1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

HỢP ĐỒNG và bồi THƯỜNG THIỆT hại NGOÀI hợp ĐỒNG BUỔI THẢO LUẬN THỨ NHẤT NGHĨA vụ

17 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 501,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều 574 BLDS 2015 quy định: “Thực hiện công việc không có ủy quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó vì lợi ích của người

Trang 1

HỢP ĐỒNG VÀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI

NGOÀI HỢP ĐỒNG BUỔI THẢO LUẬN THỨ NHẤT NGHĨA VỤ

GIẢNG VIÊN: LÊ HÀ HUY PHÁT

DANH SÁCH NHÓM 04

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH CÁC CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO ĐẶC BIỆT

danh

Trang 2

MỤC LỤ

Vấn đề 1: Thực hiện công việc không có uỷ quyền 2

Câu 1: Thế nào là thực hiện công việc không có uỷ quyền? 2

Câu 2: Vì sao thực hiện công việc không có ủy quyền là căn cứ phát sinh nghĩa vụ? 3

Câu 3: Cho biết điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền” 4

Câu 4: Các điều kiện để áp dụng chế định “thực hiện công việc không có uỷ quyền” theo BLDS 2015? Phân tích từng điều kiện 5

Câu 5: Quy định về “thực hiện công việc không có uỷ quyền” của một hệ thống pháp luật nước ngoài 5

Câu 6: Trong tình huống nêu trên, sau khi xây dựng xong công trình, nhà thầu C có thể yêu cầu chủ đầu tư A thực hiện những nghĩa vụ trên cơ sở các quy định của chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền” theo BLDS năm 2015 không? Vì sao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời: 8

Vấn đề 2: Thực hiện nghĩa vụ (thanh toán một khoản tiền) 10

Tóm tắt quyết định số 15/2018/DS-GĐT ngày 15/3/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội: 10

Câu 1: Thông tư trên cho phép tính lại giá trị khoản tiền phải thanh toán như thế nào? Qua trung gian là tài sản gì? 10

Câu 2: Đối với tình huống thứ nhất, thực tế ông Quới sẽ phải trả cho bà Cô khoản tiền cụ thể là bao nhiêu? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời 11

Câu 3: Thông tư trên có điều chỉnh việc thanh toán tiền trong trường hợp chuyển nhượng bất động sản như trong Quyết định số 15/2018/DS-GĐT không? Vì sao? 12

Câu 4: Đối với tình huống trong Quyết định số 15/2018/DS-GĐT, nếu giá trị nhà đất được xác định là 1.697.760.000đ như Tòa án cấp sơ thẩm đã làm thì, theo Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, khoản tiền bà Hường phải thanh toán cho cụ Bảng cụ thể là bao nhiêu? Vì sao? 13

Câu 5: Hướng như trên của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội có tiền lệ chưa? Nêu một tiền lệ (nếu có)? 13

Vấn đề 3: Chuyển giao nghĩa vụ theo thoả thuận 15

Câu 1: Điểm giống và khác nhau cơ bản giữa chuyển giao quyền yêu cầu và 15

chuyển giao nghĩa vụ theo thỏa thuận? 15

Câu 8: Kinh nghiệm của pháp luật nước ngoài đối với quan hệ giữa người có nghĩa vụ ban đầu và người có quyền 16

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 17

Trang 3

Vấn đề 1: Thực hiện công việc không có uỷ quyền

Câu 1: Thế nào là thực hiện công việc không có uỷ quyền?

Điều 574 BLDS 2015 quy định: “Thực hiện công việc không có ủy quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó vì lợi ích của người có công việc được thực hiện mà không dựa trên cơ

sở hợp đồng để thực hiện công việc đó khi người có công việc được thực hiện này không biết hoặc biết mà không phản đối”. Để xem một công việc là thực hiện công việc không có uỷ quyền thì phải thoả mãn ba điều kiện sau:

- Thứ nhất, người thực hiện công việc hoàn toàn không phải là nghĩa vụ do các bên thoả thuận hoặc do pháp luật quy định đối với người thực hiện công việc không có uỷ quyền

Ví dụ: thu dọn lúa, rơm của nhà hàng xóm khi hàng xóm vắng nhà mà cơn mưa đang kéo đến

- Thứ hai, việc thực hiện công việc đó vì lợi ích của người có công việc được thực hiện

- Thứ ba, người có công việc được thực hiện không biết hoặc biết mà không phản đối việc người khác đang thực hiện công việc cho mình hoặc biết nhưng không phản đối việc thực hiện công việc đó Tuy nhiên, ý nguyện của người thực hiện công việc không được trái pháp luật và trái đạo đức xã hội.1

Câu 2: Vì sao thực hiện công việc không có ủy quyền là căn cứ phát sinh nghĩa vụ?

Thực hiện công việc không có uỷ quyền là những sự kiện có thể xảy ra trong thực

tế, được pháp luật công nhận là có giá trị pháp lý thông qua các quy phạm pháp luật nhất định2 Khi xuất hiện sự kiện có thể khiến những quan hệ pháp luật dân sự phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt, từ đó nghĩa vụ giữa các bên chủ thể cũng được hình thành Mặc dù việc thực hiện công việc không có uỷ quyền không phát sinh từ thoả thuận giữa các bên nhưng để nâng cao tinh thần trách nhiệm và đồng thời cũng phải

1 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2021), Giáo trình Pháp luật về hợp đồng và bồi thường

thiệt hại ngoài hợp đồng (tái bản lần thứ 1, có sửa đổi và bổ sung), NXB Hồng Đức, tr 36.

2 Khoản 3 Điều 275 BLDS 2015 và từ Điều 574 đến Điều 578 BLDS 2015.

Trang 4

bảo đảm quyền lợi của người thực hiện công việc, pháp luật dân sự quy định nghĩa

vụ cho các bên: người thực hiện công việc và người có công việc được thực hiện

- Người thực hiện công việc không có uỷ quyền phải thực hiện công việc như công việc của chính mình; nếu biết hoặc đoán biết được ý định của người có công việc thì phải thực hiện công việc phù hợp với ý định đó; nếu bến có công việc được thực hiện có yếu cầu thì người thực hiện công việc không có

uỷ quyền phải báo về quá trình kết quả thực hiện công việc 3

- Người có công việc được thực hiện có nghĩa vụ tiếp nhận công việc, thanh toán các chi phí hợp lý mà người thực hiện công việc không có uỷ quyền đã

bỏ ra để thực hiện công việc, trả thù lao khi công việc được thực hiện chu đáo, có lợi cho mình, trừ trường hợp người thực hiện công việc không có uỷ quyền từ chối nhận thù lao.45

- Ngoài ra có quy định về căn cứ phát sinh nghĩa vụ dân sự là thực hiện công việc không có uỷ quyền Vì khi thực hiện cả hai bên là người thực hiện công việc và người có công việc được thực hiện phát sinh nghĩa vụ đối với nhau

Câu 3: Cho biết điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền”.

Điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về chế định “thực hiện công việc không có uỷ quyền.” là:

- Thứ nhất, theo khoản 4 Điều 595 BLDS 2005 quy định về nghĩa vụ của người người thực hiện công việc không có ủy quyền trong trường hợp người

có công việc được thực hiện chết chỉ có cá nhân “Trong trường hợp người

có công việc được thực hiện chết thì người thực hiện công việc không có ủy quyền phải tiếp tục thực hiện công việc cho đến khi người thừa kế hoặc người đại diện của người có công việc được thực hiện đã tiếp nhận.” Thì tới

khoản 4 Điều 575 BLDS 2015 đã mở rộng thêm quy định này, cụ thể nghĩa

vụ của người người thực hiện công việc không có ủy quyền trong trường hợp người có công việc được thực hiện chết bao gồm cả cá nhân và pháp

nhân“Trường hợp người có công việc được thực hiện chết, nếu là cá nhân hoặc chấm dứt tồn tại, nếu là pháp nhân thì người thực hiện công việc không

3 Điều 575 BLDS 2015.

4 Điều 576 BLDS 2015.

5 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2021), Giáo trình Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (tái bản lần thứ 1, có sửa đổi và bổ sung), NXB Hồng Đức, tr 37.

Trang 5

có ủy quyền phải tiếp tục thực hiện công việc cho đến khi người thừa kế hoặc người đại diện của người có công việc được thực hiện đã tiếp nhận” 6

 Việc mở rộng phạm vi chủ thể dẫn đến việc hình thành các quyền và nghĩa vụ của pháp nhân trong chế định “thực hiện công việc không có uỷ quyền.”

- Thứ hai, về mục đích thực hiện: Điều 594 BLDS 2005 quy định “hoàn toàn

vì lợi ích của người có công việc được thực hiện”, hoàn toàn là vì lợi ích của

người có công việc được thực hiện, không có mục đích khác Điều 574

BLDS 2015 thì quy định “thực hiện công việc đó vì lợi ích của người có công việc được thực hiện.”

 Thay đổi trên là hoàn toàn hợp lí vì trong thực tế, có nhiều trường hợp một người thực hiện công việc không có ủy quyền không chỉ hoàn toàn vì lợi ích của người có công việc được thực hiện mà còn để đảm bảo một phần lợi ích của bản thân

 Như vậy, chế định này tại BLDS 2015 đã có những điểm mới so với BLDS 2005

Mở rộng phạm vi chủ thể và mục đích có ý nghĩa rất quan trọng đối với xét xử trong thực tiễn

Câu 4: Các điều kiện để áp dụng chế định “thực hiện công việc không có uỷ quyền” theo BLDS 2015? Phân tích từng điều kiện.

Các điều kiện để áp dụng chế định “ thực hiện công việc không có ủy quyền” là:

- Có người có nhu cầu thực hiện công việc Nghĩa là phải có một người có công việc cần thực hiện (nếu không ai có công việc có nhu cầu được thực hiện thì chế định này không có ý nghĩa)

- Có người khác thực hiện công việc Để thực hiện công việc không có uỷ quyền thì phải có một “người thực hiện công việc” Trong trường hợp này

luật chỉ nêu “Người thực hiện công việc phù hợp với khả năng, điều kiện của mình”7 chứ không quy định về năng lực hành vi của người đó nên ai cũng có thể là người thực hiện công việc không có uỷ quyền

- Người thực hiện công việc không có nghĩa vụ phải thực hiện công việc đó (nghĩa vụ pháp lý hoặc do các bên thoả thuận) Nghĩa là nếu người thực hiện công việc không thể tiếp tục đảm nhận công việc thì phải báo cho người đại diện hoặc người thân của người có công việc thực hiện thay mình.8

6 Khoản 4 Điều 575 BLDS 2015.

7 Khoản 1 điều 575 BLDS 2015.

8 Điều 574 BLDS 2015.

Trang 6

- Vì lợi ích của người có công việc Chế định này chỉ có nghĩa khi người thực hiện công việc thực hiện công việc vì lợi ích của người có công việc, tức là nếu người thực hiện công việc thực hiện hoàn toàn vì lợi ích của mình hoặc người khác thì chế định này không có hiệu lực

- Người có công việc biết hoặc không biết mà không phản đối Nghĩa là người thực hiện công việc đó tự nguyện và việc thực hiện công việc này sẽ chấm dứt theo yêu cầu người có công việc hoặc bị phản đối

Câu 5: Quy định về “thực hiện công việc không có uỷ quyền” của một hệ thống pháp luật nước ngoài.

Điều 130 BLDS 1958 Hàn Quốc bổ sung, sửa đổi 2021 (Thực hiện công việc không

có ủy quyền):

“Người thực hiện không có ủy quyền giao kết hợp đồng với người thứ ba mà nếu người có công việc được thực hiện không công nhận hợp đồng đó thì hợp đồng đó không có hiệu lực đối với người có công việc được thực hiện.”

“Nếu người không có quyền đại diện giao kết hợp đồng với tư cách là đại diện của người khác, thì hợp đồng đó sẽ không có hiệu lực đối với bên giao đại diện, trừ khi được bên giao đại diện phê duyệt ”9

- Trong hệ thống pháp luật Hàn quốc, thực hiện công việc không có ủy quyền trái với thực hiện công việc có ủy quyền Người không có ủy quyền nên về mặt nguyên tắc cơ bản luật dân sự Hàn Quốc vô hiệu trừ trường hợp có “sự công nhận” của người có công việc được thực hiện, pháp luật Hàn Quốc quy định về “sự công nhận” của người có công việc được thực hiện như sau:

.

Điều 133 BLDS 1958 Hàn Quốc bổ sung, sửa đổi 2021 (hiệu lực của sự công nhận):

“Khi có sự công nhận của người có công việc được thực hiện và người có công việc được thực hiện không có ý kiến gì khác thì hợp đồng do người thực hiện công việc không có ủy quyền giao kết sẽ được coi có hiệu lực ngay từ khi người thực hiện công việc không có ủy quyền giao kết hợp đồng đó nhưng sự công nhận của người

có công việc được thực hiện không thể xâm phạm đến quyền của người thứ ba.” 10

9 Article 130 CIVIL ACT Korea 2021 (Unauthorized Representation) “If a person without power of

representation concludes a contract as an agent of another, such contract shall not be effective against the principal, unless it is ratified by the principal.”

10 Article 133 CIVIL ACT Korea 2021 (Effect of Ratification):

“In the absence of any declaration of intention to the contrary, ratification shall be effective retroactively as from the time the contract was entered: Provided, That the right of a third person shall not be prejudiced

Trang 7

- Về sự công nhận của người có công việc được thực hiện, “sự công nhận” của người có công việc được thực hiện có ý nghĩa là hành vi pháp lý Sau khi người thực hiện công việc không có ủy quyền thực hiện công việc thì người

có công việc được thực hiện sẽ có quyền từ chối hoặc công nhận hành vi thực hiện công việc của người thực hiện công việc không có ủy quyền Vì vậy, hợp đồng được thực hiện công việc không có ủy quyền có hiệu lực hay không có hiệu sẽ được xác định tùy vào “sự công nhận” của người có công việc được thực hiện, đây là một nguyên tắc cơ bản pháp luật hàn quốc để bảo

vệ người có công việc được thực hiện

Để bảo vệ người thứ ba, pháp luật Hàn Quốc đã cho người thứ ba ba quyền sau:

“quyền được hỏi”, “quyền rút lại”, “quyền yêu cầu trách nhiệm” Pháp luật Hàn Quốc quy định như sau:

Điều 131 BLDS 1958 Hàn Quốc bổ sung, sửa đổi 2021 (quyền hỏi của người thứ

ba): “Trường hợp người thực hiện công việc không có ủy quyền giao kết hợp đồng với người thứ ba thì người thứ ba có thể đặt ra một khoảng thời gian để hỏi người

có công việc được thực hiện về sự công nhận Nếu người có công việc được thực hiện không đưa ra câu trả lời xác định trong thời gian đó thì coi như từ chối.” 11

Điều 134 BLDS 1958 Hàn Quốc bổ sung, sửa đổi 2021 (Quyền rút lại của người thứ ba):

“Hợp đồng do người thực hiện công việc không có ủy quyền giao kết thì người thứ

ba có thể rút lại hợp đồng đối với người có công việc được thực hiện hoặc người thực hiện công việc không có ủy quyền đến khi có sự công nhận của người có công việc được thực hiện Tuy nhiên khi giao kết hợp đồng, người thứ ba biết rằng người thực hiện công việc không có ủy quyền không có ủy quyền thì người thứ ba không thể rút lại hợp đồng.” 12

thereby.”

11 Article 131 CIVIL ACT Korea 2021 (Right of Peremptory Notice of Other Party):

“In the case of a person without power of representation concluding a contract as an agent of another, the other party may give peremptory notice to the principal demanding a definite answer as to whether he ratifies the contract or not, within a period reasonably fixed by the other party If the principal does not send

a definite answer within such period, he is deemed to have refused to ratify.”

12 Article 134 CIVIL ACT Korea 2021 (Right of Withdrawal of Other Party)

“A contract made by a person without power of representation may be withdrawn in respect to the principal

or his agent by the other party, so long as it has not been ratified by the principal: Provided, That this shall

Trang 8

Điều 135 BLDS 1958 Hàn Quốc bổ sung, sửa đổi 2021 (trách nhiệm của người thực hiện công việc không có ủy quyền đối với người thứ ba):

1 Người thực hiện công việc không có ủy quyền không thể chứng minh được rằng mình được ủy quyền và người có công việc được thực hiện không công nhận thì người thực hiện công việc không có ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng đã giao kết hoặc bồi thường thiệt hại.

2 Người thứ ba biết hoặc có thể biết rằng người thực hiện công việc không có

ủy quyền không có ủy quyền thì không áp dụng Khoản 1 điều này trừ trường hợp người thực hiện công việc không có ủy quyền là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.” 13

 Vì vậy, hệ thống pháp luật Hàn Quốc bảo vệ quyền lợi của người có công việc được thực hiện hơn là người thực hiện công việc không có ủy quyền, không có điều khoản nào bảo vệ người thực hiện công việc không có ủy quyền như :

“Nghĩa vụ thanh toán của người có công việc được thực hiện được thực hiện

1 Người có công việc được thực hiện được thực hiện phải tiếp nhận công việc khi người thực hiện công

việc không có ủy quyền bàn giao công việc và thanh toán các chi phí hợp lý mà người

thực hiện công việc không có ủy quyền đã bỏ ra để thực hiện công việc, kể cả trường hợp công việc không đạt được kết quả theo ý muốn của mình.

2 Người có công việc được thực hiện được thực hiện phải trả cho người thực hiện công việc không có ủy quyền một khoản thù lao khi người này thực hiện công việc chu đáo, có lợi cho mình, trừ trường hợp người thực hiện công việc không có ủy quyền từ chối.” 14

not apply in a case where the other party was aware of the fact that such person had no such power when the contract was entered.”

13 Article 135 CIVIL ACT Korea 2021 (Responsibility of Unauthorized Agent to Other Party)

“(1)If a person who has made a contract as an agent of the other party can neither prove his/her authority nor get the principal to ratify the contract, he/she shall be liable to the other party, at the latter's option, either for the performance of the contract or for the compensation for damage or losses.

(2)Paragraph (1) shall not apply if the other party was aware, or should have been aware, that the person who has made a contract as an agent had no power of representation, or if the person who has made the contract as an agent was a person with limited capacity.”

14 Điều 576 BLDS 2015 Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Trang 9

 Như vậy, pháp luật Hàn Quốc không bảo vệ quyền của người thực hiện công việc không có ủy quyền khi họ có thiện chí muốn giúp đỡ người khác Nghĩa là, người dân Hàn Quốc khó có thể giúp đỡ người trong hoàn cảnh có nguy cơ ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe dù họ

có ý định muốn giúp đỡ

Câu 6: Trong tình huống nêu trên, sau khi xây dựng xong công trình, nhà thầu

C có thể yêu cầu chủ đầu tư A thực hiện những nghĩa vụ trên cơ sở các quy định của chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền” theo BLDS năm

2015 không? Vì sao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời:

Cơ sở pháp lý: Điều 574 BLDS 2015

Không thể yêu cầu chủ đầu tư A thực hiện những nghĩa vụ trên cơ sở các quy định của chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền” theo BLDS năm 2015 Vì:

- Nhà thầu C không tự nguyện thực hiện công việc mà có thông qua thoả thuận ( B ký hợp đồng với C) để thực hiện công việc xây dựng công trình

- Nhà thầu C không xây dựng công trình vì lợi ích của chủ đầu tư A mà là do lợi nhuận đã thoả thuận trong hợp đồng với B (nghĩa là khi xây xong công trình sẽ được thanh toán số tiền do hai bên đã thoả thuận trong hợp đồng)

- Nhà thầu C không biết mình sẽ làm việc cho A vì trong hợp đồng không nêu

rõ B đại diện A

Trang 10

Vấn đề 2: Thực hiện nghĩa vụ (thanh toán một khoản tiền)

Tóm tắt quyết định số 15/2018/DS-GĐT ngày 15/3/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội:

Chủ thể:

- Nguyên đơn: cụ Ngô Quang Bằng

- Bị đơn: bà Mai Thị Hương

Tranh chấp nghĩa vụ trả tiền trong hợp đồng chuyển nhượng nhà và quyền sử dụng

đất

Lý do tranh chấp: năm 1991, cụ Bằng chuyển nhượng căn nhà cấp bốn hai gian

cùng toàn bộ thửa đất 1.010 m2 cho bà Hương với giá 5.000.000 đồng Đến năm

1996, bà Hương chuyển nhượng toàn bộ nhà đất trên cho vợ chồng ông Chinh, bà Sáu trong khi chỉ mới thanh toán cho cụ Bằng 4.000.000 đồng (tức còn nợ cụ Bằng 1/5 giá trị nhà đất) mặc dù cụ đã nhiều lần đòi bà trả số tiền còn thiếu Cụ Bằng yêu cầu bà Hương phải thanh toán giá trị tiền còn nợ theo định giá tài sản của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên hoặc trả lại 1/5 diện tích đất bà Hương chưa thanh toán

Quyết định của Tòa án: Tòa sơ thẩm và phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu bồi

thường của cụ Bằng mà chỉ quyết định buộc bà Hương trả lại số tiền gốc là 1.000.000 đồng cộng với tiền lãi là 1.710.000 đồng Tòa giám đốc thẩm nhận định

bà Hương chỉ mới thanh toán được 4/5 giá trị nhà đất nên do đó, bà phải thanh toán 1/5 giá trị nhà đất còn lại cho cụ Bằng theo định giá thời điểm xét xử sơ thẩm mới bảo đảm được quyền lợi của nguyên đơn

Câu 1: Thông tư trên cho phép tính lại giá trị khoản tiền phải thanh toán như thế nào? Qua trung gian là tài sản gì?

Giá trị của các khoản tiền phải thanh toán khi đối tượng của nghĩa vụ tài sản là các khoản tiền, vàng được cho phép tính lại qua các trường hợp sau:

- Đối với trường hợp việc gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ dân sự trước 01/7/1996 và từ thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh NVDS đến thời điểm xét xử sơ thẩm, giá gạo tăng từ 20% trở lên thì Tòa án sẽ quy khoản tiền đó

ra khối lượng gạo theo giá cả gạo tại thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ, rồi tính số lượng gạo đó thành tiền theo giá gạo tại thời điểm xét xử

sơ thẩm để buộc bên có nghĩa vụ về tài sản phải thanh toán và chịu án phí theo số tiền đó Trường hợp gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ xảy ra sau ngày 1-7-1996 hoặc tuy xảy ra trước nhưng trong khoảng thời gian từ thời

Ngày đăng: 12/10/2022, 04:39

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức Bằng văn bản và phải thông báo cho bên có nghĩa vụ biết về việc   chuyển   quyền   để   tránh việc   bên   có   nghĩa   vụ   phải   từ chối   việc   thực   hiện   nghĩa   vụ đối   với   người   thế   quyền   hay thực hiện nghĩa vụ bổ sung, trừ t - HỢP ĐỒNG và bồi THƯỜNG THIỆT hại NGOÀI hợp ĐỒNG BUỔI THẢO LUẬN THỨ NHẤT NGHĨA vụ
Hình th ức Bằng văn bản và phải thông báo cho bên có nghĩa vụ biết về việc chuyển quyền để tránh việc bên có nghĩa vụ phải từ chối việc thực hiện nghĩa vụ đối với người thế quyền hay thực hiện nghĩa vụ bổ sung, trừ t (Trang 16)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w