một thể chế và niềm tin chính trị. Do vậy, văn hóa chính trị có thể được hiểu là hệ thống các niềm tin về quyền lực, quyền và thẩm quyền những yếu tố gắn với thiết chế nhà nước. Cũng có thể hiểu rằng, văn hóa chính trị là những định hướng chính trị, thái độ chính trị của chủ thể đối với hệ thống chính trị cũng như đối với vai trò của bản thân chủ thể đó trong hệ thống chính trị. Còn theo Lucian Pye và Sidney Verba các nhà khoa học người Mỹ, thì “Văn hóa chính trị là một hệ thống các niềm tin được hình thành trong thực tiễn chính trị”. Có hai vấn đề lớn liên quan đến văn hóa chính trị, đó là: (1) bộ máy nhà nước nên được tổ chức, điều hành như thế nào; (2) bộ máy nhà nước nên làm những gì. Hai vấn đề này chính là sự đề cập đến vai trò của chính trị đối với phát triển kinh tế, xã hội. Ngoài ra, trong văn hóa chính trị có một số nguyên tắc liên quan đến các giá trị, niềm tin và thái độ, cảm xúc của các thành viên trong cộng đồng. Đó là, (1)những niềm tin được san sẻ; (2) những luật lệ được chấp nhận một cách phổ biến. Các nguyên tắc này chính là sự đề cập đến mối quan hệ gắn bó, mang tính pháp lý giữa chính trị và văn hóa.Từ các phân tích nêu trên cho thấy rằng, trung tâm của văn hóa chính trị là vấn đề định hướng, hay văn hóa chính trị có chức năng chủ yếu là định hướng. Đó là các định hướng về nhận thức, tình cảm và sự đánh giá. Cụ thể như các định hướng về cấu trúc bộ máy nhà nước; định hướng về nhận thức, hiểu biết hệ thống chính trị, những người trong bộ máy cầm quyền, vai trò của truyền thông; định hướng về niềm tin, sự tin tưởng về luật lệ trong hoạt động chính trị; định hướng về hoạt động chính trị của chủ thể như thái độ, ý thức, cách thức hoạt động chính trị... Điều đó cho thấy rằng, mỗi hệ thống chính trị đều gắn liền với một cách thức định hướng đặc thù của văn hóa chính trị.Trong các quốc gia hiện đại, quyền lực chính trị thể hiện chủ yếu ở quyền lực của đảng chính trị; quyền lực nhà nước và quyền lực của nhân dân. Việc thực thi các quyền lực này có văn hóa, tức chúng được định hướng bởi văn hóa là biểu hiện về mặt hình thức của văn hóa chính trị.1.1.2. Ba phạm vi biểu hiện chủ yếu của văn hóa chính trịThứ nhất, đó là văn hóa bầu cử để giành địa vị cầm quyền của các lực lượng chính trị trong xã hội. Hình thức này biểu hiện việc giành, giữ địa vị cầm quyền của các lực lượng chính trị phải mang tính cạnh tranh và tuân theo pháp luật. Bởi chính trị, hiểu một cách cô đọng, chính là việc phân bố và thực thi quyền lực giữa các lực lượng chính trị trong xã hội. Quyền lực này phải do dân ủy nhiệm qua các cuộc bầu cử; quyền lực được ủy nhiệm sẽ trở thành “thẩm quyền” quyền lực chính đáng. Văn hóa chính trị đúng đắn phải tôn trọng sự ủy quyền đó, tức tôn trọng kết quả của các cuộc bầu cử. Do vậy, muốn có văn hóa chính trị trong bầu cử, rất cần bảo đảm tính cạnh tranh, công khai và có luật về bầu cử; hơn nữa, luật đó phải đúng đắn, được thực hiện nghiêm minh, tức hợp với lòng dân.Thứ hai, văn hóa cầm quyền (lãnh đạo, quản lý) của cá nhân các nhà chính trị, đội ngũ công chức, viên chức trong bộ máy nhà nước. Văn hóa lãnh đạo và văn hóa quản lý là hai hoạt động chủ yếu, cần thiết của cá nhân các công chức, viên chức có chức trách trong bộ máy nhà nước.Văn hóa lãnh đạo được hiểu là các hoạt động không sử dụng tới công cụ quyền lực. Đây được hiểu là các hoạt động mang tính định hướng, thuyết phục, tức hoạt động gắn với việc sử dụng quyền lực “mềm” thông qua việc nghe, nhìn, cảm giác để xác định “tầm nhìn” nhằm xây dựng các đường lối, chiến lược, chính sách quốc gia; thông qua việc nói, truyền đạt để thuyết phục thực hiện các đường lối, chiến lược, chính sách đó. Nếu nhìn nhận thể chế (quốc gia) là cơ thể con người, thì văn hóa lãnh đạo phụ thuộc rất lớn vào bộ não (hiến pháp, pháp luật) cùng với các giác quan (thể chế văn hóa) của người đó. Các giác quan đầy đủ, hoàn hảo, bộ não minh mẫn, tức các nhà cầm quyền của quốc gia thực hiện vai trò lãnh đạo có tầm nhìn, sáng suốt, có năng lực xây dựng pháp luật, chính sách là cơ sở quan trọng để hoạt động lãnh đạo có văn hóa.Văn hóa quản lý được hiểu là các hoạt động sử dụng tới công cụ quyền lực. Đây được hiểu là các hoạt động mang tính ép buộc, tức các hoạt động gắn với việc sử dụng quyền lực “cứng” nhằm chỉ đạo, điều hành, hỗ trợ việc thực hiện các đường lối, chiến lược, chính sách. Nếu nhìn nhận thể chế (quốc gia) là cơ thể con người, thì văn hóa quản lý phụ thuộc rất lớn vào đôi tay (thể chế chính trị) và trái tim (lực lượng cầm quyền) của người đó. Đôi tay hoàn hảo, khỏe mạnh, trái tim nhân hậu, tức cá nhân các nhà cầm quyền thực hiện vai trò quản lý có phẩm chất đạo đức, có năng lực thực thi pháp luật, chính sách là cơ sở quan trọng để hoạt động quản lý có văn hóa.Văn hóa lãnh đạo và văn hóa quản lý là các hoạt động gắn kết với nhau của cá nhân các nhà cầm quyền. Chúng được sử dụng tùy theo chức năng và nhiệm vụ cụ thể. Việc kết hợp giữa hai hoạt động này được coi là văn hóa quản trị quốc gia.Thứ ba, văn hóa giám sát, phản biện (văn hóa tham dự) của nhân dân, các tổ chức xã hội đối với tổ chức, hoạt động của nhà nước, các cá nhân có chức trách trong bộ máy nhà nước, đặc biệt trong các cơ quan hành pháp và chính quyền địa phương. Các hoạt động giám sát, phản biện của nhân dân, các tổ chức xã hội là mang tính độc lập. Nếu nhìn nhận thể chế (quốc gia) là cơ thể con người, thì văn hóa giám sát, phản biện phụ thuộc rất lớn vào cấu trúc hoàn hảo của các chi (thể chế kinh tế, chính trị) và các giác quan (thể chế văn hóa). Điều đó có nghĩa là, việc bảo đảm đầy đủ, hoạt động hoàn hảo của các chi, các giác quan, tức kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân, lực lượng đa số và lực lượng thiểu số cầm quyền, tổ chức xã hội thuộc nhà nước và tổ chức xã hội dân sự được hoạt động bình đẳng, tuân theo luật pháp là điều kiện quan trọng để hoạt động giám sát, phản biện của nhân dân, các tổ chức xã hội có văn hóa.Văn hóa chính trị có vai trò to lớn trong quản trị quốc gia. Quốc gia khó có thể phát triển được, tức “đôi chân” (thể chế kinh tế) khó có thể đi được nếu không có sự giúp đỡ, “định hướng” đường đi bởi các “giác quan” (thể chế văn hóa), không có sự giúp sức để loại bỏ các rào cản, hay “mở đường” đi bởi “đôi tay” (thể chế chính trị).1.1.3. Chức năng của văn hoá chính trị. VHCT có những chức năng rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng của chủ thể chính trị. Ý nghĩa động lực của VHCT biểu hiện qua các chức năng của nó, đó là: VHCT góp phần điều chỉnh, định hướng cho hành vi và các quan hệ xã hội, nâng cao nhận thức, giáo dục cho các chủ thể chính trị.VHCT có vai trò to lớn trong việc điều chỉnh các quan hệ con người với con người, con người với xã hội trong đời sống chính trị. Trong quá trình điều chỉnh, một mặt nó dựa vào những chuẩn mực giá trị, mô hình chính trị để điều chỉnh hành vi, hành động của chủ thể phù hợp với “cái tốt, cái đúng”. Mặt khác, nó tăng cường khả năng tự điều chỉnh của các chủ thể phù hợp, hài hoà với lợi ích của các chủ thể khác, với lợi ích xã hội .Với tầm cao của VHCT, giới cầm quyền có thể kịp thời phát hiện ra những điểm nóng chính trị xã hội, nhằm đưa ra những biện pháp hữu hiệu để chủ độngtháo ngòi nổ”,làm dịu đi các xung đột xã hội, giữ vững ổn định chính trị. Trong những tình huống chính trị, VHCT có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thiếu nó người ta có thể làm cho những quan hệ xã hội vốn bình thường hoặc ít gay cấn lại trở nên căng thẳng, gay gắt, nóng bỏng, thậm chí đối đầu. Chức năng tổ chức và quản lý xã hội.VHCT là kết quả của hoạt động sáng tạo của con người trong quá trình hiện thực hóa mục tiêu, lý tưởng chính trị trong những điều kiện kinh tế chính trị xã hội. Nhưng đến lượt nó, VHCT lại đóng vai trò quan trọng trong tổ chức và quản lý xã hội.+ VHCT đối với việc xây dựng và phát triển kinh tế.
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU 1
PHẦN II: NỘI DUNG 2
CHƯƠNG I: MỘT SỐ KHÁI NIỆM 2
1.1 Khái niệm và phạm vi biểu hiện của Văn hóa Chính trị 2
1.1.1 Khái niệm 2
1.1.2 Ba phạm vi biểu hiện chủ yếu của văn hóa chính trị 3
1.1.3 Chức năng của văn hoá chính trị 5
1.2 Cơ sở hình thành và phát triển của văn hoá chính trị Việt Nam.7 1.2.1 Công cuộc xây dựng đất nước, sự gắn bó giữa con người với thiên nhiên, với quê hương xứ sở và lịch sử đấu tranh chống thiên tai.7 1.2.2 Lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc 8
1.2.3 Sự tiến triển của các hình thái kinh tế - xã hội trong lịch sử Việt Nam 8
1.2.4 Sự thống nhất trong tính đa dạng của nền văn hoá dân tộc 9
1.2.5 Quá trình thống nhất quốc gia và hình thành sớm của dân tộc Việt Nam 10
CHƯƠNG II: ĐẶC TRƯNG CỦA VĂN HÓA CHÍNH TRỊ VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN VĂN HÓA CHÍNH TRỊ 11
2.1 Đặc trưng Văn hóa Chính trị Việt Nam hiện nay 11
2.2 Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển Văn hóa Chính trị Việt Nam 14
2.2.1 Đẩy mạnh, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước 14
Trang 22.2.2 Đề cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên 152.2.3 Bảo vệ và phát huy và phát triển nền tảng tư tưởng, lý luận củaĐảng 162.2.4 Phát huy vai trò của loại hình văn hóa, nghệ thuật trong việctuyên truyền, bồi dưỡng, giáo dục lý tưởng chính trị trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay 17
KẾT LUẬN 19 TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
Trang 3PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU
Văn hoá chính trị làm cho sự tác động của chính trị đến đời sống xã hộigiống như sức mạnh nội sinh của văn hoá Đó là loại sức mạnh không dựa vàoquyền lực hay ép buộc là chủ yếu, mà chủ yếu là được tạo dựng từ sự đồngthuận xã hội thông qua cảm hoá, khơi dậy tinh thần sáng tạo, ý thức tự giáccủa các tầng lớp nhân dân
Văn hóa chính trị chỉ là một khía cạnh, một lĩnh vực của văn hóa Hoạtđộng chính trị được coi là văn hóa thì đều phải có một thể chế và niềm tinchính trị Do vậy, văn hóa chính trị có thể được hiểu là hệ thống các niềm tin
về quyền lực, quyền và thẩm quyền - những yếu tố gắn với thiết chế nhànước Cũng có thể hiểu rằng, văn hóa chính trị là những định hướng chính trị,thái độ chính trị của chủ thể đối với hệ thống chính trị cũng như đối với vaitrò của bản thân chủ thể đó trong hệ thống chính trị Còn theo Lucian Pye vàSidney Verba - các nhà khoa học người Mỹ, thì “Văn hóa chính trị là một hệthống các niềm tin được hình thành trong thực tiễn chính trị”
Có hai vấn đề lớn liên quan đến văn hóa chính trị, đó là: bộ máy nhànước nên được tổ chức, điều hành như thế nào; bộ máy nhà nước nên làmnhững gì Hai vấn đề này chính là sự đề cập đến vai trò của chính trị đối vớiphát triển kinh tế, xã hội Ngoài ra, trong văn hóa chính trị có một số nguyêntắc liên quan đến các giá trị, niềm tin và thái độ, cảm xúc của các thành viêntrong cộng đồng Đó là, những niềm tin được san sẻ; những luật lệ được chấpnhận một cách phổ biến Các nguyên tắc này chính là sự đề cập đến mối quan
hệ gắn bó, mang tính pháp lý giữa chính trị và văn hóa Do đó, tác giả đã chọn
đề tài “ Đặc trưng văn hoá chính trị Việt Nam hiện nay”.
Trang 4PHẦN II: NỘI DUNG CHƯƠNG I: MỘT SỐ KHÁI NIỆM 1.1 Khái niệm và phạm vi biểu hiện của Văn hóa Chính trị
1.1.1 Khái niệm
Văn hóa chính trị chỉ là một khía cạnh, một lĩnh vực của văn hóa Hoạtđộng chính trị được coi là văn hóa thì đều phải có một thể chế và niềm tinchính trị Do vậy, văn hóa chính trị có thể được hiểu là hệ thống các niềm tin
về quyền lực, quyền và thẩm quyền - những yếu tố gắn với thiết chế nhànước Cũng có thể hiểu rằng, văn hóa chính trị là những định hướng chính trị,thái độ chính trị của chủ thể đối với hệ thống chính trị cũng như đối với vaitrò của bản thân chủ thể đó trong hệ thống chính trị Còn theo Lucian Pye vàSidney Verba - các nhà khoa học người Mỹ, thì “Văn hóa chính trị là một hệthống các niềm tin được hình thành trong thực tiễn chính trị”
Có hai vấn đề lớn liên quan đến văn hóa chính trị, đó là: (1) bộ máy nhànước nên được tổ chức, điều hành như thế nào; (2) bộ máy nhà nước nên làmnhững gì Hai vấn đề này chính là sự đề cập đến vai trò của chính trị đối vớiphát triển kinh tế, xã hội Ngoài ra, trong văn hóa chính trị có một số nguyêntắc liên quan đến các giá trị, niềm tin và thái độ, cảm xúc của các thành viêntrong cộng đồng Đó là, (1)những niềm tin được san sẻ; (2) những luật lệđược chấp nhận một cách phổ biến Các nguyên tắc này chính là sự đề cậpđến mối quan hệ gắn bó, mang tính pháp lý giữa chính trị và văn hóa
Từ các phân tích nêu trên cho thấy rằng, trung tâm của văn hóa chínhtrị là vấn đề định hướng, hay văn hóa chính trị có chức năng chủ yếu là địnhhướng Đó là các định hướng về nhận thức, tình cảm và sự đánh giá Cụ thểnhư các định hướng về cấu trúc bộ máy nhà nước; định hướng về nhận thức,hiểu biết hệ thống chính trị, những người trong bộ máy cầm quyền, vai trò củatruyền thông; định hướng về niềm tin, sự tin tưởng về luật lệ trong hoạt động
Trang 5chính trị; định hướng về hoạt động chính trị của chủ thể như thái độ, ý thức,cách thức hoạt động chính trị Điều đó cho thấy rằng, mỗi hệ thống chính trịđều gắn liền với một cách thức định hướng đặc thù của văn hóa chính trị.
Trong các quốc gia hiện đại, quyền lực chính trị thể hiện chủ yếu ởquyền lực của đảng chính trị; quyền lực nhà nước và quyền lực của nhân dân.Việc thực thi các quyền lực này có văn hóa, tức chúng được định hướng bởivăn hóa là biểu hiện về mặt hình thức của văn hóa chính trị
1.1.2 Ba phạm vi biểu hiện chủ yếu của văn hóa chính trị
Thứ nhất, đó là văn hóa bầu cử để giành địa vị cầm quyền của các lựclượng chính trị trong xã hội Hình thức này biểu hiện việc giành, giữ địa vịcầm quyền của các lực lượng chính trị phải mang tính cạnh tranh và tuân theopháp luật Bởi chính trị, hiểu một cách cô đọng, chính là việc phân bố và thựcthi quyền lực giữa các lực lượng chính trị trong xã hội Quyền lực này phải dodân ủy nhiệm qua các cuộc bầu cử; quyền lực được ủy nhiệm sẽ trở thành
“thẩm quyền” - quyền lực chính đáng Văn hóa chính trị đúng đắn phải tôntrọng sự ủy quyền đó, tức tôn trọng kết quả của các cuộc bầu cử Do vậy,muốn có văn hóa chính trị trong bầu cử, rất cần bảo đảm tính cạnh tranh, côngkhai và có luật về bầu cử; hơn nữa, luật đó phải đúng đắn, được thực hiệnnghiêm minh, tức hợp với lòng dân
Thứ hai, văn hóa cầm quyền (lãnh đạo, quản lý) của cá nhân các nhàchính trị, đội ngũ công chức, viên chức trong bộ máy nhà nước Văn hóa lãnhđạo và văn hóa quản lý là hai hoạt động chủ yếu, cần thiết của cá nhân cáccông chức, viên chức có chức trách trong bộ máy nhà nước
Văn hóa lãnh đạo được hiểu là các hoạt động không sử dụng tới côngcụ quyền lực Đây được hiểu là các hoạt động mang tính định hướng, thuyếtphục, tức hoạt động gắn với việc sử dụng quyền lực “mềm” thông qua việcnghe, nhìn, cảm giác để xác định “tầm nhìn” nhằm xây dựng các đường lối,
Trang 6chiến lược, chính sách quốc gia; thông qua việc nói, truyền đạt để thuyết phụcthực hiện các đường lối, chiến lược, chính sách đó Nếu nhìn nhận thể chế(quốc gia) là cơ thể con người, thì văn hóa lãnh đạo phụ thuộc rất lớn vào bộnão (hiến pháp, pháp luật) cùng với các giác quan (thể chế văn hóa) của người
đó Các giác quan đầy đủ, hoàn hảo, bộ não minh mẫn, tức các nhà cầm quyềncủa quốc gia thực hiện vai trò lãnh đạo có tầm nhìn, sáng suốt, có năng lựcxây dựng pháp luật, chính sách là cơ sở quan trọng để hoạt động lãnh đạo cóvăn hóa
Văn hóa quản lý được hiểu là các hoạt động sử dụng tới công cụ quyềnlực Đây được hiểu là các hoạt động mang tính ép buộc, tức các hoạt động gắnvới việc sử dụng quyền lực “cứng” nhằm chỉ đạo, điều hành, hỗ trợ việc thựchiện các đường lối, chiến lược, chính sách Nếu nhìn nhận thể chế (quốc gia)
là cơ thể con người, thì văn hóa quản lý phụ thuộc rất lớn vào đôi tay (thể chếchính trị) và trái tim (lực lượng cầm quyền) của người đó Đôi tay hoàn hảo,khỏe mạnh, trái tim nhân hậu, tức cá nhân các nhà cầm quyền thực hiện vaitrò quản lý có phẩm chất đạo đức, có năng lực thực thi pháp luật, chính sách
là cơ sở quan trọng để hoạt động quản lý có văn hóa
Văn hóa lãnh đạo và văn hóa quản lý là các hoạt động gắn kết với nhaucủa cá nhân các nhà cầm quyền Chúng được sử dụng tùy theo chức năng vànhiệm vụ cụ thể Việc kết hợp giữa hai hoạt động này được coi là văn hóaquản trị quốc gia
Thứ ba, văn hóa giám sát, phản biện (văn hóa tham dự) của nhân dân,các tổ chức xã hội đối với tổ chức, hoạt động của nhà nước, các cá nhân cóchức trách trong bộ máy nhà nước, đặc biệt trong các cơ quan hành pháp vàchính quyền địa phương Các hoạt động giám sát, phản biện của nhân dân, các
tổ chức xã hội là mang tính độc lập Nếu nhìn nhận thể chế (quốc gia) là cơthể con người, thì văn hóa giám sát, phản biện phụ thuộc rất lớn vào cấu trúchoàn hảo của các chi (thể chế kinh tế, chính trị) và các giác quan (thể chế văn
Trang 7hóa) Điều đó có nghĩa là, việc bảo đảm đầy đủ, hoạt động hoàn hảo của cácchi, các giác quan, tức kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân, lực lượng đa số vàlực lượng thiểu số cầm quyền, tổ chức xã hội thuộc nhà nước và tổ chức xãhội dân sự được hoạt động bình đẳng, tuân theo luật pháp là điều kiện quantrọng để hoạt động giám sát, phản biện của nhân dân, các tổ chức xã hội cóvăn hóa.
Văn hóa chính trị có vai trò to lớn trong quản trị quốc gia Quốc giakhó có thể phát triển được, tức “đôi chân” (thể chế kinh tế) khó có thể đi đượcnếu không có sự giúp đỡ, “định hướng” đường đi bởi các “giác quan” (thể chếvăn hóa), không có sự giúp sức để loại bỏ các rào cản, hay “mở đường” đi bởi
“đôi tay” (thể chế chính trị)
1.1.3 Chức năng của văn hoá chính trị
VHCT có những chức năng rất quan trọng trong việc nâng cao chấtlượng của chủ thể chính trị Ý nghĩa động lực của VHCT biểu hiện qua cácchức năng của nó, đó là:
* VHCT góp phần điều chỉnh, định hướng cho hành vi và các quan hệ
xã hội, nâng cao nhận thức, giáo dục cho các chủ thể chính trị.
VHCT có vai trò to lớn trong việc điều chỉnh các quan hệ con ngườivới con người, con người với xã hội trong đời sống chính trị Trong quá trìnhđiều chỉnh, một mặt nó dựa vào những chuẩn mực giá trị, mô hình chính trị đểđiều chỉnh hành vi, hành động của chủ thể phù hợp với “cái tốt, cái đúng”.Mặt khác, nó tăng cường khả năng tự điều chỉnh của các chủ thể phù hợp, hàihoà với lợi ích của các chủ thể khác, với lợi ích xã hội
Với tầm cao của VHCT, giới cầm quyền có thể kịp thời phát hiện ranhững điểm nóng chính trị - xã hội, nhằm đưa ra những biện pháp hữu hiệu đểchủ động"tháo ngòi nổ”,làm dịu đi các xung đột xã hội, giữ vững ổn địnhchính trị Trong những tình huống chính trị, VHCT có ý nghĩa đặc biệt quan
Trang 8trọng, thiếu nó người ta có thể làm cho những quan hệ xã hội vốn bình thườnghoặc ít gay cấn lại trở nên căng thẳng, gay gắt, nóng bỏng, thậm chí đối đầu.
* Chức năng tổ chức và quản lý xã hội.
VHCT là kết quả của hoạt động sáng tạo của con người trong quá trìnhhiện thực hóa mục tiêu, lý tưởng chính trị trong những điều kiện kinh tế chínhtrị xã hội Nhưng đến lượt nó, VHCT lại đóng vai trò quan trọng trong tổ chức
và quản lý xã hội
+ VHCT đối với việc xây dựng và phát triển kinh tế
Ngày nay, sự phát triển kinh tế - xã hội không chỉ bắt nguồn từ sứcmạnh kinh tế mà còn phụ thuộc vào sức mạnh của văn hóa nói chung,VHCTnói riêng Hiệu quả của nền kinh tế phụ thuộc ngày càng nhiều vào trình độphát triển của khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo; vào các giá trị tinhthần của xã hội, các thể chế chính trị; vào trình độ, năng lực, phẩm chất củanhững con người chính trị Văn hóa là nhân tố quan trọng của kinh tế, mộtnhân tố qui định bên trong của hoạt động sản xuất Kinh tế không tự mìnhphát triển nếu thiếu nền tảng văn hóa, VHCT trong nó và tác động vào nó
+ VHCT đối với việc giải quyết các vấn đề chính trị
Ý thức chính trị, các thiết chế QLCT, hoạt động chính trị thực tiễn, đềuliên quan đến VHCT, đều thể hiện trình độ VHCT của một lực lượng xã hội,một giai cấp, một tổ chức hay một cá nhân nào đó Bản thân đời sống chính trị
là một hệ thống các giá trị VHCT Vì vậy, vấn đề chỉ ở chỗ, các chủ thể chínhtrị sử dụng các giá trị VHCT đó như thế nào, có phát huy được vai trò của cácgiá trị VHCT trong việc giữ vững nền chính trị và sự ổn định chính trị củamình hay không
Sức mạnh kinh tế, sức mạnh quân sự là những yếu tố cơ bản quan trọng
để giữ vững nền chính trị, bởi kinh tế quyết định chính trị, “chính trị là sựbiểu hiện tập trung của kinh tế” Điều khẳng định đó đúng nhưng chưa đủ,
Trang 9đời sống xã hội không chỉ có kinh tế với chính trị mà còn có văn hóa Kinh tế
và văn hoá là hai nền tảng vật chất và tinh thần của xã hội Nhiều quốc giasiêu cường về kinh tế, quân sự nhưng không có sự ổn định chính trị, xã hội rốiloạn, một trong những nguyên nhân là do VHCT không được phát huy tácdụng Vậy VHCT tác động như thế nào?
* Chức năng đánh giá và dự báo chính trị:
Chức năng đánh giá của VHCT thể hiện qua thái độ của các chủ thểVHCT đối với một hiện tượng, một sự kiện, một quá trình chính trị nào đó.Trên cơ sở nhận thức, chủ thể đánh giá các hiện tượng trong đời sống chínhtrị và lựa chọn cho mình những hành vi theo đánh giá ấy Như vậy, VHCT kếthợp với khả năng chủ quan của mỗi chủ thể là cơ sở cho các đánh giá chínhtrị
1.2 Cơ sở hình thành và phát triển của văn hoá chính trị Việt Nam
1.2.1 Công cuộc xây dựng đất nước, sự gắn bó giữa con người với thiên nhiên, với quê hương xứ sở và lịch sử đấu tranh chống thiên tai.
Đây là cơ sở chung của tình yêu đất nước đối với nhân dân của mọiquốc gia - dân tộc; đồng thời cũng là cơ sở chung của văn hóa chính trị ViệtNam truyền thống và hiện đại
Việt Nam với vị trí địa lý và đặc điểm về địa hình, khí hậu, tài nguyên,sinh thái, là một thiên nhiên nhiệt đới gió mùa phong phú, đa dạng, chứa đựngnhiều tiềm năng to lớn nhưng cũng đặt ra không ít thách thức đối với conngười Trong quá trình dựng nước và giữ nước, con người vừa thích nghi, vừakhai phá tài nguyên và mặt thuận lợi của thiên nhiên để mở mang đồng ruộng,xóm làng, phát triển kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước kết hợp với các nghềthủ công, chăn nuôi, đánh bắt, buôn bán Mặt khác, con người cũng phải liênkết lại trong cuộc đấu tranh khắc phục những trở ngại của thiên nhiên, chống
Trang 10thiên tai Từ rất sớm, nhân dân ta đã biết đắp đê sông, đê biển để chống lũlụt, bão tố; đào kênh, khơi mương, làm thủy lợi để chống hạn hán, tưới tiêucho đồng ruộng Công cuộc xây dựng đất nước, phát triển kinh tế, xã hộitrong những đặc điểm của thiên nhiên Việt Nam đã sớm tạo nên sự gắn bócộng đồng, sự gắn bó với quê hương, xứ sở Đó chính là cơ sở của tình yêuđất nước, của tình cảm và là cơ sở hình thành, phát triển của văn hóa chính trịViệt Nam.
1.2.2 Lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc.
Tính đặc thù và đặc biệt của chống ngoại xâm trong lịch sử Việt Nambiểu thị tập trung ở chỗ: Hiếm có dân tộc nào trên thế giới phải chống ngoạixâm nhiều lần như Việt Nam Kể từ kháng chiến chống Tần thế kỷ III TCNđến kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ và các thế lựcngoại xâm khác… trong hơn 23 thế kỷ, tính ra thời gian kháng chiến giữ nước
và đấu tranh chống đô hộ ngoại bang với những cuộc khởi nghĩa và nhữngcuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, đã lên đến trên 12 thế kỷ Điều đáng lưuý ở đây là độ dài thời gian, tần số xuất hiện, độ chênh lệch, cường độ, sốlượng các cuộc kháng chiến và khởi nghĩa, chiến tranh giải phóng quá lớn sovới các nước khác trên thế giới
Do đó, con đường sống còn và chiến thắng của dân tộc Việt Nam làphải biết huy động sức mạnh của toàn dân, của cả đất nước, sức mạnh vật chất
và tinh thần của toàn thể dân tộc Lịch sử chống ngoại xâm với những đặcđiểm trên đã tác động sâu sắc đến toàn bộ tiến trình lịch sử và sự phát triểncủa tinh thần yêu nước, truyền thống đoàn kết dân tộc, ý chí quật cường bấtkhuất, niềm tự tôn dân tộc, văn hóa chính trị của dân tộc Việt Nam
1.2.3 Sự tiến triển của các hình thái kinh tế - xã hội trong lịch sử Việt Nam.
Sự phát triển xã hội luôn luôn diễn ra trong sự tiến triển của các hìnhthái kinh tế - xã hội Trong quy luật vận động chung của xã hội loài người, sựtiến triển của các hình thái kinh tế - xã hội của mỗi nước mang những nét đặc
Trang 11thù có ảnh hưởng đến sự phát triển văn hoá, ý thức, trong đó có văn hóa chínhtrị.
Trong thời cổ đại, Việt Nam không trải qua thời kỳ phát triển của chế
độ chiếm hữu nô lệ Quan hệ nô tỳ, tức chế độ nô lệ gia trưởng có phát triểntrong mức độ nào đó, nhưng không bao giờ trở thành quan hệ chi phối, thốngtrị của xã hội và nô tỳ chưa bao giờ giữ vai trò lực lượng sản xuất chủ yếu của
xã hội
Chế độ phong kiến Việt Nam cũng mang đặc điểm của chế độ phongkiến phương Đông và khác với chế độ phong kiến phương Tây Trong thời kỳphong kiến, ở Việt Nam không có thời kỳ tồn tại của chế độ lãnh địa với quan
hệ lãnh chúa - nông nô, không trải qua thời kỳ phân quyền cát cứ lâu dài Đặcđiểm này cũng ảnh hưởng đến sự cố kết cộng đồng và sự phát triển của tinhthần, ý thức dân tộc và văn hóa chính trị Việt Nam
1.2.4 Sự thống nhất trong tính đa dạng của nền văn hoá dân tộc.
Những kết quả nghiên cứu khảo cổ học gần đây cho phép xác nhậntrong thời cổ đại, trên lãnh thổ Việt Nam hiện nay hình thành ba trung tâmvăn hoá - văn minh dẫn đến sự ra đời của ba nhà nước sơ khai: văn hoá ĐôngSơn với nước Văn Lang - Âu Lạc ở miền Bắc, văn hoá Sa Huỳnh với vươngquốc Champa cổ, văn hoá óc Eo với vương quốc Phù Nam Trải qua nhiềubiến thiên lịch sử, ba dòng văn hoá và lịch sử đó hòa nhập vào dòng chảychung của Việt Nam, lấy dòng văn hoá Đông Sơn với nước Văn Lang - ÂuLạc làm dòng chủ lưu
Việt Nam là một nước gồm nhiều thành phần tộc người mà ta quen gọichung là nhiều dân tộc, là một quốc gia đa tộc người với 54 dân tộc anh emcùng chung sống, trong đó dân tộc Kinh (Việt) chiếm 87% dân số Các dântộc thiểu số phần lớn sống ở vùng trung du và miền núi, cũng sống xen kẽvới nhau Mỗi dân tộc có vốn văn hoá riêng, tạo nên những vùng địa - tộc