Trong tình huống trên, sau khi xây dựng xong công trình, nhà thầu C có thể yêu cầu chủ đầu tư A thực hiện những nghĩa vụ trên cơ sở các quy định của chế định “thực hiện công việc không c
Trang 1BUỔI THẢO LUẬN THỨ NHẤT
NGHĨA VỤ
Môn: Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Giảng viên: ThS Nguyễn Tấn Hoàng Hải
Nhóm: 05
Danh sách thành viên:
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 29 tháng 09 năm 2021
Trang 2Câu 1.2 Vì sao thực hiện công việc không có ủy quyền là căn cứ phát sinh nghĩa vụ? 1
Câu 1.3 Cho biết điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền" 1
Câu 1.4 Các điều kiện để áp dụng chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền" theo BLDS 2015? Phân tích từng điều kiện 2
Câu 1.5 Trong tình huống trên, sau khi xây dựng xong công trình, nhà thầu C có thể yêu cầu chủ đầu tư A thực hiện những nghĩa vụ trên cơ sở các quy định của chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền” trong BLDS 2015 không? Vì sao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 3
VẤN ĐỀ 2: THỰC HIỆN NGHĨA VỤ (THANH TOÁN MỘT KHOẢN TIỀN) 5
Câu 2.1 Thông tư trên cho phép tính lại giá trị khoản tiền phải thanh toán như thế nào? Qua trung gian là tài sản gì? 5
Câu 2.2 Đối với tình huống thứ nhất, thực tế ông Quới sẽ phải trả cho bà Cô khoản tiền cụ thể là bao nhiêu? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời 6
Câu 2.3 Thông tư trên có điều chỉnh việc thanh toán tiền trong hợp đồng chuyển nhượng bất động sản như trong Quyết định số 15/2018/DS-GĐT không? Vì sao?6 Câu 2.4 Đối với tình huống trong Quyết định số 15/2018/DS-GĐT, nếu giá trị nhà đất được xác định là 1.697.760.000đ như Tòa án cấp sơ thẩm đã làm thì, theo Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, khoản tiền bà Hường phải thanh toán cho cụ Bảng cụ thể là bao nhiêu? Vì sao? 6
Câu 2.5 Hướng như trên của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội có tiền lệ chưa? Nêu một tiền lệ (nếu có)? 7
VẤN ĐỀ 3: CHUYỂN GIAO NGHĨA VỤ THEO THỎA THUẬN 9
Câu 3.1 Điểm giống và khác nhau cơ bản giữa chuyển giao quyền yêu cầu và chuyển giao nghĩa vụ theo thỏa thuận? 9
Câu 3.2 Thông tin nào của bản án cho thấy bà Phượng có nghĩa vụ thanh toán cho bà Tú? 11
Câu 3.3 Đoạn nào của bản án cho thấy nghĩa vụ trả nợ của bà Phượng đã được chuyển sang cho bà Ngọc, bà Loan và ông Thạnh? 11
Câu 3.4 Suy nghĩ của anh/chị về đánh giá trên của Tòa án? 11
Trang 3Câu 3.6 Nhìn từ góc độ quan điểm các tác giả, người có nghĩa vụ ban đầu có còn trách nhiệm đối với người có quyền không khi người thế nghĩa vụ không thực hiện 13
Câu 3.7 Đoạn nào của bản án cho thấy Tòa án theo hướng người có nghĩa vụ ban đầu không còn trách nhiệm đối với người có quyền? 13
Câu 3.8 Kinh nghiệm của pháp luật nước ngoài đối với quan hệ giữa người có nghĩa vụ ban đầu và người có quyền 14
Câu 3.9 Suy nghĩ của anh chị về hướng giải quyết trên của Tòa án 15
Câu 3.10 Trong trường hợp nghĩa vụ của bà Phượng đối với bà Tú có biện pháp bảo lãnh của người thứ ba thì, khi nghĩa vụ được chuyển giao, biện pháp bảo lãnh
có chấm dứt không? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời 15
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4VẤN ĐỀ 1: THỰC HIỆN CÔNG VIỆC KHÔNG CÓ ỦY QUYỀN
Câu 1.1 Thế nào là thực hiện công việc không có ủy quyền?
“Thực hiện công việc không có ủy quyền là việc một người không có nghĩa
vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối.” theo điều 574 Luật dân sự 2015
Câu 1.2 Vì sao thực hiện công việc không có ủy quyền là căn cứ phát sinh nghĩa vụ?
Thực hiện công việc không có ủy quyền là những sự kiện có thể xảy ra trong thực tế, được pháp luật dự liệu trước và công nhận là có giá trị pháp lý thông qua các quy phạm pháp luật nhất định, cụ thể: Khoản 3 Điều 275, Điều 574 đến Điều
578 BLDS 2015 Sự xuất hiện của các sự kiện pháp lý này chính là nguyên nhân khiến những quan hệ pháp luật dân sự phát sinh, thay đổi và chấm dứt, kéo theo đó
là nghĩa vụ giữa các bên chủ thể được hình thành Vì vậy, có thể nói thực hiện công việc không có ủy quyền là căn cứ phát sinh nghĩa vụ
Câu 1.3 Cho biết điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền"
Về khái niệm: Điều 594 BLDS 2005 quy định: “Thực hiện công việc không
có ủy quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó, hoàn toàn vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối” Tuy nhiên, Điều
574 BLDS 2015 đã bỏ đi chữ “hoàn toàn” Thay đổi trên là hoàn toàn hợp lí vì trong thực tế, có nhiều trường hợp một người thực hiện công việc không có ủy quyền không chỉ hoàn toàn vì lợi ích của người có công việc được thực hiện mà còn
để đảm bảo cho lợi ích của bản thân
Về nghĩa vụ thực hiện công việc không có ủy quyền:
- Khoản 3 Điều 575 BLDS 2015 quy định các trường hợp người thực hiện công việc không có ủy quyền không cần phải báo cho người có công việc được thực hiện
về quá trình và kết quả thực hiện công việc bao gồm cả “không biết nơi cư trú” và không biết trụ sở của người có công việc được thực hiện Còn Khoản 3 Điều 595 BLDS 2005 thì chỉ quy định về “không biết nơi cư trú” Sự bổ sung trên là hoàn toàn hợp lí vì chủ thể của luật dân
Trang 5sự ngoài cá nhân thì còn có pháp nhân Theo đó, với một pháp nhân thì lại không tồn tại khái niệm “nơi cư trú” mà lại là khái niệm “trụ sở”, tức nơi đặt
cơ quan điều hành của pháp nhân đó
- Khoản 4 Điều 575 BLDS 2015 quy định rõ ràng về trường hợp người có công việc được thực hiện chết, nếu là cá nhân và chấm dứt tồn tại nếu là pháp nhân thì người thực hiện công việc phải tiếp tục thực hiện công việc , trong khi Khoản 4 Điều
595 BLDS năm 2005 thì lại không quy định đối với pháp nhân Sự bổ sung trên là hoàn toàn hợp lí vì chủ thể của luật dân sự không chỉ có cá nhân mà còn bao gồm pháp nhân
Mà đối với pháp nhân, khái niệm “chết” không tồn tại mà thay vào đó là “chấm dứt tồn tại”
Về chấm dứt thực hiện công việc không có ủy quyền:
- Khoản 4 Điều 578 BLDS quy định rõ ràng một trong các trường hợp chấm dứt thực hiện công việc không có ủy quyền là “người thực hiện công việc không có ủy quyền chết, nếu là cá nhân hoặc chấm dứt tồn tại, nếu là pháp nhân” trong khi Khoản 4 Điều 598 BLDS 2005 chỉ quy định: “người thực hiện công việc không có ủy quyền chết” Sự thay đổi này hoàn toàn hợp lí vì có bổ sung thêm quy định đối với pháp nhân Theo đó, đối với một pháp nhân thì không có khái niệm “chết” mà chỉ có “chấm dứt tồn tại
Câu 1.4 Các điều kiện để áp dụng chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền" theo BLDS 2015? Phân tích từng điều kiện.
Các điều kiện để áp dụng chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền”:
1 Khi có công việc cần thiết, cấp bách mà theo đó, các công việc này cần phải thực hiện ngay Nếu không được thực hiện thì chủ công việc hoặc những người xung quanh sẽ phải chịu hậu quả bất lợi hơn
2 Có người có nhu cầu thực hiện công việc Mặc dù Bộ Luật Dân sự 2015 không thể hiện rõ điều kiện để áp dụng chế định này, nhưng dựa vào quy định tại Điều
574 và các vụ việc xảy ra trên thực tế, chúng ta hiểu rằng, phải có một người có công việc cần thực hiện (nếu không có ai có công việc có nhu cầu được thực hiện thì chế định này không có ý nghĩa) Chính yêu cầu này đã làm xuất hiện thuật ngữ “người có công việc” trong BLDS như tại một số điều luật: Điều 575, Điều 576, Điều 577
Trang 63 Người khác thực hiện công việc Với quy định trên, để thực hiện công việc không có ủy quyền là căn cứ phát sinh nghĩa vụ dân sự, thì phải có một người “thực hiện công việc” của người khác Trong điều kiện này, Bộ Luật Dân sự không có quy định về năng lực hành vi của người thực hiện công việc không có ủy quyền nên ai cũng có thể là người thực hiện công việc không có ủy quyền
4 Người thực hiện công việc không có nghĩa vụ Với quy định trên, người thực hiện công việc là người không có nghĩa vụ thực hiện công việc đó Nghĩa vụ ở đây là nghĩa vụ pháp lý do luật định hoặc do các bên thỏa thuận
5 Vì lợi ích của người có công việc Yêu cầu này có thể được hiểu theo hai nghĩa Nghĩa thứ nhất là người thực hiện công việc không có lợi ích trong công việc mà
họ thực hiện, và tất cả đều vì lợi ích của người có công việc được thực hiện Nghĩa thứ hai là việc thực hiện công việc vì lợi ích của người có công việc được thực hiện và không loại trừ khả năng người tiến hành công việc cũng có lợi ích từ việc thực hiện Nói theo cách khác là chế định nào cũng có thể được áp dụng khi người thực hiện có lợi trong việc thực hiện
6 Các điều kiện khác Ngoài các điều kiện quan trọng trên, việc áp dụng chế định thực hiện công việc không có ủy quyền còn phải đáp ứng điều kiện khác Giữa người thực hiện công việc và người có công việc được thực hiện không tồn tại một hợp đồng, không có ủy quyền
Câu 1.5 Trong tình huống trên, sau khi xây dựng xong công trình, nhà thầu C
có thể yêu cầu chủ đầu tư A thực hiện những nghĩa vụ trên cơ sở các quy định của chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền” trong BLDS 2015 không? Vì sao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Trong tình huống nêu trên, nhà thầu C không thể yêu cầu chủ đầu tư A thực hiện những nghĩa vụ trên cơ sở các quy định của chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền” theo BLDS năm 2015, vì không thỏa mãn đầy đủ các điều kiện
để phát nghĩa vụ do thực hiện công việc không có ủy quyền Cụ thể như sau:
- Việc xây dựng xong công trình của nhà thầu C không phải là công việc cần thiết cấp bách Việc xây dựng công trình này nếu không được thực hiện ngay cũng không làm cho chủ đầu tư A sẽ phải chịu hậu quả bất lợi hơn
Trang 7- Nhà thầu C không tự nguyện mà có thông qua thỏa thuận để thực hiện việc xây dựng công trình
- Nhà thầu C không xây dựng công trình đơn thuần vì lợi ích của chủ đầu tư A
mà là do lợi nhuận đã thỏa thuận với B
Cơ sở pháp lý: Điều 574 BLDS 2015
Trang 8VẤN ĐỀ 2: THỰC HIỆN NGHĨA VỤ (THANH TOÁN MỘT KHOẢN TIỀN) Tóm tắt quyết định số 15/2018/DS-GĐT ngày 15/3/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Nguyên đơn là cụ Ngô Quang Bảng, bị đơn là bà Mai Hương, cụ Bảng và bà Hương tranh chấp với nhau về nghĩa vụ trả tiền trong hợp đồng chuyển nhượng nhà
và quyền sử dụng đất
Ngày 26/11/1991, cụ Bảng chuyển nhượng nhà, đất diện tích 1.010m2 tại thị trấn Quảng Yên, huyện Yên Hưng cho vợ chồng bà Mai Hương Tuy nhiên, bà Hương chưa thanh toán hết tiền nhận chuyển nhượng đất cho cụ Bảng khi mới thanh toán được cho cụ số tiền 4.000.000 đồng trong tổng số tiền 5.000.000 đồng
mà đã chuyển nhượng toàn bộ đất, nhà trên cho vợ chồng ông Hoàng Văn Chinh Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm đã xác định số tiền 1.000.000 đồng là khoản tiền
nợ và buộc bà Hương phải trả số tiền này cùng lãi suất theo quy định Tòa án nhân dân cấp cao Hà Nội quyết định hủy bản án dân sự sơ thẩm và phúc thẩm, giao hồ sơ lại cho Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm
Tòa giám đốc thẩm đã xác định sửa bản án phúc thẩm, buộc bà Hương phải trả cho cụ Bảng sô tiền tương đương 1/5 giá trị quyền sử dụng đất nhận chuyển nhượng theo định giá của Tòa án cấp sơ thẩm
Câu 2.1 Thông tư trên cho phép tính lại giá trị khoản tiền phải thanh toán như thế nào? Qua trung gian là tài sản gì?
Theo Điểm a Khoản 1 Phần I Thông tư 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản có quy định: “a) Nếu việc gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ dân sự xảy ra trước ngày 1-7-1996 và trong thời gian từ thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ đến thời điểm xét xử sơ thẩm mà giá gạo tăng từ 20% trở lên, thì Toà án quy đổi các khoản tiền đó ra gạo theo giá gạo loại trung bình ở địa phương (từ đây trở đi gọi tắt là "giá gạo") tại thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ, rồi tính số lượng gạo đó thành tiền theo giá gạo tại thời điểm xét xử sơ thẩm để buộc bên có nghĩa vụ về tài sản phải thanh toán và chịu
án phí theo số tiền đó.”
Trang 9Thông tư trên đã cho phép tính lại giá trị khoản tiền phải thanh toán theo “giá gạo” tại thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ, rồi tính số lượng gạo đó thành tiền theo giá gạo tại thời điểm xét xử sơ thẩm để buộc bên có nghĩa vụ về tài sản phải thanh toán và chịu án phí theo số tiền đó
Giá trị khoản tiền phải thanh toán được tính lại qua trung gian là gạo
Câu 2.2 Đối với tình huống thứ nhất, thực tế ông Quới sẽ phải trả cho bà Cô khoản tiền cụ thể là bao nhiêu? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời.
Thực tế ông Quới sẽ phải trả cho bà Cô khoản tiền cụ thể là 5.475.000đ
- Cơ sở pháp lý: Điểm a Mục 1 Chương I Thông tư 01/TTLT năm 1997
- Cách tính cụ thể:
Giá gạo trung bình vào năm 1973 là 137đ/kg => Số lượng gạo tương ứng = 50.000đ/137đ = 365 kg
Giá gạo trung bình hiện nay là 15.000đ/kg => Số tiền ông Quới cần trả = 15.000đ x 365 kg = 5.475.000đ
Câu 2.3 Thông tư trên có điều chỉnh việc thanh toán tiền trong hợp đồng chuyển nhượng bất động sản như trong Quyết định số 15/2018/DS-GĐT không?
Vì sao?
Căn cứ Thông tư 01/TTLT ngày 19/6/1997:
- Điều 1 chỉ điều chỉnh đối với nghĩa vụ tài sản là các khoản tiền, vàng: các khoản tiền bồi thường, tiền hoàn trả, tiền công, tiền lương, tiền chia tài sản, tiền đền bù công sức, tiền cấp dưỡng, tiền vay không có lãi, tiền truy thu thuế, tiền truy thu do thu lợi bất chính
- Điều 2 chỉ điều chỉnh đối với nghĩa vụ về tài sản là hiện vật
Do đó, thông tư trên không điều chỉnh việc thanh toán tiền trong hợp đồng chuyển nhượng bất động sản như trong quyết định số 15/2018/DS-GĐT
Câu 2.4 Đối với tình huống trong Quyết định số 15/2018/DS-GĐT, nếu giá trị nhà đất được xác định là 1.697.760.000đ như Tòa án cấp sơ thẩm đã làm thì, theo Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, khoản tiền bà Hường phải thanh toán cho cụ Bảng cụ thể là bao nhiêu? Vì sao?
Trong bản án, TAND cấp cao tại Hà Nội có nói rõ: “Bà Hương phải thanh toán cho cụ Bảng số tiền còn nợ tương ứng với 1/5 giá trị nhà, đất theo định giá tại
Trang 10thời điểm xét xử sơ thẩm mới đúng với hướng dẫn tại điểm b2 tiểu mục 2.1, mục 2, phần II nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.”
Do đó, nếu xác định giá trị nhà đất là 1.697.760.000đ thì bà Hương phải thanh toán cho cụ Bảng số tiền là: 339.552.000đ
Câu 2.5 Hướng như trên của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội có tiền lệ chưa? Nêu một tiền lệ (nếu có)?
Hướng như trên tại Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã có tiền lệ Đó là Quyết định Giám đốc thẩm số 09/HĐTP-DS ngày 24/02/2005 “Vụ án tranh chấp nhà đất với đòi nợ”
Tóm tắt bản án:
Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Lai
Bị đơn: Ông Phạm Thanh Xuân
Diễn biến vụ việc:
Năm 1994, bà Lai cho ông Xuân vay 11.500.000đ (giấy ghi nợ không ghi rõ ngày tháng năm nhưng hai bên đều thống nhất thời gian cho vay là năm 1994)
Ngày 12/02/1996, bà Lai cho ông Xuân vay tiếp 128.954.000đ
Ngày 08/8/1996, hai bên thống nhất số tiền nợ (lẫn lãi) là 188.600.000đ, đồng thời thỏa thuận chuyển nhượng căn nhà số 19 Chu Văn An cho bà Lai với giá 188.600.000đ
Do vợ chồng ông Xuân không thanh toán nợ và không giao nhà mà vẫn quản
lý ngôi nhà nên bà Lai vẫn tính lãi của số tiền 188.600.000đ
Ngày 05/8/1997, vợ chồng ông Xuân và vợ chồng bà Lai tiếp tục chốt nợ gốc
và lãi từ 188.600.000đ lên 250.000.000đ; hai bên lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với giá 250.000.000đ
Sau khi lập hợp đồng, bà Lai vẫn tính lãi số tiền 250.000.000đ trong thời gian 02 tháng thành 6.000.000đ để cộng dồn vào số tiền 44.000.000đ bà Lai đã cho ông Xuân vay vào ngày 6/11/1997 thành 50.000.000đ
Nhận định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao: