1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Buổi thảo luận thứ nhất môn dân sự 2: Nghĩa vụ

12 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 538,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Buổi thảo luận thứ nhất NGHĨA VỤ VẤN ĐỀ 1 Thực hiện công việc không có ủy quyền Câu 1 Thế nào là thực hiện công việc không có ủy quyền? Câu 2: Vì sao thực hiện công việc không có ủy quyền là căn cứ phát sinh nghĩa vụ? Câu 3: Cho biết điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015 so với Bộ luật Dân sự năm 2005 về chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền”. Câu 4: Các điều kiện để áp dụng chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền” theo Bộ luật Dân sự năm 2015? Phân tích theo từng điều kiện. Câu 5: Trong tình huống trên, sau khi xây dựng xong công trình, nhà thầu C có thể yêu cầu chủ đầu tư A thực hiện những nghĩa vụ trên cơ sở các quy định của chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền” trong Bộ luật Dân sự năm 2015 không? Vì sao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời. VẤN ĐỀ 2: Thực hiện nghĩa vụ (thanh toán một khoản tiền) Câu 1: Thông tư trên cho phép tính lại giá trị khoản tiền phải thanh toán như thế nào? Qua trung gian là tài sản gì?

Trang 1

Buổi thảo luận thứ nhất: NGHĨA VỤ

VẤN ĐỀ 1: Thực hiện công việc không có ủy quyền

Câu 1: Thế nào là thực hiện công việc không có ủy quyền?

Trả lời:

Thực hiện công việc không có ủy quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết nhưng không phản đối1

Cơ sở pháp lý: Điều 574 Bộ luật Dân sự năm 2015

Câu 2: Vì sao thực hiện công việc không có ủy quyền là căn cứ phát sinh nghĩa vụ?

Trả lời:

Căn cứ làm phát sinh quan hệ nghĩa vụ dân sự là những sự kiện xảy ra trong thực tế, được pháp luật dân sự dự liệu, thừa nhận là có giá trị pháp lý, làm phát sinh quan hệ nghĩa vụ dân sự Hiện nay, theo Điều 275 Bộ luật Dân sự năm 2015

có 6 căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ

Theo đó, thực hiện công việc không có ủy quyền là căn cứ làm phát sinh nghĩa

vụ dân sự vì trong thực tế có các trường hợp thực hiện công việc không có ủy quyền được quy định tại Điều 275 Bộ luật Dân sự năm 2015:

“Nghĩa vụ phát sinh từ căn cứ sau đây:

3 Thực hiện công việc không có ủy quyền.”2

Việc quy định chế định này tạo nên sự ràng buộc pháp lý giữa người thực hiện công việc và người có công việc được thực hiện Đồng thời nâng cao tinh thần trách nhiệm, đảm bảo quyền lợi của người thực hiện công việc3 cũng như đối với người có công việc được thực hiện

Câu 3: Cho biết điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015 so với Bộ luật Dân sự năm 2005 về chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền”

Trả lời:

1 Điều 574 Bộ luật Dân sự năm 2015 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

2 Khoản 3 Điều 275 Bộ luật Dân sự năm 2015 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

3 Chế Mỹ Phương Đài, Giáo trình Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nxb Hồng

Đức - Hội luật gia Việt Nam 2017, Chương 1, trang 36-37

Trang 2

Nhìn chung, số lượng và nội dung các căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ là không

có sự thay đổi giữa hai Bộ luật Dân sự, trừ nội dung căn cứ phát sinh nghĩa vụ thực hiện công việc không có ủy quyền

+ Điều 594 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về căn cứ phát sinh nghĩa vụ

thực hiện công việc không có ủy quyền có nội dung như sau: “Thực hiện công việc

không có ủy quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng

đã tự nguyện thực hiện công việc đó, hoàn toàn vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối” Về phía

mình, Điều 574 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về căn cứ phát sinh nghĩa vụ

thực hiện công việc không có ủy quyền có nội dung như sau: “Thực hiện công việc

không có ủy quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng

đã tự nguyện thực hiện công việc đó vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối” Điều 574 Bộ luật Dân

sự năm 2015 gần như đã kế thừa toàn bộ quy định này từ Điều 594 Bộ luật Dân

sự năm 2005 chỉ có một khác biệt là quy định mới đã bỏ đi yếu tố “hoàn toàn”

trong vấn đề thực hiện công việc vì lợi ích của người có công việc4

Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định việc làm của người thực hiện công việc không có ủy quyền phải hoàn toàn vì lợi ích của người có công việc Bộ luật Dân

sự năm 2015 thì quy định chỉ cần thực hiện việc của người có công việc vì lợi ích của họ Ta thấy rằng Bộ luật Dân sự năm 2015 phù hợp với thực tiễn cuộc sống hơn Bởi vì trong thực tế hiếm có những công việc mà người thực hiện công việc hoàn toàn tự nguyện và hoàn toàn vì lợi ích của người có công việc

Việc loại bỏ điều kiện trên thực chất chỉ được ghi nhận trong quá trình chỉnh

lý Dự thảo tại Quốc hội và xuất phát từ thực tiễn xét xử áp dụng qui định này trong những lĩnh vực mang yếu tố tìm kiếm lợi nhuận5

+ Điều 595 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về Nghĩa vụ thực hiện công việc không có uỷ quyền:

“3 Người thực hiện công việc không có uỷ quyền phải báo cho người có công việc được thực hiện về quá trình, kết quả thực hiện công việc nếu có yêu cầu, trừ trường hợp người có công việc đã biết hoặc người thực hiện công việc không có uỷ quyền không biết nơi cư trú của người đó

4 Trong trường hợp người có công việc được thực hiện chết thì người thực hiện công việc không có uỷ quyền phải tiếp tục thực hiện công việc cho đến khi người thừa kế hoặc người đại diện của người có công việc được thực hiện đã tiếp nhận…”

4 Đỗ Văn Đại, Bình luận khoa học Những điểm mới của Bộ luật dân sự năm 2015, Nxb Hồng Đức - Hội Luật

gia Việt nam 2017 (xuất bản lần thứ ba), tr.286

5 Đỗ Văn Đại, Luật nghĩa vụ và bảo đảm thực hiện nghĩa vụ- Bản án và Bình luận bản án, Nxb Hồng Đức -

Hội Luật gia Việt nam 2017 (xuất bản lần thứ ba)

Trang 3

Còn Điều 575 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về nghĩa vụ thực hiện công

việc không có ủy quyền như sau:

“3 Người thực hiện công việc không có ủy quyền phải báo cho người có công việc được thực hiện về quá trình, kết quả thực hiện công việc nếu có yêu cầu, trừ trường hợp người có công việc đã biết hoặc người thực hiện công việc không có ủy quyền không biết nơi cư trú hoặc trụ sở của người đó

4 Trường hợp người có công việc được thực hiện chết, nếu là cá nhân hoặc chấm dứt tồn tại, nếu là pháp nhân thì người thực hiện công việc không có ủy quyền phải tiếp tục thực hiện công việc cho đến khi người thừa kế hoặc người đại diện của người có công việc được thực hiện đã tiếp nhận…”

+ Điều 598 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về chấm dứt thực hiện công việc không có ủy quyền :

“Việc thực hiện công việc không có ủy quyền chấm dứt trong các trường hợp sau đây ;

1 Theo yêu cầu của người có công việc được thực hiện ;

2 Người có công việc được thực hiện, người thừa kế hoặc người đại diện của người có công việc được thực hiện tiếp nhận công việc ;

3 Người thực hiện công việc không có ủy quyền không thể tiếp tục thực hiện công việc theo quy định tại khoản 5 Điều 595 của Bộ luật này ;

4 Người thực hiện công việc không có ủy quyền chết”

Còn Điều 578 Bộ luật Dân sự quy định về chấm dứt thực hiện công việc không

có ủy quyền như sau :

“Việc thực hiện công việc không có ủy quyền chấm dứt trong trường hợp sau đây ;

1 Theo yêu cầu của người có công việc được thực hiện

2 Người có công việc được thực hiện, người thừa kế hoặc người đại diện của người có công việc được thực hiện tiếp nhận công việc

3 Người thực hiện công việc không có ủy quyền không thể tiếp tục thực hiện công việc theo quy định tại khoản 5 Điều 575 của Bộ luật này

4 Người thực hiện công việc không có ủy quyền chết, nếu là cá nhân hoặc chấm dứt tồn tại, nếu là pháp nhân”

Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định chủ thể trong chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền” chỉ là cá nhân Còn Bộ luật Dân sự năm 2015 thêm một chủ thể nữa là pháp nhân Ta thấy rằng việc thêm chủ thể là pháp nhân là hoàn

Trang 4

toàn hợp lý vì trong xã hội ngày nay ngày càng có nhiều mối hệ phát sinh giữa các nhân và pháp nhân Việc thực hiện công việc không có ủy quyền của pháp nhân là hoàn toàn xảy ra trên thực tế Nếu không có quy định về pháp nhân thì không thể giải quyết các vụ việc liên quan đến pháp nhân

Câu 4: Các điều kiện để áp dụng chế định “thực hiện công việc không có

ủy quyền” theo Bộ luật Dân sự năm 2015? Phân tích theo từng điều kiện

Trả lời:

Điều 574 Bộ luật Dân sự năm 2015: Thực hiện công việc không có uỷ

quyền:“Thực hiện công việc không có uỷ quyền là việc một người không có nghĩa vụ

thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó, hoàn toàn vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối”

Như vậy, các điều kiện để áp dụng chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền” theo Bộ luật Dân sự là:

- Việc thực hiện công việc hoàn toàn không phải là nghĩa vụ dân sự do các bên thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định đối với người thực hiện công việc không

có ủy quyền

- Việc thực hiện công việc đó vì lợi ích của người có công việc được thực hiện, chứ không phải của người thực hiện công việc hoặc vì lợi ích của người thứ ba

- Người có công việc được thực hiện không biết việc có người khác đang thực hiện công việc cho mình hoặc biết nhưng không phản đối việc thực hiện công việc

đó

- Nếu công việc đó mà không được thực hiện ngay thì chắc chắn thiệt hại sẽ xảy ra cho người có công việc cần được thực hiện

Câu 5: Trong tình huống trên, sau khi xây dựng xong công trình, nhà thầu

C có thể yêu cầu chủ đầu tư A thực hiện những nghĩa vụ trên cơ sở các quy định của chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền” trong Bộ luật Dân sự năm 2015 không? Vì sao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời

Trả lời:

Trong tình huống trên nhà thầu C có thể yêu cầu chủ đầu tư A thực hiện những nghĩa vụ trên cơ sở các quy định của chế định “thực hiện công việc không

có ủy quyền”

Vì “trong cuộc sống không phải tường hợp nào một người thực hiện một dịch

vụ, một công việc có lợi cho người khác đều dựa trên cơ sở hợp đồng hoặc theo

Trang 5

cơ sở pháp luật”6 mà là vì lợi ích của người khác không dựa trên cơ sở hợp đồng

là bản chất của “thực hiện công việc không có uỷ quyền” Mà trong trường hợp này C thực hiện công việc đó hoàn toàn vì lợi ích của A và nếu công việc này không thực hiện thì có thể sẽ có thiệt hại xảy ra cho A

Cơ sở pháp lý: Điều 575 Bộ luật Dân sự năm 2015

“1 Người thực hiện công việc không có ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc phù hợp với khả năng, điều kiện của mình

2 Người thực hiện công việc không có ủy quyền phải thực hiện công việc như công việc của chính mình; nếu biết hoặc đoán biết được ý định của người có công việc thì phải thực hiện công việc phù hợp với ý định đó

3 Người thực hiện công việc không có ủy quyền phải báo cho người có công việc được thực hiện về quá trình, kết quả thực hiện công việc nếu có yêu cầu, trừ trường hợp người có công việc đã biết hoặc người thực hiện công việc không có ủy quyền không biết nơi cư trú hoặc trụ sở của người đó

4 Trường hợp người có công việc được thực hiện chết, nếu là cá nhân hoặc chấm dứt tồn tại, nếu là pháp nhân thì người thực hiện công việc không có ủy quyền phải tiếp tục thực hiện công việc cho đến khi người thừa kế hoặc người đại diện của người có công việc được thực hiện đã tiếp nhận

5 Trường hợp có lý do chính đáng mà người thực hiện công việc không có ủy quyền không thể tiếp tục đảm nhận công việc thì phải báo cho người có công việc được thực hiện, người đại diện hoặc người thân thích của người này hoặc có thể nhờ người khác thay mình đảm nhận việc thực hiện công việc.”

VẤN ĐỀ 2: Thực hiện nghĩa vụ (thanh toán một khoản tiền)

Câu 1: Thông tư trên cho phép tính lại giá trị khoản tiền phải thanh toán như thế nào? Qua trung gian là tài sản gì?

Trả lời:

Theo thông tưsố 01/TTLT ngày 19 tháng 6 năm 1997 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp, Bộ Tài chính hướng dẫn và thi hành án về tài sản và các quy định lien quân khác thì cáchtính lại giá trị khoản tiền phải thanh toán là:

- Nếu việc gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ dân sự xảy ra trước ngày

1-7-1996 và trong thời gian từ thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ đến thời điểm xét xử sơ thẩm mà giá gạo tăng từ 20% trở lên, thì Toà án quy đổi các

6 Chế Mỹ Phương Đài, Giáo trình Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nxb.Hồng

Đức - Hội Luật gia Việt nam 2017, Chương 1, tr.35-36

Trang 6

khoản tiền đó ra gạo theo giá gạo loại trung bình ở địa phương (từ đây trở đi gọi tắt là “giá gạo”) tại thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ, rồi tính số lượng gạo đó thành tiền theo giá gạo tại thời điểm xét xử sơ thẩm để buộc bên có nghĩa vụ về tài sản phải thanh toán và chịu án phí theo số tiền đó

- Nếu việc gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ xảy ra sau ngày 1-7-1996 hoặc tuy xảy ra trước ngày 1-7-1996, nhưng trong khoảng thời gian từ thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ đến thời điểm xét xử sơ thẩm mà giá gạo không tăng hay tuy có tăng nhưng ở mức dưới 20%, thì Toà án chỉ xác định các khoản tiền đó để buộc bên có nghĩa vụ phải thanh toán bằng tiền Trong trường hợp người có nghĩa vụ có lỗi thì ngoài khoản tiền nói trên còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm xét xử sơ thẩm

- Khoảng thời gian phải trả lãi tính từ ngày 20-3-1996 đến ngày 20-11-1996 là

8 tháng

- Mức lãi phải trả là mức lãi suất nợ quá hạn của loại vay trung hạn

- Đối với các khoản tiền tịch thu, tiền phạt, tiền án phí thì khi xét xử toà án chỉ quyết định mức tiền cụ thể mà không áp dụng cách tính đã hướng dẫn tại khoản 1 nói trên

- Đối với các khoản tiền vay, gửi ở tài sản Ngân hàng, tín dụng, do giá trị của các khoản tiền đó đã được bảo đảm thông qua các mức lãi suất do Ngân hàng Nhà nước quy định, cho nên khi xét xử, trong mọi trường hợp toà án đều không phải quy đổi các khoản tiền đó ra gạo, mà quyết định buộc bên có nghĩa vụ về tài sản phải thanh toán số tiền thực tế đã vay, gửi cùng với khoản tiền lãi, kể từ ngày khi giao dịch cho đến khi thi hành án xong, theo mức lãi suất tương ứng do Ngân hàng Nhà nước quy định

- Đối với các khoản vay có lãi (kể cả loại có kỳ hạn và loại không có kỳ hạn) ở ngoài tổ chức Ngân hàng, tín dụng, do giá trị của các khoản tiền đó cũng đã được bảo đảm thông qua việc chịu lãi của bên vay tài sản, cho nên trong mọi trường hợp toà án đều không phải quy đổi số tiền đó ra gạo, mà chỉ buộc người vay phải trả số tiền nợ gốc chưa trả cùng với số tiền lãi chưa trả

- Trong việc tính tiền lãi cần phân biệt các trường hợp như sau:

+ Đối với các hợp đồng vay tài sản giao kết trước ngày 1-7-1996 thì chỉ tính số tiền lãi chưa trả theo quy định của Bộ luật dân sự; đối với khoản tiền lãi đã trả thì không phải giải quyết lại

Trang 7

+ Đối với các hợp đồng vay tài sản giao kết từ ngày 1-7-1996 trở đi thì việc tính lãi phải tuân theo các quy định của Bộ luật dân sự, số tiền lãi đã trả cũng phải được giải quyết lại, nếu mức lãi suất mà các bên thoả thuận cao hơn mức lãi suất

- Qua vật trung gian là gạo

Câu 2: Đối với tình huống thứ nhất, thực tế ông Quới sẽ phải trả cho bà

Cô khoản tiền cụ thể là bao nhiêu? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời

Trả lời:

Đối với tình huống thứ nhất, thực tế ông Quới sẽ phải trả cho bà Cô khoản tiền được tính tròn số là 3.285.000đ Điều này được lý giải như sau: Vào năm 1973, giá gạo trung bình là 137đ/kg, với 50.000đ có thể mua được gần 365kg gạo Với lượng gạo đó tại thời điểm hiện tại sẽ có giá trị là 3.285.000đ (giá gạo trung bình hiện nay theo Sở tài chính Tp.HCM là 9000đ/kg)7

Cơ sở pháp lý: Điểm a Khoản 1 Mục I Thông tư số 01/TTLT ngày 16/9/1997

Câu 3: Thông tư trên có điều chỉnh việc thanh toán tiền trong hợp đồng chuyển nhượng bất động sản như trong Quyết định số 15/2018/DS-GĐT không? Vì sao?

Trả lời:

Thông tư trên không điều chỉnh việc thanh toán tiền trong hợp đồng chuyển nhượng bất động sản như trong Quyết định số 15/2018/DS-GĐT

Vì: Thông tư trên chỉ điều chỉnh nghĩa vụ tài sản là các khoản tiền, vàng (là các khoản tiền, tiền hoàn trả, tiền công, tiền lương, tiền truy thu thuế, tiền truy thu do thu lợi bất chính) và nghĩa vụ tài sản là hiện vật (hiện vật ở đây là động sản), chứ không nêu về việc điều chỉnh việc thanh toán tiền trong hợp đồng chuyển nhượng bất động sản8

Câu 4: Đối với tình huống trong Quyết định số 15/2018/DS-GĐT, nếu giá trị nhà đất được xác định là 1.697.760.000 như Tòa án cấp sơ thẩm đã làm thì, theo Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, khoản tiền bà Hường phải thanh toán cho cụ Bảng cụ thể là bao nhiêu? Vì sao?

Khoản tiền bà Hương phải thanh toán cho cụ Bảng là 339.552.000đ

Giá trị nhà đất theo định giá hiện tại là 1.697.760.000đ Bà Hương chỉ mới thanh toán 4.000.000đ/5.000.000đ, tức 4/5 giá trị tài sản Vì thế bà Hương phải

7

Thanh toán khoản tiền qua vật trung gian là gạo được điểu chỉnh trong Thông tư số 01/TTLT ngày 16/9/1997

8 Mục I, Mục II Thông tư số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ tài chính hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản

Trang 8

thanh toán 1/5 giá trị còn lại tại thời điểm hiện nay Có nghĩa là bà Hương phải thanh toán 1/5 trong 1.697.760.000đ

Câu 5: Hướng như trên của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội có tiền lệ chưa? Nêu một tiền lệ (nếu có)?

Trả lời:

Hướng giải quyết của Tòa án cấp cao tại Hà Nội đã có án lệ: Quyết định số 741/2011/DS-GĐT ngày 26/9/2011 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao Tóm tắt vụ án như sau: Ông Hoanh kí kết hợp đồng chuyển nhượng đất cho cho ông An với giá 500 triệu đồng Ông An chỉ giao 265 triệu đồng và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Hợp đồng được tiếp tục thực hiện Nhưng “ông

An phải thanh toán cho ông Hoanh số tiền nhận chuyển nhượng đất còn thiếu theo giá thị trường tại thời điểm xét sử sơ thẩm”

VẤN ĐỀ 3: Chuyển giao nghĩa vụ theo thỏa thuận

Câu 1: Điểm giống và khác nhau cơ bản giữa chuyển giao quyền yêu cầu

và chuyển giao nghĩa vụ theo thỏa thuận?

Trả lời:

Chuyển giao quyền yêu cầu Chuyển giao nghĩa vụ Giống

nhau

- Hình thức thực hiện: bằng văn bản, bằng lời nói hoặc bằng hành động trừ trường hợp pháp luật có quy định việc chuyển giao phải được lập thành văn bản, phải có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký, xin phép thì mới tuân thủ thực hiện theo quy định đó

- Không chuyển giao quyền, nghĩa vụ gắn với nhân thân

- Đều có sự tham gia của người thứ ba

- Chỉ được áp dụng đối với các quan hệ nghĩa vụ đang còn hiệu lực

- Hậu quả pháp lý: chấm dứt tư cách chủ thể của người chuyển giao, phát sinh tư cách chủ thể của người được chuyển giao

Khác

nhau

- Đối tượng: Người có quyền

là người chuyển giao

- Việc chuyển giao quyền yêu cầu không cần có sự đồng ý của

người có nghĩa vụ

- Về biện pháp bảo đảm: sau khi chuyển giao quyền yêu cầu,

- Đối tượng: Người có nghĩa vụ

là người chuyển giao

- Việc chuyển giao nghĩa vụ dân sự bắt buộc phải có sự đồng ý của bên có quyền

- Sau khi chuyển giao nghĩa vụ thì BPBĐ chấm dứt, trừ trường

Trang 9

BPBĐ vẫn duy trì

- Người chuyển giao quyền yêu cầu không phải chịu trách

nhiệm về khả năng thực hiện

nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ

- Người chuyển giao quyền yêu cầu phải báo cáo bằng văn

bản cho bên có nghĩa vụ về việc

chuyển giao quyền yêu cầu;

hợp có thỏa thuận khác;

- Trách nhiệm của người có nghĩa vụ ban đầu về việc thực hiện nghĩa vụ của người thế nghĩa

vụ không được quy định rõ;

- Người có nghĩa vụ dân sự không phải báo cáo bằng văn bản cho bên có quyền về việc chuyển giao nghĩa vụ dân sự

Câu 2: Thông tin nào của bản án cho thấy bà Phượng có nghĩa vụ thanh toán cho bà Tú?

Trả lời:

Trong phần xét thấy: “Theo lời khai của bà Tú thì chính bà Phương yêu cầu cho

Phượng vay tiền để kinh doanh cá khô xuất khẩu và bà đã vay tiền Ngân hàng cho Phượng vay tổng số tiền 615.000.000 Bà Phượng có làm biên bản xác nhận tiền với

bà Tú.” “ Theo các biên nhận tiền do phía bà Tú cung cấp thì chính bà Phượng là người trực tiếp nhận tiền của bà Tú vào năm 2003 với tổng số tiền 555.000.000đ và theo biên nhận ngày 27/4/2004 thì thể hiện bà Phượng nhận của bà Lê Thị Nhan

số tiền 615.000.000đ … Ngoài ra, cũng thei lời khai của bà Phượng thì vào tháng 4 năm 2004, do phía bà Loan, ông Thạnh và bà Ngọc không có tiền trả cho bà Tú nên

bà đã cùng bà Tú vay nóng bên ngoài để có tiền trả cho Ngân hàng Xác định bà Phượng là người xác lập quan hệ vay tiền với bà Tú.”9

Qua đó ta thấy bà Tú là bên có nghĩa vụ trả số tiền đã vay mượn của bà Tú

Câu 3: Đoạn nào của bản án cho thấy nghĩa vụ trả nợ của bà Phượng đã được chuyển sang cho bà Ngọc, bà Loan và ông Thạnh?

Trả lời:

Đoạn của bản án cho thấy nghĩa vụ trả nợ của bà Phượng đã được chuyển

sang cho bà Ngọc, bà Loan và ông Thạnh là: “Tuy nhiên, phía bà Tú đã chấp nhận

cho bà Phượng chuyển giao nghĩa vụ trả nợ cho bà Ngọc, bà Loan và ông Thạnh thể hiện qua việc bà Tú đã lập hợp đòng cho bà Ngọc vay số tiền 465.000.000đ và hợp đồng cho bà Loan, ông Thạnh vay số tiền 150.000.000 vào ngày 12/5/2005 Như vậy kể từ thời điểm bà Tú xác lập hợp đồng vay với bà Ngọc, bà Loan và ông Thạnh thì nghĩa vụ trả nợ vay của bà Phượng với bà Tú đã chấm dứt, làm phát sinh nghĩa

9 Bản án số 148/2007/DSST ngày 26/9/2007 của Tòa án nhân dân thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang

Trang 10

vụ của bà Ngọc, bà Loan và ông Thanh đối với bà Tú theo hợp đồng vay tiền đã đăng ký.”10

Câu 4: Suy nghĩ của anh/chị về đánh giá trên của Tòa án?

Trả lời:

Tôi hoàn toàn đồng ý với sự đánh giá trên của Tòa

Bởi lẽ:

Thứ nhất: Việc chuyển giao nghĩa vụ bắt buộc phải được bên có quyền đồng ý

(khoản 1 Điều 370 Bộ luật Dân sự năm 2015)

Bà Tú đã đồng ý việc chuyển nghĩa vụ trả nợ của bà Phượng cho bà Ngọc, bà Loan và ông Thạnh

Thứ hai, chuyển giao nghĩa vụ là sự thỏa thuận giữa người có nghĩa vụ trong

quan hệ nghĩa vụ với người thứ ba trên cơ sở có sự đồng ý của người có quyền nhằm chuyển nghĩa vụ cho người thứ ba đó Người thứ ba gọi là người thế nghĩa trở thành người thế nghĩa trở thành người nghĩa vụ theo yêu cầu của người có quyền trong phạm vi nghĩa vụ đã được xác định11

Theo bản án cho thấy có sự thỏa thuận giữa các bên Vừa bảo vệ quyền và lợi ích của người có quyền là bà Tú Bà Phượng là người trung gian giữa bên có quyền và bên có nghĩa vụ trả tiền

Câu 5: Nhìn từ góc độ văn bản, người có nghĩa vụ ban đầu có còn trách nhiệm đối với người có quyền không khi người thế nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ được chuyển giao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời

Trả lời:

Người có nghĩa vụ ban đầu không còn trách nhiệm đối với người có quyền khi người thế nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ được chuyển giao

Cơ sở pháp lý: Khoản 2 Điều 370 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì khi người thế nghĩa vụ sẽ trở thành bên có nghĩa vụ, và đương nhiên cũng là người chịu trách nhiệm nếu không thực hiện nghĩa vụ của mình

Câu 6: Nhìn từ góc độ quan điểm của các tác giả, người có nghĩa vụ ban đầu có còn trách nhiệm đối với người có quyền không khi người thế nghĩa

vụ không thực hiện nghĩa vụ được chuyển giao? Nêu rõ quan điểm của các tác giả mà anh/chị biết

Tra lơ i:

10 Bản án số 148/2007/DSST ngày 26/9/2007 của Tòa án nhân dân thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang

11 Giáo trình pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Trường Đại học Luật TP HCM,

NXB Hồng Đức, năm 2017, tr 62

Ngày đăng: 11/10/2022, 10:26

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w