MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 2 CHƯƠNG I SỰ PHÁT TRIỂN ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM 2 1 1 Giới thiệu chung 2 1 2 Bản chất, mục đích và nền tảng tư tưởng của Đảng 4 1 2 1 Bản chất, mục đích và nền tảng tư tưởng. MỤC LỤCMỞ ĐẦU1NỘI DUNG2CHƯƠNG I: SỰ PHÁT TRIỂN ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM21.1. Giới thiệu chung21.2. Bản chất, mục đích và nền tảng tư tưởng của Đảng41.2.1. Bản chất, mục đích và nền tảng tư tưởng của Đảng41.2.2. Nguyên tắc tổ chức và phương thức hoạt động của Đảng41.3. Một số thành tựu và hạn chế của Đảng Cộng sản Việt Nam51.3.1. Thành tựu51.3.2. Hạn chế7CHƯƠNG II: VAI TRÒ CỦA ĐẢNG CHÍNH TRỊ VIỆT NAM TRONG QUY TRÌNH CHÍNH SÁCH GIA ĐÌNH MỚI HIỆN NAY92.1. Nội dung và mục đích của các chính sách gia đình mới92.1.1. Chính sách gia đình ít con92.1.2. Chính sách gia đình no ấm102.1.3. Chính sách tiến bộ112.1.4. Tiêu chí hạnh phúc122.1.5. Tiêu chí văn minh122.1. Thực trạng quá trình vận dụng và hoàn thiện chính sách gia đình mới của Đảng chính trị Việt Nam142.1.1. Quá trình tác động đến chính sách gia đình của Đảng142.1.2. Một số thành tựu đạt được trong chính sách gia đình của Đảng162.1.2. Một số hạn chế tồn tại trong chính sách gia đình của Đảng172.3. Một số giải pháp nhằm xây dựng chính sách gia đình mới18KẾT LUẬN22TÀI LIỆU THAM KHẢO23 MỞ ĐẦUGia đình không chỉ là “tế bào” tự nhiên mà còn là một đơn vị kinh tế của xã hội. Gia đình có vai trò đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ đất nước. Gia đình có vai trò quyết định đối với sự hình thành và phát triển của xã hội. Những chuẩn mực giá trị tốt đẹp của gia đình được tiếp nhận, phát triển góp phần xây dựng, tô thắm, làm rạng rỡ thêm bản sắc văn hóa dân tộc. Đại hội XI, Đảng ta khẳng định: “Gia đình là môi trường quan trọng, trực tiếp giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách, góp phần chăm lo xây dựng con người Việt Nam giàu lòng yêu nước, có ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân, có tri thức, sức khỏe, lao động giỏi, sống có văn hóa, nghĩa tình, có tinh thần quốc tế chân chính”.Con người Việt Nam chỉ có thể được trang bị những phẩm chất tốt đẹp nếu có một môi trường xã hội tốt. Môi trường đó trước hết là từ mỗi gia đình, mỗi tế bào của xã hội. Gia đình chịu trách nhiệm trước xã hội về sản phẩm của gia đình mình, có trách nhiệm nuôi dưỡng và giáo dục con cái, cung cấp cho xã hội những công dân hữu ích. Cùng với nhà trường, gia đình tham gia tích cực nhiệm vụ “dạy người, dạy chữ”, tạo ra lực lượng lao động tương lai chất lượng cao. Gia đình chính là “đơn vị xã hội” đầu tiên cung cấp lực lượng lao động cho xã hội. Từ những người lao động chân tay giản đơn đến lao động trí óc... đều được sinh ra, nuôi dưỡng và chịu sự giáo dục của gia đình. Do đó, sau một thời gian tìm hiểu tác giả đã chọn đề tài “ Vai trò của Đảng chính trị Việt Nam trong quy trình chính sách gia đình mới tại Việt Nam” để hiểu rõ hơn về mặt lý luận cũng như thực tiễn gia đình Việt Nam.NỘI DUNGCHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN QUY TRÌNH CHÍNH SÁCH VÀ SỰ PHÁT TRIỂN ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM1.1. Lý luận chung về quy trình hoạch định chính sách và phân tích chính sách1.1.1. Định nghĩaTrên thế giới có rất nhiều định nghĩa khác nhau về chính sách và chính sách công. Chính sách liên quan đến những tuyên bố, hành động mang tính quyền lực nhà nước, dựa trên giả thuyết về nguyên nhân và kết quả, nhằm mục tiêu giải quyết các vấn đề công, hay thúc đẩy các giá trị ưu tiên.Quy trình hoạch định chính sách (Policy making process), hay còn được gọi là quy trình chính sách, hoặc chu trình chính sách (policy cycle), diễn tả logic quá trình hình thành, phát triển của chính sách công, cùng với vai trò và mối quan hệ của các chủ thể tham gia quá trình này.Phân tích chính sách (Policy analysis) có thể được hiểu là một quá trình xử lý thông tin bằng các công cụ phân tích, nhằm đề ra các phương án lựa chọn giải quyết một vấn đề công.1.1.2. Quy trình hoạch định chính sáchKhoa học chính sách hiện tại cũng chưa có được một quy trình hoạch định chính sách thống nhất, chuẩn mực. Điều này có thể lý giải bởi sự khác biệt thể chế chính trị và cách thức tổ chức quyền lực nhà nước giữa các quốc gia, dẫn tới sự khác nhau trong quy trình chính sách. Bên cạnh đó, vẫn còn những hoài nghi trong nghiên cứu lý luận về quy trình chính sách, ví dụ như quy trình chính sách là một lý thuyết khoa học được kiểm định, hay chỉ mang tính kinh nghiệm, mô tả quá trình. Mặc dù vậy, việc nhận thức khái quát về một quy trình logic với các giai đoạn của nó vẫn đóng vai trò quan trọng, làm cơ sở cho việc tiếp cận nghiên cứu và thực hành chính sách.Quá trình chính sách thường bao gồm các giai đoạn chính, theo trình tự thời gian là: Lập chương trình nghị sự; Hình thành chính sách; Thông qua chính sách; Thực thi chính sách; Đánh giá chính sách. Ngoài ra, có thể phân chia thành các giai đoạn nhỏ hơn, đưa vào một số bước phân tích, hoặc thêm một số giai đoạn, như: Xác định vấn đề công, điều chỉnh chính sách (thay đổi chính sách), sự thành công của chính sách, và kết thúc chính sách. Dưới đây khái quát một số giai đoạn chính trong một quá trình hoạch định chính sách truyền thống:– Lập chương trình (Agenda setting): Các cá nhân và tổ chức, cơ quan chức năng tham gia làm chính sách trình vấn đề công ra thảo luận, và xem xét đưa vào chương trình chính thức. Trên thực tế, có những vấn đề chính sách dễ dàng mở “cánh cửa cơ hội” xuất hiện trong chương trình nghị sự; trong khi nhiều vấn đề khác lại bị trì hoãn lâu dài.– Hình thành chính sách (Policy formulation, bao gồm việc thiết kế chính sách – policy design): Chính thức đề xuất các phương án (biện pháp thay thế) nhằm mục tiêu giải quyết vấn đề chính sách. Giải pháp thay thế trong các đề xuất chính sách có thể thể hiện dưới dạng dự thảo các quy định pháp lý của chính phủ, tòa án hoặc dự luật của Quốc hội.– Thông qua chính sách (Policy adoption): Chính sách được chính thức thông qua bởi đa số, hay được hợp pháp hoá (legitimation). Nói chung, chính sách có thể được thông qua bởi Quốc hội, Chính phủ và Tòa án trong phạm vi luật định.– Thực thi chính sách (Policy implementation): Một chính sách được thông qua sẽ được chuyển đến cơ quan hành pháp để huy động các nguồn lực tài chính, nhân lực triển khai thực hiện. Đây là giai đoạn quan trọng mà chính sách công thực sự tác động đến xã hội nhằm đạt được các mục tiêu nhà nước đã đề ra; và cũng có thể dẫn tới những tác động không mong muốn, thậm chí ngoài dự đoán phân tích ban đầu.– Đánh giá chính sách (Policy evaluation): Trong giai đoạn này, các đơn vị chức năng như thanh tra, kiểm toán xác định xem các cơ quan thực thi chính sách có đáp ứng yêu cầu, tuân thủ quy định pháp lý, và đạt được các mục tiêu của chính sách không. Theo nghĩa này thì đánh giá chính sách là một giai đoạn trong quy trình chính sách. Bên cạnh đó, đánh giá chính sách trong nghiên cứu chính sách còn được hiểu là một phương pháp phân tích chương trình, chính sách, thông qua việc sử dụng các công cụ phân tích.Có nhiều yếu tố dùng để đánh giá các kết quả chính sách (policy outcomes), và chất lượng của quy trình hoạch định chính sách. Trong đó, ngoài các tiêu chí phổ biến như hiệu suất và hiệu quả, còn có các tiêu chí khác, như tính hợp pháp, dân chủ, công bằng xã hội, minh bạch, trách nhiệm giải trình, cùng các giá trị khác mà chính sách mang lại, và chúng có thể mâu thuẫn với nhau.Một điểm lưu ý, là quy trình hoạch định chính sách được xem là một quá trình liên tục, mà đằng sau nó là hoạt động phân tích chính sách. Việc “kết thúc” một chính sách thường là khởi đầu cho một giai đoạn mới, với các vấn đề công cộng mới nảy sinh, cần tiếp tục được phát hiện, phân tích, giải quyết và đánh giá. Vì thế, các giai đoạn của quy trình chính sách thường được biểu diễn trong một vòng tròn, mang ý nghĩa một chu trình tiếp nối liên tục – chu trình chính sách. Trong đó, việc phân tích chính sách nói chung diễn ra ở hầu hết, nếu không nói là tất cả, các giai đoạn của quá trình chính sách. Do vậy, nghiên cứu về chu trình chính sách cần hiểu được vai trò của phân tích chính sách và vận dụng phân tích chính sách phù hợp trong từng giai đoạn.1.2. Quá trình hình thành và phát triển của Đảng cộng sản Việt Nam1.2.1. Giới thiệu chungQua 80 năm lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã được nhân dân và cả dân tộc Việt Nam thừa nhận là người tổ chức, lãnh đạo và quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đảng được nhân dân tin yêu, che chở, bảo vệ và coi Đảng là Đảng của mình. Đảng Cộng sản Việt Nam ngày càng mở rộng quan hệ với các Đảng Cộng sản và Công nhân quốc tế; ngoài ra, Đảng còn có quan hệ với nhiều đảng cầm quyền khác trên thế giới; có sự đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ to lớn của bạn bè và nhân dân yêu chuộng hoà bình, tiến bộ trên thế giới. Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng duy nhất cầm quyền, không có các đảng chính trị đối lập nên không có sự cạnh tranh về vai trò lãnh đạo của Đảng; Đảng hoạt động một cách công khai, hợp pháp, hợp hiến; vai trò lãnh đạo của Đảng đối với đất nước đã được nhân dân thừa nhận trong thực tế và được quy định tại Điều 4 của Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam; Đảng có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, một công cụ đắc lực, mạnh mẽ và sắc bén để Đảng thực hiện sự lãnh đạo của mình đối với toàn xã hội và có Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị xã hội hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng. Để bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, các tổ chức đảng được thành lập ở mọi nơi, ở tất cả các cấp, các ngành, các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội từ trung ương đến địa phương và cơ sở. Hệ thống tổ chức cơ bản của Đảng được thành lập tương ứng với hệ thống tổ chức hành chính của Nhà nước gồm 4 cấp: cấp trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp cơ sở. Ngoài ra, tổ chức đảng còn được lập ra ở những nơi có đặc điểm riêng theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương. Hiện nay, toàn Đảng có 67 đảng bộ trực thuộc Trung ương, gồm 58 đảng bộ tỉnh, 05 đảng bộ thành phố, 04 đảng bộ trực thuộc Trung ương. Có gần 1.300 đảng bộ cấp huyện và tương đương (gần 700 đảng bộ huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và gần 600 đảng bộ tương đương là cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng). Toàn Đảng có hơn 57.000 tổ chức cơ sở đảng, với hơn 23.000 đảng bộ cơ sở và hơn 34.000 chi bộ cơ sở; hơn 1.600 đảng bộ bộ phận, hơn 241.000 chi bộ trực thuộc đảng uỷ cơ sở với tổng số hơn 3,9 triệu đảng viên. Có 5 loại hình tổ chức cơ sở đảng cơ bản là: Tổ chức cơ sở đảng xã, phường, thị trấn; tổ chức cơ sở đảng trong doanh nghiệp (trong đó có nhiều loại hình doanh nghiệp); tổ chức cơ sở đảng trong cơ quan hành chính; tổ chức cơ sở đảng trong đơn vị sự nghiệp và tổ chức cơ sở đảng trong lực lượng vũ trang. Trong những năm thực hiện công cuộc đổi mới, nhất là trong 10 năm gần đây, số lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên trong các loại hình cơ sở tăng nhanh và chất lượng không ngừng được nâng lên. Nhiều tổ chức cơ sở đảng trong các loại hình đã phát huy vai trò lãnh đạo và là hạt nhân chính trị ở cơ sở; có nhiều mô hình mới và điển hình tiên tiến, lãnh đạo thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị, công tác chuyên môn, góp phần giữ vững ổn định chính trị, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng, đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Số lượng đảng viên trong những năm gần đây tăng nhanh, bình quân mỗi năm toàn Đảng kết nạp hơn 170.000 đảng viên mới, trong đó số đảng viên trẻ, là Đoàn viên thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh chiếm hơn 60%; số đảng viên nữ, đảng viên là người dân tộc thiểu số ngày càng tăng, làm cho tuổi bình quân của toàn Đảng giảm và cơ cấu đội ngũ đảng viên từng bước chuyển dịch theo hướng tích cực. 1.2.2. Bản chất, mục đích và nền tảng tư tưởng của Đảng 1.2.1. Bản chất, mục đích và nền tảng tư tưởng của Đảng Cương lĩnh chính trị và Điều lệ Đảng đã xác định như sau: Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc.
Trang 1MỤC LỤC
Trang 2MỞ ĐẦU
Gia đình không chỉ là “tế bào” tự nhiên mà còn là một đơn vị kinh tếcủa xã hội Gia đình có vai trò đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triểnnguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ đất nước Gia đình có vai trò quyếtđịnh đối với sự hình thành và phát triển của xã hội Những chuẩn mực giá trịtốt đẹp của gia đình được tiếp nhận, phát triển góp phần xây dựng, tô thắm,làm rạng rỡ thêm bản sắc văn hóa dân tộc Đại hội XI, Đảng ta khẳng định:
“Gia đình là môi trường quan trọng, trực tiếp giáo dục nếp sống và hình thànhnhân cách, góp phần chăm lo xây dựng con người Việt Nam giàu lòng yêunước, có ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân, có tri thức, sức khỏe, laođộng giỏi, sống có văn hóa, nghĩa tình, có tinh thần quốc tế chân chính”
Con người Việt Nam chỉ có thể được trang bị những phẩm chất tốt đẹpnếu có một môi trường xã hội tốt Môi trường đó trước hết là từ mỗi gia đình,mỗi tế bào của xã hội Gia đình chịu trách nhiệm trước xã hội về sản phẩmcủa gia đình mình, có trách nhiệm nuôi dưỡng và giáo dục con cái, cung cấpcho xã hội những công dân hữu ích Cùng với nhà trường, gia đình tham giatích cực nhiệm vụ “dạy người, dạy chữ”, tạo ra lực lượng lao động tương laichất lượng cao Gia đình chính là “đơn vị xã hội” đầu tiên cung cấp lực lượnglao động cho xã hội Từ những người lao động chân tay giản đơn đến laođộng trí óc đều được sinh ra, nuôi dưỡng và chịu sự giáo dục của gia đình
Do đó, sau một thời gian tìm hiểu tác giả đã chọn đề tài “ Vai trò của Đảng chính trị Việt Nam trong quy trình chính sách gia đình mới tại Việt Nam”
để hiểu rõ hơn về mặt lý luận cũng như thực tiễn gia đình Việt Nam
Trang 3NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN QUY TRÌNH CHÍNH SÁCH VÀ SỰ PHÁT TRIỂN ĐẢNG CỘNG SẢN
VIỆT NAM 1.1 Lý luận chung về quy trình hoạch định chính sách và phân tích chính sách
1.1.1 Định nghĩa
Trên thế giới có rất nhiều định nghĩa khác nhau về chính sách và chínhsách công Chính sách liên quan đến những tuyên bố, hành động mang tínhquyền lực nhà nước, dựa trên giả thuyết về nguyên nhân và kết quả, nhằmmục tiêu giải quyết các vấn đề công, hay thúc đẩy các giá trị ưu tiên
Quy trình hoạch định chính sách (Policy making process), hay cònđược gọi là quy trình chính sách, hoặc chu trình chính sách (policy cycle),diễn tả logic quá trình hình thành, phát triển của chính sách công, cùng vớivai trò và mối quan hệ của các chủ thể tham gia quá trình này
Phân tích chính sách (Policy analysis) có thể được hiểu là một quá trình
xử lý thông tin bằng các công cụ phân tích, nhằm đề ra các phương án lựachọn giải quyết một vấn đề công
1.1.2 Quy trình hoạch định chính sách
Khoa học chính sách hiện tại cũng chưa có được một quy trình hoạchđịnh chính sách thống nhất, chuẩn mực Điều này có thể lý giải bởi sự khácbiệt thể chế chính trị và cách thức tổ chức quyền lực nhà nước giữa các quốcgia, dẫn tới sự khác nhau trong quy trình chính sách Bên cạnh đó, vẫn cònnhững hoài nghi trong nghiên cứu lý luận về quy trình chính sách, ví dụ nhưquy trình chính sách là một lý thuyết khoa học được kiểm định, hay chỉ mangtính kinh nghiệm, mô tả quá trình Mặc dù vậy, việc nhận thức khái quát vềmột quy trình logic với các giai đoạn của nó vẫn đóng vai trò quan trọng, làm
Trang 4Quá trình chính sách thường bao gồm các giai đoạn chính, theo trình tựthời gian là: Lập chương trình nghị sự; Hình thành chính sách; Thông quachính sách; Thực thi chính sách; Đánh giá chính sách Ngoài ra, có thể phânchia thành các giai đoạn nhỏ hơn, đưa vào một số bước phân tích, hoặc thêmmột số giai đoạn, như: Xác định vấn đề công, điều chỉnh chính sách (thay đổichính sách), sự thành công của chính sách, và kết thúc chính sách Dưới đâykhái quát một số giai đoạn chính trong một quá trình hoạch định chính sáchtruyền thống:
– Lập chương trình (Agenda setting): Các cá nhân và tổ chức, cơ quanchức năng tham gia làm chính sách trình vấn đề công ra thảo luận, và xem xétđưa vào chương trình chính thức Trên thực tế, có những vấn đề chính sách dễdàng mở “cánh cửa cơ hội” xuất hiện trong chương trình nghị sự; trong khinhiều vấn đề khác lại bị trì hoãn lâu dài
– Hình thành chính sách (Policy formulation, bao gồm việc thiết kếchính sách – policy design): Chính thức đề xuất các phương án (biện phápthay thế) nhằm mục tiêu giải quyết vấn đề chính sách Giải pháp thay thếtrong các đề xuất chính sách có thể thể hiện dưới dạng dự thảo các quy địnhpháp lý của chính phủ, tòa án hoặc dự luật của Quốc hội
– Thông qua chính sách (Policy adoption): Chính sách được chính thứcthông qua bởi đa số, hay được hợp pháp hoá (legitimation) Nói chung, chínhsách có thể được thông qua bởi Quốc hội, Chính phủ và Tòa án trong phạm viluật định
– Thực thi chính sách (Policy implementation): Một chính sách đượcthông qua sẽ được chuyển đến cơ quan hành pháp để huy động các nguồn lựctài chính, nhân lực triển khai thực hiện Đây là giai đoạn quan trọng mà chínhsách công thực sự tác động đến xã hội nhằm đạt được các mục tiêu nhà nước
Trang 5đã đề ra; và cũng có thể dẫn tới những tác động không mong muốn, thậm chíngoài dự đoán phân tích ban đầu.
– Đánh giá chính sách (Policy evaluation): Trong giai đoạn này, cácđơn vị chức năng như thanh tra, kiểm toán xác định xem các cơ quan thực thichính sách có đáp ứng yêu cầu, tuân thủ quy định pháp lý, và đạt được cácmục tiêu của chính sách không Theo nghĩa này thì đánh giá chính sách là mộtgiai đoạn trong quy trình chính sách Bên cạnh đó, đánh giá chính sách trongnghiên cứu chính sách còn được hiểu là một phương pháp phân tích chươngtrình, chính sách, thông qua việc sử dụng các công cụ phân tích
Có nhiều yếu tố dùng để đánh giá các kết quả chính sách (policyoutcomes), và chất lượng của quy trình hoạch định chính sách Trong đó,ngoài các tiêu chí phổ biến như hiệu suất và hiệu quả, còn có các tiêu chíkhác, như tính hợp pháp, dân chủ, công bằng xã hội, minh bạch, trách nhiệmgiải trình, cùng các giá trị khác mà chính sách mang lại, và chúng có thể mâuthuẫn với nhau
Một điểm lưu ý, là quy trình hoạch định chính sách được xem là mộtquá trình liên tục, mà đằng sau nó là hoạt động phân tích chính sách Việc
“kết thúc” một chính sách thường là khởi đầu cho một giai đoạn mới, với cácvấn đề công cộng mới nảy sinh, cần tiếp tục được phát hiện, phân tích, giảiquyết và đánh giá Vì thế, các giai đoạn của quy trình chính sách thường đượcbiểu diễn trong một vòng tròn, mang ý nghĩa một chu trình tiếp nối liên tục –chu trình chính sách Trong đó, việc phân tích chính sách nói chung diễn ra ởhầu hết, nếu không nói là tất cả, các giai đoạn của quá trình chính sách Dovậy, nghiên cứu về chu trình chính sách cần hiểu được vai trò của phân tíchchính sách và vận dụng phân tích chính sách phù hợp trong từng giai đoạn
Trang 61.2 Quá trình hình thành và phát triển của Đảng cộng sản Việt Nam
1.2.1 Giới thiệu chung
Qua 80 năm lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đượcnhân dân và cả dân tộc Việt Nam thừa nhận là người tổ chức, lãnh đạo vàquyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam Đảng được nhân dân tinyêu, che chở, bảo vệ và coi Đảng là Đảng của mình Đảng Cộng sản Việt Namngày càng mở rộng quan hệ với các Đảng Cộng sản và Công nhân quốc tế;ngoài ra, Đảng còn có quan hệ với nhiều đảng cầm quyền khác trên thế giới;
có sự đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ to lớn của bạn bè và nhân dân yêu chuộnghoà bình, tiến bộ trên thế giới
- Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng duy nhất cầm quyền, không có cácđảng chính trị đối lập nên không có sự cạnh tranh về vai trò lãnh đạo củaĐảng;
- Đảng hoạt động một cách công khai, hợp pháp, hợp hiến; vai trò lãnhđạo của Đảng đối với đất nước đã được nhân dân thừa nhận trong thực tế vàđược quy định tại Điều 4 của Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam;
- Đảng có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vìdân, một công cụ đắc lực, mạnh mẽ và sắc bén để Đảng thực hiện sự lãnh đạocủa mình đối với toàn xã hội và có Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị -
xã hội hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng
Để bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng đối với Nhà nước và xãhội, các tổ chức đảng được thành lập ở mọi nơi, ở tất cả các cấp, các ngành,các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội từ trung ương đến địa phương và
cơ sở Hệ thống tổ chức cơ bản của Đảng được thành lập tương ứng với hệthống tổ chức hành chính của Nhà nước gồm 4 cấp: cấp trung ương, cấp tỉnh,cấp huyện và cấp cơ sở Ngoài ra, tổ chức đảng còn được lập ra ở những nơi
có đặc điểm riêng theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương
Trang 7Hiện nay, toàn Đảng có 67 đảng bộ trực thuộc Trung ương, gồm 58đảng bộ tỉnh, 05 đảng bộ thành phố, 04 đảng bộ trực thuộc Trung ương Cógần 1.300 đảng bộ cấp huyện và tương đương (gần 700 đảng bộ huyện, quận,thị xã, thành phố thuộc tỉnh và gần 600 đảng bộ tương đương là cấp trên trựctiếp của tổ chức cơ sở đảng)
Toàn Đảng có hơn 57.000 tổ chức cơ sở đảng, với hơn 23.000 đảng bộ
cơ sở và hơn 34.000 chi bộ cơ sở; hơn 1.600 đảng bộ bộ phận, hơn 241.000chi bộ trực thuộc đảng uỷ cơ sở với tổng số hơn 3,9 triệu đảng viên Có 5 loạihình tổ chức cơ sở đảng cơ bản là: Tổ chức cơ sở đảng xã, phường, thị trấn; tổchức cơ sở đảng trong doanh nghiệp (trong đó có nhiều loại hình doanhnghiệp); tổ chức cơ sở đảng trong cơ quan hành chính; tổ chức cơ sở đảngtrong đơn vị sự nghiệp và tổ chức cơ sở đảng trong lực lượng vũ trang
Trong những năm thực hiện công cuộc đổi mới, nhất là trong 10 nămgần đây, số lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên trong các loại hình cơ sởtăng nhanh và chất lượng không ngừng được nâng lên Nhiều tổ chức cơ sởđảng trong các loại hình đã phát huy vai trò lãnh đạo và là hạt nhân chính trị ở
cơ sở; có nhiều mô hình mới và điển hình tiên tiến, lãnh đạo thực hiện tốtnhiệm vụ chính trị, công tác chuyên môn, góp phần giữ vững ổn định chínhtrị, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng, đẩymạnh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
Số lượng đảng viên trong những năm gần đây tăng nhanh, bình quânmỗi năm toàn Đảng kết nạp hơn 170.000 đảng viên mới, trong đó số đảngviên trẻ, là Đoàn viên thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh chiếm hơn 60%; sốđảng viên nữ, đảng viên là người dân tộc thiểu số ngày càng tăng, làm chotuổi bình quân của toàn Đảng giảm và cơ cấu đội ngũ đảng viên từng bướcchuyển dịch theo hướng tích cực
Trang 81.2.2 Bản chất, mục đích và nền tảng tư tưởng của Đảng
1.2.1 Bản chất, mục đích và nền tảng tư tưởng của Đảng
Cương lĩnh chính trị và Điều lệ Đảng đã xác định như sau:
- Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân,đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc ViệtNam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động
và dân tộc
- Mục đích của Đảng là xây dựng nước Việt Nam hoà bình, độc lập,dân giầu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, thực hiện thànhcông chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản
- Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nềntảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, phát huy truyền thống tốt đẹp củadân tộc, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của nhân loại, nắm vững quy luật khách quan,
xu thế thời đại và thực tiễn của đất nước để đề ra Cương lĩnh chính trị, đườnglối cách mạng đúng đắn, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân
Nguyên tắc tổ chức và phương thức hoạt động của Đảng
- Đảng Cộng sản Việt Nam là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí vàhành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, thực hiện tậpthể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, đồng thời thực hiện các nguyên tắc: tự phêbình và phê bình; đoàn kết trên cơ sở Cương lĩnh chính trị và Điều lệ Đảng;gắn bó mật thiết với nhân dân; Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp vàpháp luật
- Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng duy nhất cầm quyền, lãnh đạo Nhànước và xã hội Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng
về chính sách và chủ trương lớn; bằng tuyên truyền, thuyết phục, vận động;bằng công tác tổ chức, cán bộ và kiểm tra; bằng sự gương mẫu của mỗi cán
bộ, đảng viên
Trang 9- Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ,giới thiệu những đảng viên có đủ phẩm chất, năng lực vào hoạt động trongcác cơ quan lãnh đạo của hệ thống chính trị Đảng tôn trọng, phát huy quyềnlàm chủ của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân; dựa vào dân để xâydựng Đảng
- Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị đồng thời là một bộ phận của hệthống ấy Đảng lãnh đạo, phát huy vai trò của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốcViệt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội Đảng kết hợp chủ nghĩa yêu nướcchân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng của giai cấp công nhân, góp phầntích cực vào sự nghiệp hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hộicủa nhân dân thế giới
1.2.3 Một số thành tựu và hạn chế của Đảng Cộng sản Việt Nam
Thành tựu
Qua gần 30 năm thực hiện Cương lĩnh 1991 và qua các kỳ Đại hội,nhận thức về phương thức lãnh đạo của Đảng ngày càng rõ và đầy đủ hơn:Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội.Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách vàchủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức,kiểm tra và bằng hành động gương mẫu của đảng viên Đảng thống nhất lãnhđạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, giới thiệu những đảng viên ưu
tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo của
hệ thống chính trị Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng viên hoạtđộng trong các tổ chức của hệ thống chính trị, tăng cường chế độ trách nhiệm
cá nhân, nhất là người đứng đầu
Đảng phải thường xuyên nâng cao năng lực cầm quyền và hiệu quả lãnh đạo,đồng thời phát huy mạnh mẽ vai trò, tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệmcủa các tổ chức khác và người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị
Trang 10Những đổi mới về quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng trên cáclĩnh vực của đời sống xã hội là định hướng chính trị cho đổi mới hoạt độngcủa hệ thống chính trị nước ta trong những năm qua
+ Đảng đặc biệt coi trọng việc thể chế hoá, cụ thể hoá quan điểm, chủtrương đường lối thành luật pháp, cơ chế, chính sách của Nhà nước
+ Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo Quốc hội trong các hoạt động lập pháp,giám sát tối cao và việc quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước
+ Định hướng cho việc ban hành cơ chế, chính sách, các chiến lược,quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh,đối ngoại… của Chính phủ
- Đảng lãnh đạo công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục, thuyếtphục, thực hành công khai, dân chủ trong Đảng và trong xã hội; phát huy vàthực hiện tốt hơn quyền làm chủ của nhân dân; phát huy tính năng động, sángtạo của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội
- Việc lập đảng đoàn, ban cán sự đảng, giới thiệu những đảng viêncủa Đảng vào các vị trí lãnh đạo chủ chốt của các hệ thống chính trị, củng cố
tổ chức cơ sở đảng và phát huy vai trò quản lý, giám sát của tổ chức đảng đốivới đảng viên, nêu cao tính tiền phong, gương mẫu của đảng viên đã có tácđộng tích cực đến việc giữ vững và nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng
- Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đã được tăng cường Đảnglãnh đạo, phối hợp sự kiểm tra, giám sát của Đảng với của Nhà nước, Mặttrận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân đối với các tổ chức trong hệ thống chínhtrị và cán bộ, đảng viên trong việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng,chính sách, pháp luật của Nhà nước, về trách nhiệm đối với công việc và thái
độ phục vụ nhân dân
Trang 11- Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác cán bộ vàphong cách, lề lối làm việc của các cấp uỷ và đảng viên có đổi mới theohướng khoa học, công khai, dân chủ, sát cơ sở hơn
Nguyên nhân:
- Đường lối đổi mới đúng đắn và những thành tựu đạt được của đất nướctrong hơn 30 năm qua đã đặt ra những yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạocủa Đảng và là cơ sở khoa học để đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng
- Đảng ta ngày càng quan tâm, nhận thức rõ hơn ý nghĩa và tầm quantrọng của việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, coi đổi mới phươngthức lãnh đạo là một trong những nhiệm vụ và giải pháp hàng đầu để nângcao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng
- Trong quá trình đổi mới phương thức lãnh đạo, Đảng ta vừa giữ vữngnhững nguyên tắc cơ bản của công tác xây dựng Đảng, giữ vững vai trò lãnhđạo của Đảng, vừa bám sát thực tiễn đất nước, tổng kết thực tiễn, phát huydân chủ để tìm tòi, đổi mới một cách sáng tạo
Hạn chế
Vẫn còn tình trạng cấp uỷ bao biện, làm thay hoặc buông lỏng lãnh đạođối với hoạt động của hệ thống chính trị trên một số lĩnh vực Chậm ban hànhnhững quy định cụ thể về phương thức Đảng lãnh đạo Nhà nước, Mặt trận Tổquốc và các đoàn thể; về mối quan hệ công tác giữa các tổ chức trong hệthống chính trị
Còn thiếu những quy định cụ thể bảo đảm thực hiện đúng đắn nguyêntắc tập trung dân chủ, thực hành dân chủ trong Đảng và trong xã hội
Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác tư tưởng, công tác cán
bộ đổi mới chậm; chất lượng công tác tư tưởng, tuyên truyền còn nhiều hạnchế
Trang 12Chậm cụ thể hoá tiêu chuẩn cán bộ trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiệnđại hoá cho từng chức danh cụ thể ở các cấp, các ngành
Chất lượng công tác đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luânchuyển, bổ nhiệm cán bộ còn nhiều hạn chế; chính sách đãi ngộ với cán bộcòn bất cập
Chưa có cơ chế, chính sách phù hợp để phát hiện, tuyển chọn, bồidưỡng, trọng dụng người có đức, có tài, thay thế kịp thời những người yếukém về phẩm chất và năng lực
Chưa thực sự coi trọng đổi mới phong cách, lề lối làm việc; tình trạnghọp hành nhiều, nói chưa đi đôi với làm, nói nhiều, làm ít, né tránh, đùn đẩytrách nhiệm, thiếu gương mẫu còn diễn ra ở nhiều nơi
Lý luận về Đảng cầm quyền, về phương thức lãnh đạo của Đảng trong điềukiện một Đảng cầm quyền còn nhiều vấn đề chưa làm rõ, nhận thức còn khácnhau
- Những hạn chế trong tổ chức bộ máy và yếu kém trong đội ngũ cán bộ
đã tác động tiêu cực, cản trở việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng
Trang 13- Chậm ban hành đầy đủ, đồng bộ các quy chế, quy định về sự lãnh đạo
và phối hợp công tác giữa các tổ chức đảng với các tổ chức trong hệ thốngchính trị
CHƯƠNG II: VAI TRÒ CỦA ĐẢNG CHÍNH TRỊ VIỆT NAM TRONG QUY TRÌNH CHÍNH SÁCH GIA ĐÌNH MỚI HIỆN NAY 2.1 Nội dung và mục đích của các chính sách gia đình mới
Hiện nay, khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền ở nước ta cònlớn, bất bình đẳng thu nhập dân cư có xu hướng gia tăng; tỷ lệ hộ nghèo vàcận nghèo ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn cao; tệnạn xã hội nhiều nơi diễn biến phức tạp; bình đẳng giới, bảo vệ phụ nữ và trẻ
em có nơi chưa được quan tâm đúng mức, còn xảy ra nhiều vụ bạo lực giađình, bạo hành, xâm hại trẻ em gây bức xúc xã hội; đời sống của người yếuthế còn nhiều khó khăn Trong 10 năm qua việc thực hiện các tiêu chí xâydựng gia đình mới được thể hiện như sau:
2.1.1 Chính sách gia đình ít con
Các gia đình Việt Nam coi trọng giá trị của con cái (bao gồm giá trị xãhội, kinh tế, an sinh và tâm lý - tình cảm) Một trong những giá trị quan trọngcủa con cái là “lưới an sinh” của cha mẹ khi về già (“trẻ cậy cha, già cậycon”, con cái là “của để dành”), nhất là trong bối cảnh các dịch vụ xã hộichăm sóc người cao tuổi còn chưa phát triển, mức độ tích lũy tài sản bảo đảmkhi về già thấp Đạo hiếu là một truyền thống văn hóa tốt đẹp đang tiếp tụcđược giữ gìn Con cái và cha mẹ hỗ trợ nhau trên ba khía cạnh chính, là tàichính, việc nhà và tình cảm
Gia đình Việt Nam hiện nay có quy mô ngày càng nhỏ, trung bình 3, 4người, cho thấy xu hướng hạt nhân hóa gia đình khá rõ nét, số lượng gia đìnhđơn thân tăng Thực tế này đặt ra những yêu cầu mới về vai trò chăm sóc vàxây dựng gia đình bảo đảm sự gắn kết xã hội