TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ LÊ MINH THẮNG NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH, CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG VÀ KẾT QUẢ QUẢN LÝ ĐIỀU TRỊ BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH NGOÀI ĐỢT CẤP TẠI BỆNH VIỆN 30 THÁNG 4
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
LÊ MINH THẮNG
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH, CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG
VÀ KẾT QUẢ QUẢN LÝ ĐIỀU TRỊ BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH NGOÀI ĐỢT CẤP TẠI BỆNH VIỆN 30 THÁNG 4
TỈNH SÓC TRĂNG NĂM 2020 – 2021
LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA CẤP II
Cần Thơ, 2021
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
LÊ MINH THẮNG
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH, CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG
VÀ KẾT QUẢ QUẢN LÝ ĐIỀU TRỊ BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH NGOÀI ĐỢT CẤP TẠI BỆNH VIỆN 30 THÁNG 4
TỈNH SÓC TRĂNG NĂM 2020 – 2021
Chuyên ngành: Quản lý y tế
Mã số: 19280110846
LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA CẤP II
Người hướng dẫn khoa học:
Cần Thơ – 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi là Lê Minh Thắng, là học viên lớp Chuyên khoa II Quản lý y tế
2019-2021 của Trường Đại học Y Dược Cần Thơ, xin cam đoan:
1 Đây là luận văn do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn của Ts.Bs.Võ Phạm Minh Thư
2 Công trình này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đã được công bố tại Việt Nam
3 Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác, khách quan, trung thực và đã được xác nhận của cơ sở nơi nghiên cứu
Tôi xin chịu trách nhiệm về nội dung đề tài cũng như kết quả nghiên cứu luận văn của mình trước nhà trường và hội đồng chấm luận văn
Tác giả luận văn
Lê Minh Thắng
Trang 4Xin gửi lời các ơn sâu sắc và kính trọng đến Ts.Bs Võ Phạm Minh Thư đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành đề tài
Tôi luôn biết ơn tới sự giúp đỡ của các cơ quan đơn vị liên quan, người thân trong gia đình, đồng nghiệp đã luôn giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu
Tác giả luận văn
Lê Minh Thắng
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
Danh mục các hình ảnh, sơ đồ
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Đại cương về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính 3
1.2 Quản lý bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính giai đoạn ổn định 14
1.3 Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính 17
1.4 Các công trình nghiên cứu liên quan 19
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1 Đối tượng nghiên cứu 21
2.2 Phương pháp nghiên cứu 21
2.3 Đạo đức nghiên cứu 32
Chương 3 KẾT QUẢ 34
3.1 Đặc điểm chung đối tượng nghiên cứu 34
3.2 Tình hình BPTNMT ngoài đợt cấp 36
3.3 Đánh giá chất lượng cuộc sống bệnh nhân dựa trên thang điểm CAT 41
3.4 Đánh giá kết quả quản lý điều trị bệnh nhân BPTNMT 48
Trang 6Chương 4 BÀN LUẬN 54
4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 54 4.2 Tình hình bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính ngoài đợt cấp 55 4.3 Đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân trên thang điểm CAT 59 4.4 Đánh giá hiệu quả sau can thiệp quản lý và giáo dục sức khỏe 66
KẾT LUẬN 75 KIẾN NGHỊ 76 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Tiếng Việt:
đo triệu chứng khó thở của Hội đồng Nghiên cứu Y khoa MRC)
SABA Short-Acting Beta 2 Agonist (Thuốc kích thích thụ thể
Beta 2 tác dụng ngắn) SAMA Short -acting muscarinic antagonist (Thuốc kháng
muscarinic tác dụng ngắn) LABA Long-acting beta2-agonists (Thuốc cường beta 2 tác
dụng kéo dài) LAMA Long-acting muscarinic antagonist (Thuốc kháng
muscarinic tác dụng kéo dài) ICS Inhaled corticosteroid (Corticosteroid dạng hít)
Trang 8
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1: Mức độ tắc nghẽn đường thở theo GOLD 2018 13
Bảng 2.1: Bảng điểm mMRC 25
Bảng 2.2: Thang điểm CAT (COPD ASSESSMENT TEST) 28
Bảng 3.1: Phân bố BPTNMT theo nhóm tuổi 34
Bảng 3.2: Phân bố BPTNMT theo trình độ học vấn 35
Bảng 3.3: Phân bố BPTNMT theo nghề nghiệp 35
Bảng 3.4: Tình hình hút thuốc của bệnh nhân 37
Bảng 3.5 Tiền sử đợt cấp 38
Bảng 3.6: Tình hình sử dụng thuốc điều trị của bệnh nhân 38
Bảng 3.7: Đánh giá mức độ khó thở của bệnh nhân bằng thang điểm mMRC 41
Bảng 3.8: Thang điểm CAT cho triệu chứng ho 41
Bảng 3.9: Thang điểm CAT cho triệu chứng khạc đờm 42
Bảng 3.10: Thang điểm CAT cho triệu chứng nặng ngực 42
Bảng 3.11: Thang điểm CAT cho triệu chứng khó thở 43
Bảng 3.12: Thang điểm CAT cho hạn chế vận động 43
Bảng 3.13: Thang điểm CAT cho mức độ an tâm 44
Bảng 3.14: Thang điểm CAT cho giấc ngủ của bệnh nhân 44
Bảng 3.15: Thang điểm CAT cho sức khỏe của bệnh nhân 45
Bảng 3.16: Thang điểm CAT cho tất cả các triệu chứng 45
Bảng 3.17: Bảng thể hiện mối liên quan giữa CAT và giới tính, nhóm tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp 46
Bảng 3.18: Bảng thể hiện mối liên quan giữa CAT và tiền sử đợt cấp, giai đoạn bệnh, mMRC, nhóm ABCD 47
Trang 9Bảng 3.19: Bảng so sánh CAT trước và sau quản lý 48
Bảng 3.20: Bảng so sánh mức độ khó thở của bệnh nhân dựa trên thang điểm mMRC trước và sau quản lý 49
Bảng 3.21: Bảng so sánh kết quả về kiến thức trước và sau quản lý 50
Bảng 3.22: Bảng so sánh kết quả về thực hành trước và sau quản lý 51
Bảng 3.23: Bảng so sánh kết quả về thái độ trước và sau quản lý 52
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Phân bố BPTNMT theo giới tính 34
Biểu đồ 3.2: Lý do đến khám của bệnh nhân BPTNMT 36
Biểu đồ 3.3: Đánh giá mức độ tắc nghẽn đường thở 39
Biểu đồ 3.4: Phân bố bệnh nhân theo nhóm GOLD ABCD 40
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH, SƠ ĐỒ
Trang Hình 1.1: X-quang ngực thẳng và nghiêng của 2 bệnh nhân BPTNMT 11 Hình 1.2: Đánh giá BPTNMT theo nhóm ABCD 14
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ nghiên cứu 33
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là bệnh rất thường gặp, có xu hướng gia tăng
do sự già hóa dân số và bởi xuất hiện nhiều yếu tố nguy cơ Bệnh mạn tính tiến triển nặng dần theo thời gian, với các đợt cấp là các biến cố trong tiến trình của bệnh Đợt cấp của bệnh là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến suy hô hấp cấp khiến bệnh nhân phải nhập viện và tử vong Tỷ lệ tử vong của bệnh còn rất cao, nhiều
nghiên cứu cho thấy tỉ lệ tử vong trong đợt cấp giao động từ 16-80% [8], [11]
Theo tổ chức tế thế giới (WHO) thống kê và công bố thì bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là bệnh lý đứng thứ 3 trong tất cả các nguyên nhân gây tử vong và chiếm 6% tổng số bệnh tử vong trên toàn cầu [62] Dựa trên các nghiên cứu dịch
tễ học tỉ lệ mắc trên thế giới là 11,7% và khoảng 3 triệu ca tử vong hàng năm [1]
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân Trong nước và ngoài nước đã có những công trình nghiên cứu về vấn đề này như của Ahmed và cộng sự (2016) nghiên cứu về chất lượng cuộc sống của bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ở Ấn Độ cho thấy rằng chất lượng cuộc sống chung của bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là thấp [29] Ở nước ta, nghiên cứu của Tạ Hữu Duy (2011) đã ứng dụng bộ câu hỏi COPD Assesment Test (CAT) phiên bản tiếng Việt để đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, nghiên cứu cho thấy chất lượng cuộc sống của bênh nhân bị sụt giảm nghiêm trọng [6] Chất lượng cuộc sống thấp gây ra những hậu quả nặng nề cho bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
Điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính phải bao gồm điều trị đợt cấp và giai đoạn ổn định của bệnh Quản lý tốt bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính giai đoạn ổn định làm hạn chế xuất hiện các đợt cấp đồng thời nâng cao chất
Trang 13lượng cuộc sống, giúp bệnh nhân có thể hòa nhập với xã hội, giảm thiểu chi phí điều trị Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đức Thọ có sự giảm CAT trung bình từ 17,69 ± 5,87 xuống còn 16,14 ± 4,88, trung bình mMRC giảm từ 1,47 ± 1,07 xuống 1,17 ± 0,97 sau can thiệp [23] Chính vì những lợi ích đó, trong những năm gần đây, hệ thống các đơn vị quản lý bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính được thành lập ở các bệnh viện đa khoa nhằm chuẩn hóa tác tiêu chuẩn, tăng hiệu quả chẩn đoán và điều trị, nâng cáo chất lượng quản lý bệnh nhân ngoài đợt cấp Tuy nhiên, tầm quan trọng của điều trị đợt cấp luôn thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của các nhà khoa học, rất ít đề tài nghiên cứu đánh giá về việc quản lý bệnh ở giai đoạn ổn định Do đó, việc nhìn nhận hiệu quả quản lý bệnh nhân trong giai đoạn ổn định chưa được quan tâm đúng mức Chính vì thế, chúng tôi tiến hành
thực hiện nghiên cứu: “Nghiên cứu tình hình, chất lượng cuộc sống và kết
quả quản lý điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ngoài đợt cấp tại bệnh
viện 30 tháng 4 tỉnh Sóc Trăng năm 2020-2021” Với các mục tiêu sau:
1 Mô tả đặc điểm giai đoạn và phân nhóm bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính theo GOLD 2020 của bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ngoài đợt cấp tại bệnh viện 30 Tháng 4 tỉnh Sóc Trăng năm 2020-2021
2 Đánh giá chất lượng cuộc sống theo thang điểm CAT ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ngoài đợt cấp tại Bệnh viện 30 tháng 4 tỉnh Sóc Trăng năm 2020-2021
3 Đánh giá kết quả quản lý bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ngoài đợt cấp tại bệnh viện 30 Tháng 4 tỉnh Sóc Trăng dựa trên kiến thức, thái độ, thực hành về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Đại cương về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
1.1.1 Định nghĩa bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
Viện Huyết học, Tim mạch, Hô hấp Hoa Kỳ (National Heart, Lung and Blood Institute - NHLBI) phối hợp với WHO đề ra chương trình khởi động toàn cầu về phòng chống bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) viết tắt là GOLD
Từ đó, các định nghĩa về BPTNMT đã không ngừng được thay đổi dựa trên cập nhật các công trình nghiên cứu về bệnh sinh của bệnh GOLD thường xuyên cập nhật hướng dẫn chẩn đoán và điều trị BPTNMT Theo GOLD 2001, BPTNMT là một tình trạng bệnh lý đặc trưng bởi sự giảm lưu lượng thở không hồi phục Sự giảm lưu lượng thở này thường tiến triển và đi kèm đáp ứng viêm bất thường của phổi với các chất và khí độc hại [55]
Đến năm 2014, GOLD định nghĩa BPTNMT chi tiết hơn về sinh bệnh học đặc trưng bởi tắc nghẽn đường thở, tiến triển nặng dần, liên quan tới phản ứng viêm bất thường ở đường hô hấp bởi các phần tử và khí độc hại [40] GOLD
2017 định nghĩa BPTNMT là một bệnh thường gặp, dự phòng và điều trị được,
có đặc điểm là triệu chứng hô hấp và giới hạn luồng khí dai dẳng do bất thường
ở đường thở và/hoặc phế nang thường do phơi nhiễm với các phân tử hoặc khí độc [41]
GOLD 2020, về cơ bản định nghĩa về bệnh vẫn không thay đổi, chủ yếu có một số thay đổi trong việc không dùng thuốc, giá trị bạch cầu ái toan trong đánh giá hiệu quả sử dụng corticoid đường khí dung, xem xét các chẩn đoán có liên quan khi xác định đợt cấp và làm rõ hội chứng chồng lắp phế nang [42]
Trang 151.1.2 Dịch tễ học bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
BPTNMT là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật và tử vong trên thế giới dẫn đến gánh nặng kinh tế xã hội ngày càng gia tăng Dựa trên các nghiên cứu dịch tễ học, số ca mắc BPTNMT ước tính khoảng 385 triệu năm
2010, với tỉ lệ mắc trên thế giới là 11,7 %, và khoảng 3 triệu ca tử vong hàng năm [1]
1.1.2.1 Tình hình bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính trên thế giới
Trong nghiên cứu của tác giả R J Halbert (2006) về tỉ lệ lưu hành BPTNMT trên toàn cầu bằng việc tổng hợp và phân tích các bài báo cáo trong giai đoạn từ 1994 - 2004 có 37 nghiên cứu về BPTNMT với tỉ lệ lưu hành là 7,6% [58] Nghiên cứu tổng hợp của Winifred (2020) và cộng sự tỉ lệ BPTNMT tại Nepal trên 27 nghiên cứu cắt ngang mô tả là 1,67% - 14,3% [63] Nghiên cứu của nhóm cộng tác viên cấp nhà nước ở Ấn Độ về gánh nặng bệnh tật tiến hành
từ 1990 – 2016 thỉ lệ BPTNMT là từ 4,5% - 6,4%, số trường hợp mắc BPTNMT
Ấn Độ tăng từ 28,1 triệu ca vào năm 1990 lên 55,3 triệu ca vào năm 2016 [43] Nghiên cứu của Catherine E Rycroft và cộng sự về gánh nặng bệnh tật của BPTNMT tại 11 quốc gia Úc, Canada, Pháp, Đức, Ý, Nhật Bản, Hà Lan, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ, tiến hành từ 01/2000 đến 9/2010 bằng việc tổng hợp và phân tích dữ liệu của 2838 bài báo cáo trong đó có
299 bài báo toàn văn, các dữ liệu được trích từ 133 bài viết Tỷ lệ hiện mắc BPTNMT dao động từ 0,2% đến 37%, có sự khác nhau giữa các quốc gia, tỉ lệ mắc bệnh cao ở nam giới và những người trên 75 tuổi Tỉ lệ tử vong dao động từ 3-111 người trên 100.000 dân Tỉ lệ tử vong gia tăng trong 30 đến 40 năm qua Trong những năm gần đây trong khi tỉ lệ tử vong do bệnh ở nam giới có xu
Trang 16hướng giảm thì tỉ lệ này lại gia tăng ở nữ giới, điều này được các tác giả nghiên cứu cho thấy do gia tăng tỉ lệ phơi nhiễm với thuốc lá ở người phụ nữ [32] Tại Pháp theo nghiên cứu của Violaine Giraud và cộng sự cho thấy tỷ lệ hiện mắc được ước tính từ 1,0 đến 11,1% trong dân số nói chung Tỷ lệ tử vong trung bình từ năm 2000 đến 2002 là 84,3/100.000 ở nam và 19,1/100.000 ở nữ [61] Trong nghiên cứu của Sarah H Landis ước tính tỷ lệ hiện mắc và gánh nặng BPTNMT của 12 nước trên thế giới tỷ lệ mắc BPTNMT dao động từ 7 đến 12% [59] Nghiên cứu của tác giả Kokuvi Atsou về tỉ lệ mắc bệnh của BPTNMT ở khối Liên minh Châu Âu là từ 2,1% đến 26,1%, tỉ lệ khác nhau giữa ác quốc gia, nhóm tuổi và phương pháp chẩn đoán Tỉ lệ tử vong chung từ 7,2-36,1/100.000 dân [49] Một nghiên cứu khác cho thấy, tỉ lệ mắc BPTNMT thay đổi trên từng khu vực trên thế giới, với tỷ lệ hiện mắc cao nhất ở cả nam và nữ ở các khu vực
có thu nhập cao và tỷ lệ hiện mắc thấp nhất ở châu Phi cận Sahara và Nam Á Tuy nhiên tỉ lệ tử vong cao nhất ở Nam Á và thấp nhất ở châu Phi cận Sahara, cũng ở cả hai giới [38]
Nghiên cứu của tác giả Campos và cộng sự có một số kết luận rằng BPTNMT đã và đang là một vấn đề sức khỏe cộng đồng lớn và sẽ là một thách thức đối với ngành y tế trong thế kỷ 21 Tỉ lệ mắc chết của BPTNMT cao tạo ra những thách thức trong hệ thống chăm sóc sức khỏe của các quốc gia [47] Nghiên cứu của tác giả Danielssonở Uppsala, Thụy Điển thấy tỷ lệ mắc BPTNMT là 16,2% trong đó có 29% người bệnh đã được chẩn đoán trước đó [57] Jan Zejda (2016) cho biết tỷ lệ mắc BPTNMT ở người 40 tuổi trở lên tại Ba Lan là 10% [46]
M Sh Badway (2016) nghiên cứu ở Ai Cập trên 2.400 đối tượng 40 tuổi trở lên thấy tỷ lệ mắc BPTNMT là 6,6% [53] Theo nghiên cứu của tác giả Bifan
Trang 17và cộng sự thực hiện tại Trung Quốc về BPTNMT cho thấy tỷ lệ hiện mắc được báo cáo dao động trong khoảng 1,20% đến 8,87% Tỷ lệ mắc ở nam cao hơn (7,76%) so với nữ (4,07%) Bệnh phổ biến ở nông thôn (7,62%) hơn ở thành thị (6,09%) Tỷ lệ chẩn đoán bệnh nhân BPTNMT ở Trung Quốc dao động từ 23,61% đến 30,00% Tỷ lệ bệnh nhân BPTNMT được điều trị ngoại trú là khoảng 50%, trong khi tỷ lệ nhập viện dao động trong khoảng 8,78% đến 35,60% [30]
Nghiên cứu của tác giả Frederik Van Gemert (2015) ở vùng nông thôn Uganda tỷ lệ mắc BPTNMT là 16,2% [37] Devan Jaganath nghiên cứu BPTNMT ở Peru, tác giả thấy tỷ lệ mắc ở người 35 tuổi trở lên khoảng 6% [36]
Tại Thái Lan cho thấy tỷ lệ hiện mắc chung là 6,8% [34]
1.1.2.2 Tình hình bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại Việt Nam
Ở Việt Nam nghiên cứu về dịch tễ học của BPTNMT năm 2009 cho thấy tỉ
lệ mắc ở người >40 tuổi là 4,2%, tỉ lệ mắc bệnh ở nam giới là 7,1% và nữ giới là 1,9%, tỉ lệ mắc bệnh tăng theo lứa tuổi [22] Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Quỳnh Loan và Ngô Quý Châu nhận thấy tỷ lệ mắc BPTNMT trong cộng đồng dân cư Phường Khương Mai, Quận Thanh Xuân, Hà Nội là 1,53% [3] Tiếp xúc khói thuốc lá, thuốc lào, bụi nghề nghiệp là những nguyên nhân hàng đầu gây BPTNMT ở Việt Nam Có thể nhận thấy: tỷ lệ mắc BPTNMT thay đổi khá nhiều (từ 1,53% đến 10%) Tỷ lệ mắc bệnh ở nam giới cao hơn so với nữ giới Bên cạnh đó, còn một tỷ lệ không nhỏ các bệnh nhân bị bỏ sót chẩn đoán [27], [28] Các công trình nghiên cứu của tác giả Lê Thị Tuyết Lan và nhóm nghiên cứu của Hội Hô Hấp Châu Á Thái Bình Dương đã tính toán tần suất mắc BPTNMT trung bình và nặng của người Việt Nam trên 35 tuổi là 6,7%, cao nhất khu vực [14] Nghiên cứu tại khoa hô hấp bệnh viện Bạch Mai mắc BPTNMT
Trang 18chiếm 25,1%; tỷ lệ nam/nữ là 2,13 [2] Ngô Quý Châu (2006) nghiên cứu đối tượng trên 40 tuổi tại Hải Phòng, tỷ lệ mắc BPTNMT chiếm 5,65% (nam 7,91%
và nữ 3,63%) [4]
Nghiên cứu của tác giả Phạm Huy Quyến và cộng sự về tỉ lệ BPTNMT của người trên 40 tuổi tại Tiên Lãng, Hải Phòng cho thấy tỷ lệ mắc chung cho hai giới là 6,1%, nam mắc 7,34%; nữ mắc 4,91% [21] Tác giả Nguyễn Viết Nhung
và cộng sự thực hiện nghiên cứu trên 1.506 người không hút thuốc từ 40 tuổi trở lên ở Việt Nam và Indonesia cho thấy tỷ lệ mắc BPTNMT là 6,9% trong đó nam mắc 12,9% và nữ mắc 4,4% Tỷ lệ mắc tại Việt Nam là 8,1 Chỉ có 6% số người
bệnh đã được chẩn đoán mắc BPTNMT từ trước [56]
Nghiên cứu của Phan Thu Phương và cộng sự ở người từ 40 tuổi trở lên tại Lạng Giang, Bắc Giang, tỷ lệ mắc BPTNMT là 3,85% (nam 6,92% và nữ 1,42%) [19] Nghiên cứu của tác giả Chu Thị Hạnh về BPTNMT ở một số nhà máy công nghiệp tại Hà Nội cho thấy tỷ lệ mắc của của công nhân từ 40 tuổi trở lên là 3% [10] Nghiên cứu của tác giả Hoàng Thị Lâm và cộng sự về tỷ lệ mắc BPTNMT
ở Hoàn Kiếm và Ba Vì, Hà Nội cho thấy tỷ lệ mắc BPTNMT ở người từ 23 đến
72 tuổi chiếm 7,1% (nam 10,9% và nữ 3,9%), tỷ lệ mắc bệnh tăng theo tuổi, có hút thuốc [15] Nghiên cứu của tác giả Phùng Chí Lĩnh và cộng sự về BPTNMT
ở Hưng Yên ở đối tượng từ 40 tuổi trở lên cho thấy tỷ lệ mắc BPTNMT tại
huyện Ân Thi là 3,6% và thành phố Hưng Yên là 3,4% [17]
1.1.3 Yếu tố liên quan
Yếu tố nguy cơ quan trọng nhất với BPTNMT là hút thuốc, ngoài ra các yếu tố như bụi, hóa chất nghề nghiệp, ô nhiễm môi trường không khí cũng đóng vai trò quan trọng Các yếu tố nội sinh như thiếu hụt men antitrypsin, hen phế quản cũng liên quan đến BPTNMT [28]
Trang 191.1.3.1 Yếu tố ngoại sinh (môi trường)
Khói thuốc: hút thuốc là nguyên nhân hàng đầu gây nên BPTNMT, rất nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới đặc biệt quan tâm đến mối liên quan giữa hút thuốc với BPTNMT Bill B Brashier (2012) cho biết người hút thuốc 10 B-N thì 50% phát triển thành BPTNMT [31], [ 60]
Ô nhiễm môi trường: tiếp xúc với nhiều bụi và hóa chất nghề nghiệp, ô nhiễm không khí trong và ngoài nhà là một trong nhưng nguyên nhân dẫn đến BPTNMT tương tự như việc hút thuốc lá [50] Nghiên cứu của Nadia N Hasel (2016) lại cho thấy ô nhiễm không khí ngoài nhà liên quan đến giảm chức năng phổi và tăng các triệu chứng hô hấp, mặt khác còn liên quan đến đợt cấp và tỷ lệ chết ở người mắc BPTNMT [54]
Nhiễm trùng đường hô hấp: nhiễm trùng đừng hô hấp thời kỳ niên thiếu có liên quan chặt chẽ tới sự suy giảm chức năng phổi và làm gia tăng các triệu chứng hô hấp khi trưởng thành Nhiễm trùng đường hô hấp ở trẻ em dưới 8 tuổi gây tổn thương lớp tế bào biểu mô đường hô hấp và cấc tế bào lông chuyển, làm giảm khả năng chống đỡ của phổi Nhiễm virus, đặc biệt virus hợp bào hô hấp có nguy cơ làm tăng tính phản ứng phế quản, làm cho bệnh phát triển
Khí hậu: người ta nhận thấy có mối liên quan giữa khí hậu với các bệnh hô hấp, đặc biệt thời tiết lạnh hoặc thay đổi thời tiết một cách đột ngột Đây là một trong nhưng yếu tố thúc đẩy đợt cấp của bệnh Nghiên cứu của tác giả Gennaro D’Amato cho biết sự biến đổi khí hậu những năm gần đây làm gia tăng các bệnh đường hô hấp, tăng tỷ lệ tử vong nhất là ở người mắc BPTNMT [39]
Trang 201.1.3.2 Yếu tố nội sinh
Thiếu hụt α1-antitrypsin là yếu tố nguy cơ của BPTNMT về gen đã được biết tới [33]
Giới tính và tuổi: BPTNMT gặp nhiều ở người tuổi cao, giới nam gần đây thì tỷ lệ mắc tăng ở nữ và kèm theo tỷ lệ tử vong do BPTNMT
ở nữ tăng nhanh hơn so với nam [42]
Ho, khạc đờm kéo dài không do các bệnh phổi khác như lao phổi, giãn phế quản là triệu chứng rất thường gặp Lúc đầu có thể chỉ có ho ít, ngắt quãng, sau
đó ho dai dẳng hoặc ho hàng ngày (ho kéo dài ít nhất 3 tháng trong 1 năm và trong 2 năm liên tiếp), có thể ho khan hoặc ho có đờm, thường khạc đờm về buổi sáng Ho đờm mủ là một trong các dấu hiệu của đợt cấp do bội nhiễm [35], [ 52] Khó thở: tiến triển nặng dần theo thời gian, lúc đầu chỉ có khó thở khi gắng sức, sau đó khó thở cả khi nghỉ ngơi và khó thở liên tục Khó thở tăng lên khi gắng sức hoặc nhiễm trùng đường hô hấp Các triệu chứng ho khạc đờm, khó thở dai dẳng và tiến triển nặng dần theo thời gian [35], [ 52]
Khám lâm sàng:
- Giai đoạn sớm của bệnh khám phổi có thể bình thường Cần đo chức năng thông khí ở những đối tượng có yếu tố nguy cơ và có triệu chứng [1]
Trang 21- Giai đoạn nặng hơn khám phổi thấy rì rào phế nang giảm, có thể có ran rít, ran ngáy, ran ẩm, ran nổ [1]
- Giai đoạn muộn có thể thấy những biểu hiện của suy hô hấp mạn tính
1.1.5 Cận lâm sàng bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
1.1.5.1 Đo chức năng thông khí phổi
Đo chức năng thông khí (CNTK) phổi: kết qủa đo CNTK phổi là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán xác định và đánh giá mức độ tắc nghẽn đường thở của bệnh nhân BPTNMT Đo CNTK dùng để chẩn đoán xác định và theo dõi BPTNMT
Để giúp phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm cần đo CNTK cho tất cả đối tượng có triệu chứng cơ năng hô hấp như ho, khạc đờm mạn tính, khó thở hoặc có tiền sử
tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ [1], [44]
Ở người mắc BPTNMT đo CNTK có thể thấy FEV1 giảm, mức độ giảm tuỳ theo mức độ nặng của bệnh; FVC giai đoạn đầu có thể bình thường nhưng
sẽ giảm khi bệnh tiến triển nặng; thể tích khí cặn (RV) tăng lên Chỉ số FEV1/FVC < 70% và đây cũng là yếu tố xác định chẩn đoán BPTNMT Khảo sát đường cong lưu lượng thể tích để phân biệt rối loạn thông khí tắc nghẽn với rối loạn thông khí hạn chế Đường cong lưu lượng thể tích giúp xác định
vị trí tắc nghẽn đường thở, nếu giảm phần xa của đường biểu diễn thở ra là tắc nghẽn đường thở nhỏ, nếu giảm toàn bộ đường biểu diễn thở ra là tắc nghẽn
Trang 22- X-quang phổi giúp phát hiện một số bệnh phổi đồng mắc hoặc biến chứng của BPTNMT như: u phổi, giãn phế quản, lao phổi, xơ phổi tràn khí màng phổi, suy tim, bất thường khung xương lồng ngực, cột sống [1]
Hình 1.1: X-quang ngực thẳng và nghiêng của 2 bệnh nhân BPTNMT
(Nguồn: Bệnh học Nội khoa, Ngô Quý Châu [5])
1.1.5.3 Chụp cắt lớp vi tính ngực lớp mỏng 1mm độ phân giải cao (HRCT)
Giúp phát hiện tình trạng giãn phế nang, bóng kén khí, phát hiện sớm ung thư phổi, giãn phế quản… đồng mắc với BPTNMT Đồng thời đánh giá cấu trúc, tái tưới máu của phổi một cách hiệu quả [48]
1.1.5.4 Một số cận lâm sàng khác hỗ trợ chẩn đoán và điều trị
- Điện tâm đồ
- Siêu âm tim
- Đo độ bão hòa oxy qua da (SpO2) và khí máu động mạch
- Đo thể tích khí cặn, dung tích toàn phổi
- Đo khuếch tán khí (DLCO)
- Đo thể tích ký thân
1.1.6 Chẩn đoán và đánh giá bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
Chẩn đoán: BPTNMT được xem xét trong tất cả đối tượng có
khó thở, ho hoặc khạc đờm mạn tính, và trong tiền sử có phơi nhiễm với các yếu tố nguy cơ Chẩn đoán xác định BPTNMT bằng kết quả đo CNTK, khi
Trang 23chỉ số Gaensler (FEV1/FVC) < 70% sau test hồi phục phế quản Đánh giá mức độ tắc nghẽn đường thở dựa vào chỉ số FEV1% so với trị số lý thuyết [1] Phân loại giai đoạn BPTNMT để đánh giá mức độ nặng, tình trạng sức khỏe của người bệnh và các nguy cơ trong tương lai Bảng câu hỏi thường được sử dụng để lượng giá tình trạng lâm sàng của BPTNMT như thang điểm CAT (COPD Assessment Test), bảng câu hỏi đánh giá tình trạng khó thở mMRC (Modified British Medical Research Council) CAT là công cụ đơn giản, dễ sử dụng trong giao tiếp giữa người bệnh và thầy thuốc trong khi thăm khám bệnh, giúp thầy thuốc lâm sàng đưa ra những quyết định và quản lý phù hợp [1]
Đánh giá triệu chứng và ảnh hưởng của bệnh
Công cụ để đánh giá triệu chứng và sự ảnh hưởng của bệnh lên tình trạng sức khỏe của người bệnh:
- Bộ câu hỏi sửa đổi của Hội đồng nghiên cứu y khoa Anh (mMRC): gồm 5 câu hỏi với điểm cao nhất là 4, điểm càng cao thì mức độ khó thở càng nhiều mMRC < 2 được định nghĩa là ít triệu chứng, mMRC ≥ 2 được định nghĩa là nhiều triệu chứng [1]
- Bộ câu hỏi CAT (phụ lục 2) gồm 8 câu hỏi, tổng điểm 40, điểm càng cao thì ảnh hưởng của bệnh tới tình trạng sức khỏe của bệnh nhân càng lớn CAT < 10 được định nghĩa ít triệu chứng, ít ảnh hưởng, CAT ≥ 10 được định nghĩa ảnh hưởng của bệnh nhiều [1]
Trang 24Đánh giá mức độ tắc nghẽn đường thở
Bảng 1.1: Mức độ tắc nghẽn đường thở theo GOLD 2018
Giai đoạn 1 FEV1 ≥ 80% trị số lý thuyết Giai đoạn 2 50% ≤ FEV1 < 80% trị số lý thuyết Giai đoạn 3 30% ≤ FEV1< 50% trị số lý thuyết Giai đoạn 4 FEV1 < 30% trị số lý thuyết
Đánh giá nguy cơ đợt cấp
Dựa vào tiền sử đợt cấp trong năm trước (số đợt cấp và mức độ nặng của đợt cấp) Số đợt cấp/năm: 0-1 (đợt cấp nhẹ không phải nhập viện, không sử dụng kháng sinh và/hoặc corticosteroid) được định nghĩa là nguy cơ thấp Số đợt cấp ≥
2 hoặc có từ 1 đợt cấp nặng phải nhập viện hoặc đợt cấp mức độ trung bình phải
sử dụng kháng sinh và/hoặc corticosteroid được định nghĩa là nguy cơ cao
Đánh giá bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính theo nhóm ABCD chủ yếu dựa vào:
- Mức độ triệu chứng, ảnh hưởng của bệnh (mMRC, CAT)
- Nguy cơ đợt cấp (tiền sử đợt cấp/năm, mức độ nặng đợt cấp)
Trang 25Hình 1.2: Đánh giá BPTNMT theo nhóm ABCD
Đợt cấp của BPTNMT biểu hiện bởi tình trạng xấu đi của các triệu chứng hô hấp làm mức độ tắc nghẽn trở lên trầm trọng hơn Đợt cấp phải nằm viện liên quan đến tiên lượng và nguy cơ tử vong
1.1.7 Các kiểu hình bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
- Kiểu hình viêm phế quản mạn tính chiếm ưu thế
- Kiểu hình khí phế thũng chiếm ưu thế
- Kiểu hình đợt cấp thường xuyên
- Kiểu hình giãn phế quản
- Kiểu hình chồng lấp BPTNMT - Hen (ACO)
1.2 Quản lý bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính giai đoạn ổn định
Theo GOLD 2020, bệnh nhân BPTNMT nên được đánh giá tình trạng tắc nghẽn đường thở, triệu chứng, tiền sử đợt cấp, bệnh đồng mắc, nguy cơ tiếp xúc
Trang 26khói bụi Tiếp cận ban đầu trong điều trị nên bắt đầu điều trị dựa trên triệu chứng
và nguy cơ đợt cấp Việc điều trị có thể linh động lên thang và xuống thang dựa trên triệu chứng khó thở (CAT và mMRC), hoạt động thể lực bị giới hạn và tần suất đợt cấp xuất hiện khi điều trị duy trì [1], [40]
Sau đánh giá ban đầu nên hướng dẫn bệnh nhân thực hiện một số nội dung:
- Ngừng tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ
- Cai nghiện thuốc lá, thuốc lào
- Tiêm vắc xin phòng nhiễm trùng đường hô hấp: nhiễm trùng đường hô hấp được xem là một yếu tố nguy cơ thúc đẩy đợt cấp nặng và dẫn đến tử vong Tiêm phòng vắc xin cúm vào đầu mùa thu và tiêm nhắc lại hàng năm cho đối tượng mắc BPTNMT Tiêm phòng vắc xin phế cầu mỗi 5 năm 1 lần được khuyến cáo ở bệnh nhân BPTNMT giai đoạn ổn định
- Phục hồi chức năng hô hấp
- Vệ sinh mũi họng thường xuyên
- Giữ ấm cổ ngực về mùa lạnh
- Phát hiện sớm và điều trị kịp thời các nhiễm trùng hô hấp trên
- Phát hiện và điều trị các bệnh đồng mắc
- Liệu pháp dinh dưỡng
- Duy trì các bài tập hoạt động thể lực phù hợp
- Liệu pháp thở oxy dài hạn
- Điều trị dùng thuốc phù hợp với từng giai đoạn bệnh:mô hình điều trị ban đầu bằng thuốc cần cá thể hóa theo đánh giá ABCD (đợt cấp và triệu chứng) Hiện tại không có mô hình và thử nghiêm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng khi dùng thuốc ban đầu trong chiến lược điều trị cho bệnh nhân BPTNMT khi mới chẩn đoán, tuy nhiên trong một sô nghiên cứu quan sát ghi nhận hiệu quả ICS/LABA
Trang 27hơn LAMA/LABA khi tiền sử có nhiều đợt cấp và bạch cầu ái toan trong máu
>300 tế bào/μL
- Nâng cao kiến thức, thái độ và thực hành của bệnh nhân BPTNMT:
BPTNMT có xu hướng gia tăng trên toàn cầu, với tính chất diễn biến âm thầm và thường xuất hiên sau 40 tuổi, nên việc phát hiện và điều trị bệnh rất quan trọng, tuy nhiên làm thế nào để phòng tránh bệnh và phòng tránh đợt cấp nếu đã mắc bệnh mới là vấn đề then chốt
Vấn đề phòng và phát hiện sớm có liên quan mật thiết tới kiến thức về BPTNMT không chỉ của nhân viên y tế mà quan trọng là toàn dân Kiến thức đúng sẽ có thái độ phòng chống tốt, không những vậy còn có những biện pháp thực hành và hành vi đúng đắn về bệnh Nhiều công trình nghiên cứu nhận thấy kiến thức của người dân về bệnh còn rất hạn chế Đinh Ngọc Sỹ nghiên cứu kiến thức, thái độ và thực hành (KAP) về BPTNMT cho thấy có tới 95,7% đối tượng chưa từng nghe thấy tên bệnh, 4,3% đối tượng đã biết đến tên bệnh thì hiểu biết
về nguyên nhân cũng như biện pháp phòng chống bệnh còn rất kém Về triệu chứng của bệnh thì 45,2% số người cho là bệnh có ho; 32,7% có khạc đờm; 42,7% có khó thở Về nguyên nhân gây nên BPTNMT thì 61,3% số đối tượng ho
rằng hút thuốc là nguyên nhân của bệnh [22]
Kiến thức về bệnh của bệnh nhân BPTNMT còn thấp ảnh hưởng rất nhiều tới thái độ, thực hành và thay đổi hành vi về bệnh Mặc dù hút thuốc là nguyên nhân chính gây nên BPTNMT, tuy nhiên những người hút thuốc chưa chắc đã biết điều này Jae Yong Seo (2015) phỏng vấn trực tiếp 289 đối tượng tại 3 trung tâm cai thuốc tại Hàn Quốc cho thấy chỉ có 1,0% số đối tượng biết rằng BPTNMT là một bệnh hô hấp; 2,4% các đối tượng đã được chẩn đoán BPTNMT
và được điều trị Tác giả thấy nhận thức của những người hút thuốc về BPTNMT
Trang 28là rất kém Nhiều người hút thuốc cho rằng tình trạng sức khỏe của họ tốt bất chấp sự hiện diện của các triệu chứng liên quan đến BPTNMT Do vậy cần phải nâng cao nhận thức về căn bệnh này và thúc đẩy người nghiện cai thuốc [45] Nhiều biện pháp thực hành áp dụng cho người mắc BPTNMT như phục hồi chức năng (PHCN) hô hấp, cai thuốc, chế độ rèn luyện sức khỏe, chế độ
ăn hợp lý, thực hành sử dụng thuốc… Thuốc điều trị BPTNMT chủ đạo là thuốc giãn phế quản, do bệnh có đặc điểm là tắc nghẽn đường thở không hồi phục hoàn toàn, việc sử dụng thuốc giãn phế quản áp dụng trong suốt thời gian của bệnh, ngay cả giai đoạn ổn đinh Thực hành đúng các bước sử dụng thuốc dạng hít sẽ làm tăng hiệu quả của thuốc, tiết kiệm chi phí Nghiên cứu của tác giả Souza ML thực hiện trên 60 người mắc BPTNMT về sử dụng thuốc giãn phế quản dạng hít cho thấy 94,2% người bệnh thực hành sai ít nhất một lỗi [51]
1.3 Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
Chất lượng cuộc sống (CLCS) được định nghĩa như như là nhận thức của mỗi cá thể về vị trí của họ trong cuộc sống về mặt văn hóa và hệ thống giá trị Tổ chức Y tế thế giới đã đưa ra một số tiêu trí chất lượng cuộc sống bao gồm 3 tiêu chí lớn đó là sảng khoái về thể chất, tâm thần và xã hội Trong đó sảng khoái về thể chất bao gồm: sức khỏe, ăn uống, ngủ nghỉ, đi lại, thuốc men y tế Sảng khoái về tâm thần bao gồm: yếu tố tâm linh và tâm lý Sảng khoái về xã hội khi
có sự hài hòa các mối quan hệ xã hội
BPTNMT là một bệnh mạn tính với các mức độ và tần suất xuất hiện các triệu chứng tăng dần, chính vì thế nó ảnh hưởng rất lớn đến đời sống sinh hoạt của bệnh nhân cả về thể chất lẩn tinh thần Theo các hướng dẫn điều trị hiện nay, cách tiếp cận chung để quản lý BPTNMT cần phải chú trọng cải thiện chất lượng cuộc sống
Trang 29Hiện nay mặc dù các hướng dẫn điều trị luôn ủng hộ cho việc sự dụng đo CNTK là cận lâm sàng chủ yếu để xác định mức độ nặng của bệnh, nhưng đo CNTK đơn thuần lại không đánh giá được được sự tác động của BPTNMT lên bệnh nhân về chất lượng cuộc sống, mặc khác không phải cơ sở y tế nào cũng có thể thực hiện được đo CNTK Chính vì thế, việc đánh giá sự tác động của BPTNMT ở bệnh nhân phải dựa vào các bảng câu hỏi, một trong số các bảng câu hỏi đó là CAT (COPD ASSESSMENT TEST) Bảng câu hỏi này gồm 8 câu hỏi
là những vấn đề cốt lõi liên quan đến sự tác động của bệnh lý này và có thể áp dụng được cho mọi bệnh nhân, với mức điểm của mỗi câu hỏi là từ 0 đến 5 điểm dựa vào mức độ tác động lên bệnh nhân Chia thành các mức độ sau:
- 31-40 điểm: ảnh hưởng rất nặng
- 21-30 điểm: ảnh hưởng nặng
- 11-20 điểm: ảnh hưởng trung bình
- ≤10 điểm: ít ảnh hưởng
Theo tác giả Tạ Hữu Duy cho thấy hầu hết bệnh nhân bệnh nhân BPTNMT
đến khám vì lý do khó thở, chiếm 83%, chủ yểu ở mức độ khó thở 3 và 4 Điểm trung bình đánh giá bằng thang điểm CAT la 20,01 ± 4,45, ảnh hưởng của BPTNMT lên cuộc sống bệnh nhân ở mức trung bình Tác giả còn cho thấy có
sự tương quan thuận, chặt chẽ giữa thang điểm CAT và mMRC [6]
Theo tác giả Thái Thị Thùy Linh và Lê Thị Tuyết Lan cho thấy điểm trung bình CAT là 17,59; nhỏ nhất là 5 điểm và cao nhất lên đến 35 điểm, mức độ khó thở chủ yếu là độ 3 và 4 Triệu chứng ảnh hưởng lên CLCS của bệnh nhân nhiều nhất là khó thở [16], [18] Nghiên cứu của Nguyễn Đức Thọ cho thấy có trên 80% bệnh nhân BPTNMT có CAT ≥ 10, trung bình là 17,69 ± 5,87 [23]
Trang 301.4 Các công trình nghiên cứu liên quan
Nghiên cúu của tác giả Nguyễn Đức Thọ về thực trạng và hiệu quả can thiệp trên bệnh nhân BPTNMT tại xã Kiến Thiết và Kiền Bái từ năm 2014-2016 cho thấy: chủ yếu nhiễm bệnh là nam giới, độ tuổi chủ yếu từ 50-59 tuổi với tỉ lệ 36,0% đối tượng nghiên cứu có trình độ từ THCS trở xuống, đa số người bệnh được phát hiện ở mức độ tắc nghẽn trung bình chiếm 47,4%, tỷ lệ được phát hiện BPTNMT ở giai đoạn tắc nghẽn nhẹ chiếm 19,0%, GOLD B và D chiếm đa số với tỉ lệ lần lượt là 41,7% và 25,9% [23] Trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đức Thọ sau 1 năm giáo dục sức khỏe, kiến thức tốt về BPTNMT cho bệnh nhân tăng từ 4,8% lên 27,2%, hiệu quả đạt 466,7%, thái độ tốt tăng từ 16,9% lên 57,8%, hiệu quả đạt 242% Tỉ lệ biết tên bệnh tăng lên từ 14,9% lên 80,3% Tỷ lệ không biết triệu chứng bệnh đã giảm từ 49,4% xuống còn 7,3% Tỷ lệ người bệnh biết hút thuốc có thể gây nên BPTNMT tăng từ 43,3% đến 88,8%; ô nhiễm môi trường từ 36,3% đến 77,7%; khói bụi nghề nghiệp tăng từ 15,2% đến 34,4%
Tỷ lệ đối tượng biết bệnh không lây tăng từ 35% lên 68,3% Kiến thức về BPTNMT cần điều trị khi bệnh ở giai đoạn ổn định tăng 32,4% lên 68,9% sau can thiệp đối tượng cho đây là bệnh diễn biến mạn tính hoặc mạn tính có đợt cấp tăng từ 39,7% lên 74% [23]
Nghiên cứu của tác giả Tạ Hữu Duy về đánh giá chất lượng cuộc sống bệnh nhân BPTNTM bằng thang điểm CAT cho thấy trung bình CAT là 20,01 ± 4,45,
sự tác động của BPTNMT ở mức trung bình và cao, tác giả kết luận rằng CAT càng cao thì chất lượng cuộc sống sức khỏe của bệnh nhân càng thấp, giữa CAT
và mMRC có sự tương quan với r = 0,72 và p < 0,001, có sự tương quan thuận giữa mMRC và thang điểm CAT, mức độ khó thở càng nặng thì mức độ ảnh hưởng của bệnh đến CLCS càng nhiều dẫn đến CLCS càng kém Nghiên cứu của
Trang 31tác giả cũng cho thấy có sự tương quan nghịch giữa mức độ tắc nghẽn đường thở dựa trên %FEV1 và thang điểm CAT với r = -0,47 và p < 0,0001, % FEV1 càng giảm thì CAT càng tăng và CLCS bệnh nhân càng kém [6]
Nghiên cứu của tác giả Thái Thị Thùy Linh với CAT trung bình là 17,59, tác giả kết luận rằng CAT càng cao điểm và chất lượng cuộc sống sức khỏe của bệnh nhân càng thấp [16]
Jae Yong Seo (2015) tại Hàn Quốc cho thấy chỉ có 1,0% số đối tượng biết rằng BPTNMT là một bệnh hô hấp Tác giả thấy nhận thức của những người hút thuốc về BPTNMT là rất kém Nhiều người hút thuốc cho rằng tình trạng sức khỏe của họ tốt bất chấp sự hiện diện của các triệu chứng liên quan đến BPTNMT Do vậy cần thiết phải nâng cao nhận thức về căn bệnh này và thúc đẩy người nghiện cai thuốc [45]
Nghiên cứu của tác giả Souza ML thực hiện trên 60 người mắc BPTNMT
về sử dụng thuốc giãn phế quản dạng hít cho thấy 94,2% người bệnh thực hành sai ít nhất một lỗi [51]
Trang 32Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Các bệnh nhân mắc BPTNMT ngoài đợt cấp hiện đang điều trị tại Bệnh viện 30 tháng 4 tỉnh Sóc Trăng năm 2020-2021
2.1.2 Tiêu chuẩn chọn mẫu
- Các bệnh nhân đã được chẩn đoán BPTNMT dựa trên: Hướng dẫn chẩn đoán
và điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính của Bộ Y tế [1]
- Bệnh nhân đang trong giai đoạn ổn định của BPTNMT (ngoài đợt cấp)
- Đủ sức khỏe và tinh thần trả lời câu hỏi trong phiếu điều tra
- Tự nguyện tham gia nghiên cứu
2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ
- Người đang mắc các bệnh rối loạn tâm thần, không thể trả lời phỏng vấn
- Những bệnh nhân không thể thức hiện được đo CNTK như: suy tim, bướu cổ,
dị tật vòm họng
2.1.4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành tại Bệnh viên 30 Tháng 4 tỉnh Sóc Trăng
- Thời gian nghiên cứu: bắt đầu từ tháng 5/2020 đến tháng 7/2021
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích trước và sau
Trang 33
- Độ tin cậy của nghiên cứu này là 95% nên = 0,05
- Khoảng sai lệch cho phép là 10% nên d = 0,1
- Chúng tôi ước tính cỡ mẫu dựa trên tỉ lệ nhóm A, B, C, D theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đức Thọ, nghiên cứu cho thấy tỉ lệ BPTNMT theo nhóm A, B,
C, D lần lược là: 12,9%; 37,1%; 21%; 29% [23] Chúng tôi lấy tỷ lệ ước lượng
sự kiện p = 37,1 % từ đó tính được cỡ mẫu là 89, vì vậy cỡ mẫu cần thiết cho
nghiên cứu này sẽ là ≥ 89 mẫu
- Theo nghiên cứu của tác giả Tạ Hữu Duy cho thấy rằng có đến 83% bệnh nhân
có triệu chứng khó thở ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống [6], dựa vào đó
chúng tôi ước lượng sự kiện ảnh hưởng chất lượng sống của bệnh nhân với p = 83% từ đó chúng tôi ước tính mẫu là ≥ 55
Thực tế chúng tôi thu 90 mẫu
2.2.3 Phương pháp chọn mẫu
Chọn mẫu ngẫu nhiên: đối tượng được chọn ngẫu nhiên là các bệnh nhân mắc BPTNMT ngoài đợt cấp đến khám tại bệnh viện 30 tháng 4 tỉnh Sóc Trăng
Trang 342.2.4 Nội dung nghiên cứu
2.2.4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
- Tuổi: được tính theo dương lịch, chia thành các nhóm tuổi: < 40; 40-49; 50-59;
60-69 và ≥70 tuổi
- Giới: chia làm 2 nhóm nam và nữ
- Nghề nghiệp: Trong nghiên cứu này sẽ chia làm các nhóm như
+ Công nhân: làm nhưng công việc trong nhà máy, xí nghiệp, công xưởng + Nông dân: làm các công việc chăn nuôi, trồng trọt
+ Nội trợ: làm các công việc trong nhà hàng ngày
+ Buôn bán: làm các công việc kinh doanh các mặt hàng theo từng qui mô + Viên chức, nhân viên văn phòng
+ Hưu trí, mất sức lao động: bao gồm các đối tượng nghỉ hưu, hưu sớm theo qui định nhà nước và các đối tượng vì điều kiện sức khỏe không thể tham gia hoạt động lao động mặc dù chưa đến tuổi hưu trí
+ Làm thuê: làm mọi công việc theo nhu cầu của người sử dụng lao động, mang tính thời vụ, không cố định việc làm
- Trình độ học vấn: được phân chia theo cấp bậc giáo dục tại Việt Nam được
+ Trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng
+ Đại học, Sau đại học
Trang 352.2.4.2 Đặc điểm của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
Lý do đến khám: bệnh nhân sẽ đến tái khám gồm 2 nhóm, nhóm có triệu chứng mạn tính như ho, khạc đờm, khó thở nhẹ và nhóm kiểm soát tốt không có triệu chứng, chủ yếu đến khám để được tư vấn sức khỏe
Tiền sử đợt cấp trong một năm trở lại đây chia làm 2 nhóm:
+ 0-1 đợt cấp/ năm, không có nhập viện
+ ≥2 đợt cấp/ năm hoặc ≥1 đợt cấp/ năm phải nhập viện điều trị
Phỏng vấn số đợt cấp phải nhập viện điều trị trong năm vừa qua: đợt cấp là tình trạng cấp tính của bệnh thể hiện ở sự nặng lên của các triệu chứng hô hấp (ho, khó thở tăng, khạc đờm có sự thay đổi về màu sắc đờm, tăng về số lượng, khạc đờm mủ…) biến đổi từng ngày mà cần phải thay đổi hoặc thêm liệu trình điều trị
Tình trạng hút thuốc lá:
- Tiền sử hút thuốc lá: khảo sát tình trạng hút thuốc lá của bệnh nhân trước đây, thời gian hút thuốc lá tính theo năm và số điếu thuốc hút trong một ngày, tính ra đơn vị gói – năm (số năm hút thuốc lá nhân với số bao thuốc hút trong một ngày, mỗi bao là 20 điếu) Phân chia mức độ hút thuốc lá thành 3 nhóm: + <10 gói – năm
+ 10 đến 20 gói – năm
+ Trên 20 gói – năm
- Bệnh nhân có tiếp xúc với người khác hút thuốc lá hay không: một số bệnh nhân không có hút thuốc lá nhưng có tiếp xúc gần với các thành viên khác trong gia đình có hút thuốc lá
Trang 36- Tình hình hút thuốc lá hiện tại:
+ Nếu còn hút thuốc thì xác định thêm mức độ hút thuốc lá so với ban đầu bao gồm: giảm, tăng hay giữ nguyên
+ Nếu đã cai thuốc thì xác định thêm số năm đã cai thuốc: <5 năm, từ 5-10 năm, >10 năm
+ LABA + LAMA + ICS
Đánh giá triệu chứng khó thở ảnh hưởng đến bệnh nhân thông qua bộ câu hỏi mMRC, ít triệu chứng mMRC nhỏ hơn 2, nhiều triệu chứng mMRC ≥ 2
Bảng 2.1: Bảng điểm mMRC
(Nguồn: Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính [1])
Bảng điểm đánh giá khó thở mMRC Điểm
Khó thở khi đi bộ nhanh trên đường bằng hoặc dốc nhẹ 1
Đi bộ chậm hơn người cùng tuổi vì khó thở hoặc phải
dừng lại để thở khi đi cùng tốc độ với người cùng tuổi trên
Trang 37ngay cả khi thay quần áo
Cận lâm sàng: Bệnh nhân được tiến hành đo CNTK Kết quả của đo CNTK được đánh giá theo phân độ của GOLD gồm các mức độ:
- GOLD 1 (mức độ nhẹ) khi FEV1 ≥ 80% giá trị lý thuyết
- GOLD 2 (mức độ trung bình): 50% ≤ FEV1 < 80% giá trị lý thuyết
- GOLD 3 (mức độ nặng): 30% ≤ FEV1 < 50% giá trị lý thuyết
- GOLD 4 (mức độ rất nặng): FEV1 < 30 % giá trị lý thuyết
Dựa vào tiền sử đợt cấp, mức độ ảnh hưởng của triệu chứng đến bệnh nhân
từ 0-40 điểm Bác sỹ hướng dẫn bệnh nhân tự điền điểm phù hợp vào ô tương
Trang 38ứng Bệnh nhân bị ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống bởi BPTNMT tương ứng với mức độ điểm như sau:
- 31-40 điểm: ảnh hưởng rất nặng
- 21-30 điểm: ảnh hưởng nặng
- 11-20 điểm: ảnh hưởng trung bình
- ≤10 điểm: ít ảnh hưởng
Dựa trên các kết luận của các nghiên cứu trên, trong nghiên cứu chúng tôi
sẽ chia thang điểm CAT thành 2 nhóm:
- ≤20 điểm: CLCS trung bình - tốt
- >20 điểm: CLCS kém - rất kém
Trang 39Bảng 2.2: Thang điểm CAT (COPD ASSESSMENT TEST)
(Nguồn: Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính [1])
đờm nào trong phổi
Trong phổi tôi rất nhiều đờm
Tôi không có cảm
giác nặng ngực
Tôi có cảm giác rất nặng ngực
Tôi ngủ ngon giấc
Tôi không ngủ ngon giấc vì tôi có bệnh phổi
Tôi không hạn chế
Tôi hạn chế hoạt động rất nhiều
Tôi cảm thấy rất
Tôi cảm thấy không còn chút sức lực nào
Trang 40
2.2.4.4 Đánh giá về kiến thức, thái độ và thực hành, của bệnh nhân về BPTNMT
Kiến thức: bao gồm nhưng kiến thức cơ bản về bệnh như tên bênh, triệu chứng, nguyên nhân, khả năng lây nhiễm, dự phòng của bệnh
- Tên bệnh: trả lời đúng là bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
- Triệu chứng: trả lời đúng khi kể được một trong các triệu chứng như ho, khạc đàm, khó thở
- Nguyên nhân: trả lời đúng khi kể được các nguyên nhân là hút thuốc, tiếp xúc môi trường khói, bụi, ô nhiễm
- Tính chất bệnh: trả lời đúng khi biết bệnh mạn tính và không lây
- Dự phòng: trả lời đúng khi biết bệnh có thể dự phòng được các đợt cấp Thực hành: thực hành một số cách thở phục hồi chức năng hô hấp như: ho
có kiểm soát, thở chúm môi, thở cơ hoành, kỹ thuật thở mạnh, sử dụng MDI Thực hiện đạt khi đúng theo các bước đã hướng dẫn trước đó (các bước thực hiện trọng phần phụ lục)
Thái độ: thái độ về thực phòng đợt cấp của bệnh như: giữ ấm, tiêm ngừa vắc xin cúm, cai thuốc, khám sức khỏe định kì, đeo khẩu trang tránh khói bụi Xác định tỉ lệ: biết hoặc không biết các kiến thức về bệnh; thực hành đạt hoặc không đạt các nội dung đã đề ra; có hoặc không thực hiện các biện pháp dự phòng thể hiện thái độ phòng đợt cấp BPTNMT của bệnh nhân
2.2.5 Phương pháp thu thập
Tiến hành:
Đối tượng nghiên cứu được lựa chọn ngẫu nhiên là các bệnh nhân mắc BPTNMT không phải đợt cấp đến khám tại BV 30 tháng 4 tỉnh Sóc Trăng Các đối tượng nghiên cứu sau khi được chọn vào nghiên cứu thỏa các tiêu chuẩn