Nghiên cứu so sánh chất lượng cuộc sống của Bangkok và Hà Nội thông qua Bộ chỉ số của Mercer.Nghiên cứu so sánh chất lượng cuộc sống của Bangkok và Hà Nội thông qua Bộ chỉ số của Mercer.Nghiên cứu so sánh chất lượng cuộc sống của Bangkok và Hà Nội thông qua Bộ chỉ số của Mercer.Nghiên cứu so sánh chất lượng cuộc sống của Bangkok và Hà Nội thông qua Bộ chỉ số của Mercer.Nghiên cứu so sánh chất lượng cuộc sống của Bangkok và Hà Nội thông qua Bộ chỉ số của Mercer.
Trang 1HÀ NỘI, 2020
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án này là công trình nghiên cứu của tôi Các số
liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố ở bất cứ
công trình nghiên cứu khoa học nào
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Đỗ Thị Liên Vân
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện Luận án này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn tận tình
và sự giúp đỡ to lớn từ các thầy cô, đồng nghiệp và gia đình
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới GS.TS MaiNgọc Chừ - người đã tận tình hướng dẫn và tạo mọi điều kiện cho tôi học tập, nghiêncứu trong suốt thời gian qua Sự tâm huyết và sáng tạo với khoa học và nghề nghiệpcủa Thầy không chỉ giúp tôi hoàn thành luận án mà còn cho tôi nhiều kinh nghiệm quýbáu trên chặng đường nghiên cứu khoa học sau này
Tôi cũng xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới các thầy cô trong Bộ môn Đông Nam
Á học cũng như các thầy cô trong Khoa Đông phương đã dành cho tôi nhận xét xácđáng, những kinh nghiệm và những lời động viên chân thành, kịp thời trong những lúctôi gặp khó khăn
Cuối cùng, tôi xin tỏ lòng biết ơn tới những người thân trong gia đình và bạn bè,những người luôn chia sẻ, động viên, khích lệ để tôi không ngừng nỗ lực trong suốtthời gian học tập và hoàn thành luận án này
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do kinh nghiệm còn hạn chế nên luận án chắcchắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự đóng góp
ý kiến của các thầy cô, đồng nghiệp, các nhà nghiên cứu và những người có quan tâm
để tôi tiếp tục hoàn thiện luận án của mình
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Nghiên cứu sinh
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC CÁC BẢNG 5
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ 6
MỞ ĐẦU 7
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ ĐỀ TÀI 15
1.1 Các công trình nghiên cứu đã được công bố 15
1.1.1 Các nghiên cứu đã được công bố về chất lượng cuộc sống của Bangkok 15
1.1.2 Các nghiên cứu về chất lượng cuộc sống của Hà Nội 22
1.1.3 Các nghiên cứu về Bộ chỉ số của Mercer 29
1.2 Những vấn đề chưa giải quyết và hướng nghiên cứu của luận án 31
1.2.1 Đối với các nghiên cứu đã công bố về chất lượng cuộc sống của Bangkok 31
1.2.2 Đối với các nghiên cứu đã công bố về chất lượng cuộc sống của Hà Nội 32
1.2.3 Đối với các nghiên cứu về Bộ chỉ số chất lượng cuộc sống của Mercer 32
1.2.4 Hướng nghiên cứu và tiếp cận của Luận án 33
Tiểu kết Chương 1: 34
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG THÀNH PHỐ 37
2.1 Cơ sở lý luận về chất lượng cuộc sống thành phố 37
2.1.1 Khái niệm về chất lượng cuộc sống, chất lượng cuộc sống thành phố 37
2.1.2 Khái quát về Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng cuộc sống của Mercer 43
2.2 Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của Bangkok và Hà Nội 47
2.2.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của Hà Nội 47
2.2.2 Một số đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của Bangkok 56
2.3 Các yếu tố tác động tới chất lượng cuộc sống của Bangkok và Hà Nội 64
2.3.1 Các yếu tố bên ngoài 64
2.3.2 Các yếu tố bên trong 68
Tiểu kết chương 2 72
Trang 6CHƯƠNG 3 SO SÁNH CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA BANGKOK VÀ HÀ
NỘI QUA NHÓM CHỈ SỐ CHÍNH TRỊ - KINH TẾ 75
3.1 So sánh thực trạng những điểm giống và khác nhau qua nhóm chỉ số chính trị - kinh tế 75
3.1.1 Nhóm chính trị - xã hội 75
3.1.2 Nhóm chỉ số môi trường kinh tế 86
3.1.3 Nhóm cung cấp các sản phẩm tiêu dùng 88
3.2 Đánh giá chung kết quả và hạn chế, khó khăn; nguyên nhân và những bài học kinh nghiệm 98
3.2.1 Đánh giá chung kết quả và những thành tựu đạt được 98
3.2.2 Khó khăn, hạn chế; nguyên nhân của những khó khăn, hạn chế 106
3.2.3 Khuyến nghị và bài học kinh nghiệm 111
Tiểu kết chương 3 114
CHƯƠNG 4 SO SÁNH CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA BANGKOK VÀ HÀ NỘI QUA NHÓM CHỈ SỐ VĂN HÓA - XÃ HỘI 117
4.1 Thực trạng những điểm giống và khác nhau qua nhóm chỉ số văn hóa - xã hội 117 4.1.1 Nhóm chỉ số văn hóa, xã hội, giáo dục 117
4.1.2 Nhóm chỉ số y tế, vệ sinh và chăm sóc sức khỏe 124
4.1.3 Nhóm chỉ số giải trí (nhà hàng, rạp chiếu phim, thể thao và giải trí) 140
4.2 Đánh giá chung kết quả và hạn chế, khó khăn; nguyên nhân và những bài học kinh nghiệm 145
4.2.1 Đánh giá chung kết quả và những thành tựu đạt được 145
4.2.2 Khó khăn, hạn chế; nguyên nhân của những khó khăn, hạn chế 150
4.2.3 Các khuyến nghị, bài học kinh nghiệm rút ra đối với thành phố Hà Nội 151
Tiểu kết chương 4 153
CHƯƠNG 5 SO SÁNH CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA BANGKOK VÀ HÀ NỘI QUA NHÓM CHỈ SỐ MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN, NHÀ Ở VÀ DỊCH VỤ ĐÔ THỊ 156
5.1 So sánh thực trạng chất lượng cuộc sống của Bangkok và Hà Nội qua nhóm chỉ số môi trường tự nhiên, nhà ở và dịch vụ đô thị 156
Trang 75.1.1 Nhóm chỉ số môi trường tự nhiên 156
5.1.2 Nhóm chỉ số nhà ở 160
5.1.3 Nhóm chỉ số dịch vụ đô thị và vận chuyển 165
5.2 Đánh giá chung kết quả và hạn chế, khó khăn; nguyên nhân và những bài học kinh nghiệm 176
5.2.1 Đánh giá chung kết quả và những thành tựu đạt được 176
5.2.2 Khó khăn, hạn chế; nguyên nhân của những khó khăn, hạn chế 181
5.2.3 Khuyến nghị và bài học kinh nghiệm đối với Hà Nội 183
Tiểu kết chương 5 186
KẾT LUẬN 190
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 194
TÀI LIỆU THAM KHẢO 195
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TT Chữ viết tắt Nội dung tiếng Anh Nội dung tiếng Việt
1 AEC ASEAN Economic Community Cộng đồng Kinh tế ASEAN
2 APSC ASEAN Political - Security
Community
Cộng đồng Chính trị - An ninhASEAN
3 ASCC ASEAN Socio - Cultural
7 GRDP Gross domestic product per
capita
Tổng sản phẩm trên địa bàn bìnhquân đầu người (Tổng sản phẩmtrên địa bàn tỉnh, thành phố gọilà
GRDP)
10 UNDP United Nations Development
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Đông Nam Á - chỉ số Tội phạm và An toàn theo thành phố 85Bảng 3.2 Nhận định của người dân Bangkok và Hà Nội về mức độ tác động của nhóm chỉ số về chính trị - kinh tế đến CLCS thành phố 99Bảng 3.3 Xếp hạng CLCS của Mercer đối với các thành phố là thủ đô của các nước khu vực Đông Nam Á (2006 - 2016/2017/2018) 108Bảng 4.1 So sánh mức độ ô nhiễm giữa Hà Nội và Bangkok 127Bảng 4.2 Đánh giá tác động và sự hài lòng của người dân Bangkok và 146Bảng 4.3 Đánh giá tác động và sự hài lòng của người dân Bangkok về CLCS thông qua nhóm chỉ số văn hóa - xã hội 148Bảng 4.4 Đánh giá tác động và sự hài lòng của người dân Hà Nội về CLCS thông qua nhóm chỉ số văn hóa - xã hội 149Bảng 5.1 Diện tích sử dụng đất chính ở Bangkok 160Bảng 5.2 Đánh giá tác động và sự hài lòng của người dân Bangkok và Hà Nội 179
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ
Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất 45Hình 2.2 Bộ chỉ số đánh giá CLCS của Mercer sau khi đã được phân nhóm lại thành 03 nhóm chỉ số cơ bản 46Hình 2.3 Khung nghiên cứu so sánh CLCS của Bangkok và Hà Nội qua Bộ chỉ số của Mercer 47Biểu đồ 3.1 Nhận định của người dân tham gia khảo sát về mức độ an toàn 84Biểu đồ 3.2 Nhận định của người dân về mức độ đa dạng của các sản phẩm, dịch
vụ thông qua các chỉ số về kinh tế 97Biểu đồ 3.3 Nhận định của người dân về mức độ tác động của các chỉ số chính trị -
xã hội tới CLCS của Bangkok và Hà Nội 102Biểu đồ 3.4 So sánh tương quan về sự tác động, hài lòng của người dân về CLCS thông qua nhóm chỉ số môi trường chính trị - xã hội 103Biểu đồ 3.5 So sánh tương quan sự tác động và hài lòng của người dân Bangkok và
Hà Nội qua nhóm chỉ số kinh tế của Mercer 104Biểu đồ 5.1: Những chỉ số nhóm môi trường tự nhiên, nhà ở và dịch vụ đô thị 177Biểu đồ 5.2: Những chỉ số nhóm môi trường tự nhiên, nhà ở và dịch vụ đô thị 178
Trang 11MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Có ba lý do chủ yếu dưới đây khiến tôi chọn Nghiên cứu so sánh chất lượng
cuộc sống của Bangkok và Hà Nội thông qua Bộ chỉ số của Mercer làm đề tài cho
luận án tiến sĩ của mình:
Một là, chất lượng cuộc sống (CLCS) thành phố đã và đang trở thành mục tiêu
hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội (KT - XH) của các quốc giatrên thế giới Đây cũng là một vấn đề quan trọng trong mục tiêu của Cộng đồng Vănhóa
-Xã hội ASEAN, đó là: “ xây dựng một xã hội chia sẻ, đùm bọc, hòa thuận và
rộng mở nơi mà cuộc sống, mức sống và phúc lợi của người dân được nâng cao”
[Cổng Thông tin ASEAN Việt Nam, 2018, 127]
Cho đến nay, đã có nhiều học giả trong và ngoài nước nghiên cứu về CLCSthành phố với các cách tiếp cận rất đa dạng và phong phú Đặc biệt là các công trìnhnghiên cứu CLCS thành phố của các nước phát triển như khu vực châu Âu, BắcMỹ Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về CLCS thành phố ở châu Á, trong đó
có Đông Nam Á, còn khá khiêm tốn, chủ yếu là dưới dạng các công trình đơn ngành
về một hoặc một số lĩnh vực của CLCS thành phố, hoặc là nghiên cứu CLCS thànhphố của một tầng lớp dân cư trong xã hội như người cao tuổi, thanh niên, sinh viên,người lao động người thu nhập thấp
Hai là, Hà Nội là thủ đô của Việt Nam Việc nâng cao CLCS là một trong
những mục tiêu hàng đầu của thành phố mà chính quyền các cấp đang ráo riết tậptrung thực hiện Nghiên cứu CLCS Hà Nội sẽ góp phần làm sáng tỏ những vấn đềđang được đặt ra để giải quyết Tuy nhiên, để có cái nhìn toàn diện khi so sánh vớimột thành phố khác trong khu vực, tác giả luận án chọn Bangkok là thủ đô của
Vương quốc Thái Lan Sở dĩ chọn Bangkok là vì: Thứ nhất, điều đó phù hợp với
chuyên môn của một nghiên cứu viên đang công tác tại Viện nghiên cứu phát triển
kinh tế - xã hội Hà Nội khi lựa chọn ngành học là Đông Nam Á học; Thứ hai,
Bangkok và Hà Nội đều là thủ đô của hai quốc gia phát triển năng động trong khuvực ASEAN, cùng đang thực hiện chung các mục tiêu của Cộng đồng Văn hóa - Xã
Trang 12hội ASEAN; Thứ ba, Bangkok và Hà Nội
Trang 13có trình độ phát triển về các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, giáo dục, khoahọc công nghệ tương đối đồng đều, không có những điểm chênh quá vượt trộihoặc quá lạc hậu khi thực hiện so sánh hai thành phố với nhau, cùng nằm trong top
có thứ hạng trung bình trong Bảng xếp hạng chất lượng cuộc sống thành phố củaMercer
Ba là, khác với các bộ chỉ số đưa ra khảo sát CLCS trên thế giới, bộ chỉ số của
Mercer được đánh giá là bộ chỉ số toàn diện nhất các mặt của cuộc sống chứ khôngquá nhấn mạnh về một phương diện nào đó Đặc biệt, bộ chỉ số của Mercer đượcthực hiện thường xuyên, định kỳ và công bố công khai hàng năm trên các phươngtiện thông tin đại chúng Bộ chỉ số của Mercer không chỉ cung cấp những thông tinhữu ích mà còn đưa ra những khuyến nghị cần thiết đối với các thành phố trên thếgiới Ngoài ra, bộ chỉ số còn là thước đo chất lượng phát triển của các thành phố đểbiết mình đang ở đâu so với các thành phố khác trên thế giới Tính đến 2018,Mercer đánh giá CLCS đô thị tại hơn 231 thành phố được khảo sát trên toàn thế
giới CLCS được phân tích theo 39 chỉ số thành phần và chia thành 10 nhóm: (1)
Môi trường chính trị và xã hội; (2) Môi trường kinh tế; (3) Môi trường văn hóa xã hội; (4) Y tế và sức khỏe; (5) Trường học và giáo dục; (6) Dịch vụ công cộng và giao thông; (7) Giải trí; (8) Hàng tiêu dùng; (9) Nhà ở; (10) Môi trường tự nhiên
[Mercer.com, 2018, 179] Do vậy, dựa vào bộ chỉ số Mercer có thể thực thi mộtcách hiệu quả việc đánh giá CLCS Hà Nội và Bangkok
2.Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của Đề tài là thông qua bộ chỉ số của Mercer, làm sáng tỏ những vấn
đề về CLCS của Hà Nội và Bangkok, từ đó rút ra những bài học để thành phố HàNội có thể tham khảo trong quá trình thực hiện mục tiêu nâng cao CLCS của ngườidân trong bối cảnh mới hiện nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để hoàn thành mục tiêu nghiên cứu nêu trên, tác giả luận án thực hiện nhữngnhiệm vụ cụ thể như sau:
- Làm rõ cơ sở lý luận về CLCS và CLCS thành phố; phân tích những yếu tố
Trang 14tác động tác động cả bên trong và bên ngoài đến CLCS của Bangkok và Hà Nội.
Trang 15-So sánh, làm sáng tỏ những điểm giống và khác nhau về thực trạng CLCS củaBangkok và Hà Nội thông qua ba nhóm chỉ số cơ bản: Nhóm chỉ số chính trị - kinhtế; nhóm chỉ số văn hóa - xã hội; nhóm chỉ số môi trường tự nhiên, nhà ở và dịch vụ
đô thị
- Rút ra những bài học mà Hà Nội có thể tham khảo trong quá trình thực hiệnmục tiêu nâng cao CLCS đô thị
Để hoàn thành những nhiệm vụ nghiên cứu nói trên, nghiên cứu sinh cần đặt
ra những câu hỏi nghiên cứu cụ thể như sau:
+ CLCS thành phố là gì? Đặc điểm, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội củaBangkok và Hà Nội? Những yếu tố nào tác động đến CLCS thành phố?
+ Những điểm giống và khác nhau giữa CLCS Bangkok và Hà Nội thông qua
Bộ chỉ số của Mercer? Những chỉ số Bangkok vượt trội hơn Hà Nội? Những chỉ số
Hà Nội vượt trội hơn Bangkok?
+ Những chỉ số có tác động đến CLCS thành phố nhiều nhất? Những chỉ sốngười dân thành phố hài lòng nhất? Mối quan hệ giữa chúng? Những chỉ số đang lànhững vấn đề bức xúc nhất hiện nay? Ngoài những chỉ số trong Bộ chỉ số củaMercer thì những chỉ số nào mà người dân đang quan tâm nhiều?
+ Các kết quả, hạn chế khó khăn, nguyên nhân của những hạn chế khó khăncủa từng nhóm chỉ số? Những khuyến nghị, bài học kinh nghiệm rút ra đối với HàNội?
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: CLCS của Bangkok và Hà Nội thông qua Bộ chỉ số củaMercer
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: CLCS đô thị của hai thành phố Bangkok và Hà Nội.
Tác giả luận án lựa chọn thành phố Bangkok để so sánh mà không phải là một thànhphố nào khác vì:
+ Chuyên ngành đào tạo của nghiên cứu sinh là Đông Nam Á học, đồng thờiBangkok và Hà Nội là 2 thành phố có nhiều điểm tương đồng như: đều là những thủ
Trang 16đô phát triển năng động của khu vực Đông Nam Á, có cùng chung một tiêu pháttriển
Trang 17trong Cộng đồng ASEAN, có nền văn hóa lâu đời, là thành phố của sông, hồ cũngnhư là những thành phố có nhiều tiềm năng phát triển du lịch văn hóa và trongnhững năm gần đây đều được các tổ chức quốc tế đánh giá cao.
+ Cả Bangkok và Hà Nội đều có cùng chung một nguồn gốc từ nền văn hóalúa nước và nằm trong 2 quốc gia có sản lượng xuất khẩu lúa, gạo đứng nhất, nhìthế giới 2 thành phố đều chịu ảnh hưởng nhiều của Phật giáo Hai thành phố có tốc
độ đô thị hóa cao và nhiều lần phải mở rộng địa giới hành chính
+ Đặc biệt, Bangkok và Hà Nội đều đang cùng phải giải quyết những vấn nạncủa đô thị sau một thời gian phát triển như: ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu,ách tắc giao thông, không gian công cộng…
+ Và nhìn chung, Bangkok và Hà Nội có trình độ phát triển về các mặt kinh tế,chính trị, văn hóa, xã hội, giáo dục, khoa học công nghệ tương đối đồng đều,không có những điểm chênh quá vượt trội hoặc quá lạc hậu khi thực hiện so sánhhai thành phố với nhau, cùng nằm trong top có thứ hạng trung bình trong Bảng xếphạng chất lượng cuộc sống thành phố của Mercer
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ năm 2006 - 2018 Đây là khoảng thời gian
mới, cập nhật và gần nhất với đề tài luận án Đồng thời để có thể so sánh CLCS của
2 thành phố thì cần phải có một khoảng thời gian nhất định khoảng 10 năm trước
đó, một quá trình để đánh giá, trong đó, thời điểm nghiên cứu sinh nhận đề tàinghiên cứu là năm 2016 và đề tài tiếp tục được bổ sung, cập nhật các số liệu đến2018
Đây cũng là khoảng thời gian thuận lợi để nghiên cứu sinh có thể sưu tầmđược đầy đủ các số liệu điều tra của tập đoàn Mercer cũng như thực hiện việc điềutra khảo sát tại 2 thành phố
- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu CLCS Bangkok và Hà Nội thông qua Bộ chỉ
số gồm 39 chỉ số thành phần của Mercer Trong luận án, tác giả gộp 39 chỉ số thành
3 nhóm để khảo sát, nghiên cứu: Nhóm chỉ số chính trị - kinh tế; Nhóm chỉ số vănhóa - xã hội; Nhóm chỉ số môi trường tự nhiên, nhà ở và dịch vụ đô thị
4.Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu
4.1 Cách tiếp cận
Trang 18Luận án được tiến hành theo hai cách tiếp cận:
Thứ nhất, Luận án nghiên cứu so sánh CLCS của Bangkok và Hà Nội thông
qua Bộ chỉ số của Mercer là nghiên cứu thuộc chuyên ngành Đông Nam Á học nêncách tiếp cận chủ yếu là khu vực học, với hệ phương pháp liên ngành của các ngànhkinh tế - xã hội và văn hóa
Hướng tiếp cận thứ hai, theo đúng tên gọi của luận án, đó là tiếp cận vấn đề
nghiên cứu theo bộ chỉ số của Mercer
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện luận án này, tác giả tuân thủ các phương pháp nghiên cứu xã hội
học gồm: phương pháp nghiên cứu định lượng; phương pháp nghiên cứu định tính;
phương pháp quan sát; phương pháp nghiên cứu diễn dịch Thông qua nhữngphương pháp này, tác giả thu được những dữ liệu định lượng được thống kê từ kếtquả của các Báo cáo điều tra khảo sát về CLCS của Mercer và từ kết quả khảo sátđiều tra do tác giả luận án thực hiện Như vậy, nghiên cứu định lượng cho tác giảnhững dữ kiện khách quan, có tính thống kê, dễ dàng kiểm chứng và do đó có độtin cậy cao Bên cạnh đó, tác giả cũng thu được những dữ liệu mang tính định tínhqua phương pháp quan sát, phỏng vấn sâu và dựa trên các tài liệu thứ cấp Các dữkiện định tính không đo đếm được, thường ở dưới dạng các từ (words), lời nói, âmthanh, hình ảnh - chứ không dưới dạng các con số Cụ thể trong luận án này, đóchính là những cảm nhận của người dân về từng chỉ số CLCS của hai thành phố qua
phỏng vấn sâu hoặc qua quan sát của tác giả.Nhìn chung, nghiên cứu định lượng bổ sung tính chính xác cho nghiên cứuđịnh tính và nghiên cứu định tính làm rõ hơn ý nghĩa của nghiên cứu định lượng.Trong các phương pháp của xã hội học, tác giả luận án coi trọng phương pháp điềutra khảo sát người dân thông qua bảng hỏi (điều tra viên cầm bảng hỏi để lấy thôngtin rồi đánh dấu vào phiều điều tra) (Xem thêm Phụ lục Tóm tắt kết quả điều trakhảo sát của Luận án) Để thực hiện điều tra khảo sát một cách hiệu quả nhất trênđịa bàn thành phố Bangkok, tác giả đã phối hợp với một nhóm sinh viên Việt Nam(gồm 5 người) đang học tập tại Bangkok để cùng thực hiện điều tra khảo sát trongkhoảng thời gian từ tháng 6 đến tháng 10 năm 2018 Quá trình này được tác giả
Trang 19thực hiện
Trang 20đồng thời với quá trình phỏng vấn sâu bằng bảng hỏi nhằm thu được các dữ liệumang tính cảm nhận chủ quan của người dân về thực trạng CLCS của 2 thành phốđồng thời thu được các ý kiến của các chuyên gia, các nhà khoa học về các yếu tốảnh hưởng cũng như các khuyến nghị về nâng cao CLCS thành phố trong bối cảnhmới hiện nay nhằm làm sâu sắc hơn các luận điểm nghiên cứu.
Để làm sáng tỏ sự tương đồng và khác biệt về CLCS của Hà Nội và Bangkok,
như tên gọi của luận án, tác giả tiến hành phương pháp so sánh Đây là phương
pháp chủ đạo trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu Cách thức và thời điểm sosánh trong luận án này là so sánh từng chỉ số CLCS thông qua kết quả khảo sát củatác giả trong năm 2018 (đối với các dữ liệu định tính) và so sánh theo số liệu từngnăm đối với các số liệu định lượng (các thứ hạng của hai thành phố trong các năm
2006, 2016, 2017, 2018) Phương pháp so sánh giúp tác giả thấy được những ưuđiểm và hạn chế trong từng chỉ số Những chỉ số nào là lợi thế của Bangkok vànhững chỉ số nào là lợi thế của Hà Nội; những chỉ số nào đang là những vấn đề mà
cả hai thành phố đều quan tâm Những chỉ số nào người dân của Bangkok cảm thấyhài lòng nhất và những chỉ số nào người dân Hà Nội sẽ cảm thấy tác động nhiều đếnCLCS thành phố hơn
4.3 Cơ sở tư liệu, nguồn tài liệu tham khảo
Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu kể trên, luận án tập trung khai thác và
sử dụng các nhóm tóm tài liệu sau:
- Tài liệu nguyên cấp (primary document/document primaire): các công trìnhnghiên cứu cung cấp thông tin gốc, trực tiếp bằng tiếng Việt và tiếng Anh như: cácBáo cáo của Quỹ phát triển Châu Á; Báo cáo của tổ chức UN - HABITAT; các vănbản nhà nước; Báo cáo của sở, ngành Bangkok và Hà Nội về thực trạng CLCS củaBangkok và Hà Nội; từ điển, bách khoa thư, v.v…về CLCS và CLCS thành phố (đôthị); các công trình có liên quan đến các vấn đề về CLCS của Bangkok, Hà Nội
- Nguồn tài liệu tham khảo bằng tiếng Việt, tiếng Anh bao gồm một số côngtrình nghiên cứu có liên quan đến CLCS và CLCS thành phố (đô thị); các công trình
về CLCS của Bangkok và Hà Nội; các nghiên cứu về Bộ chỉ số của Mercer nhưsách; bài báo trong các tạp chí chuyên ngành; các đề tài nghiên cứu của các học
Trang 21giả, các
Trang 22nhà nghiên cứu Việt Nam, Thái Lan và của các học giả trên thế giới tại thư việnquốc gia, thư viện chuyên ngành khoa học, thư viện của trường đại học,…
-Một số tài liệu được tra cứu trực tuyến thông qua nhiều chức năng tìm kiếmtheo tên tác giả, tựa tài liệu, từ khoá, chủ đề, v.v… có liên quan đến vấn đề nghiêncứu từ các nguồn đáng tin cậy như: Thư viện Quốc gia Việt Nam; Các thông số, dữliệu để phân tích đặc điểm; Tập đoàn Mercer: <http://www.mercer.com/press-releases/quality- of-living-report - > Các dữ liệu, thông số về Cộng đồng Văn hóa -
Xã hội được khai thác trực tiếp tại trang WEB chính thức của ASEAN: <http://asean.org/>
5.Ý nghĩa và đóng góp mới của luận án
5.1 Ý nghĩa khoa học và đóng góp mới của luận án
Luận án là công trình nghiên cứu khoa học độc lập và mang tính chất đại diệnđầu tiên ở Việt Nam về nghiên cứu so sánh CLCS đô thị ở cấp độ hai thành phốtrong cùng khu vực Đông Nam Á, đó là Bangkok và Hà Nội Kết quả nghiên cứucủa luận án sẽ góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận liên quan đến CLCS nóichung và CLCS thành phố/đô thị nói riêng
Luận án làm sáng tỏ thực trạng CLCS Hà Nội và Bangkok, nêu rõ những mặtđược và chưa được, cùng những khuyến nghị cần thiết cho việc nâng cao CLCS củangười dân thành phố Hà Nội trong bối cảnh mới hiện nay
5.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận án cung cấp những số liệu và luận cứ khoa học đối với ba nhóm chỉ số
cụ thể về CLCS (Kinh tế - chính trị; Văn hóa - xã hội; Môi trường tự nhiên, nhà ở
và dịch vụ đô thị) của hai thành phố là Hà Nội và Bangkok Kết quả nghiên cứu củaluận án sẽ là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà lãnh đạo và quản lý, cácnhà hoạch định chính sách phát triển đô thị
Ngoài ra, luận án cũng là tài liệu tham khảo có giá trị cho các nhà nghiên cứu
và giảng dạy Đông Nam Á học và Đô thị học
6.Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, phần nội dung của Luận án được kết cấu thành 5 chương như sau:
Trang 23Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về đề tài
Trong chương này, tác giả luận án điểm lại các công trình, bài viết nghiên cứu đãđược công bố trong và ngoài nước theo các nhóm vấn đề có liên quan đến đề tài; nêu
ra những vấn đề đã được đề cập cũng như những vấn đề chưa được đề cập, từ đó xácđịnh hướng đi của luận án; đề xuất hướng tiếp cận và nội dung nghiên cứu đối vớiluận án
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng cuộc sống thành phố
Luận án làm rõ cơ sở lý luận về CLCS thành phố/đô thị từ các quan điểm vàkhái niệm mà các tác giả đã công bố, đưa ra quan điểm của tác giả luận án về CLCSthành phố/đô thị; khung lý thuyết của luận án Luận án cũng làm rõ những nhân tốtác động đến CLCS của Bangkok và Hà Nội trên cả phương diện khách quan và chủquan
Chương 3: Nghiên cứu so sánh chất lượng cuộc sống của Bangkok và Hà Nội qua nhóm chỉ số chính trị - kinh tế
Chương này tác giả tập trung phân tích, làm sáng tỏ những điểm giống và khácnhau về nhóm chỉ số chính trị, kinh tế và dịch vụ tiêu dùng có liên quan đến CLCScủa hai thành phố; làm rõ những nguyên nhân và bài học kinh nghiệm rút ra đối vớimỗi thành phố Thực chất nhóm chỉ số này được phân nhóm lại từ 3 nhóm chỉ số 1,
Trang 2412 chỉ số của Mercer.
Trang 25CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ ĐỀ TÀI
1.1 Các công trình nghiên cứu đã được công bố
Sau khi tiến hành khảo sát, tác giả nhận thấy rằng những công trình nghiêncứu về CLCS nói chung của Bangkok và Hà Nội nói riêng khá đa dạng và phongphú Tác giả của những công trình này đã lựa chọn những khía cạnh, lĩnh vực, môitrường sống khác nhau có liên quan đến cuộc sống để nghiên cứu, phản ánh, đánhgiá CLCS đô thị nhưng mang tính chất riêng lẻ, đơn ngành như: về chính trị, kinh
tế, văn hóa, xã hội, chăm sóc sức khỏe, nhà ở, dịch vụ đô thị, cơ sở hạ tầng, ách tắcgiao thông, ô nhiễm môi trường để nghiên cứu, phản ánh, đánh giá về chất lượngcuộc sống đô thị Hoặc theo hướng khác, các công trình đó đã nghiên cứu sâu vềCLCS của một tầng lớp dân cư trong xã hội như: người cao tuổi, người di cư, ngườilao động trong các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, Những công trình đã công
bố bao gồm: sách tham khảo, các bài báo được đăng tải trên các tạp chí chuyênngành và luận án tiến sĩ Với mong muốn việc khảo sát các công trình nghiên cứumang tính hệ thống và khoa học, tác giả đã sắp xếp và phân chia các công trình
nghiên cứu thành 3 nhóm vấn đề: thứ nhất, các công trình nghiên cứu CLCS của Bangkok; thứ hai, các công trình nghiên cứu CLCS của Hà Nội; thứ ba, các công
trình nghiên cứu về Bộ chỉ số của Mercer Trong mỗi nhóm vấn đề, các nội dungnghiên cứu sẽ bao quát đầy đủ Bộ chỉ số của Mercer gồm 39 chỉ số thành phần,được sắp xếp gộp lại thành 3 nhóm cụ thể gồm:
Các chỉ số về chính trị, kinh tế
Các chỉ số về văn hóa, xã hội
Các chỉ số về môi trường tự nhiên, nhà ở và dịch vụ đô thị
1.1.1 Các nghiên cứu đã được công bố về chất lượng cuộc sống của Bangkok
1.1.1.1 Các nghiên cứu chất lượng cuộc sống qua nhóm chỉ số chính trị, kinh tế
Cùng với quá trình phát triển kinh tế, thì đô thị hóa cũng diễn ra nhanh chóng
ở Bangkok và nhiều thành phố lớn khác của Thái Lan làm cho CLCS đô thị cónhiều cải thiện so với những vùng nông thôn khác Bộ mặt đô thị đã sớm được hình
Trang 26thành cùng
Trang 27với sự phát triển đa dạng của nhiều loại hình kinh tế và dịch vụ Bangkok đã sớmtận dụng được những lợi thế của mình để phát triển các ngành kinh tế và dịch vụnhư: du lịch y tế, khám chữa bệnh (dịch vụ thẩm mỹ sắc đẹp); du lịch hội nghị, hộithảo Dịch vụ Y khoa ở Đông Nam Á có xu hướng rẻ hơn nhiều so với ở châu Âu
và Bắc Mỹ Các nghiên cứu đưa ra kết quả về quy mô của lĩnh vực này rất khácnhau, nhưng theo NaRanong A, NaRanong V thì trong năm 2008, du lịch y tế ởThái Lan đã tạo ra từ 46 tỷ baht đến 52 tỷ baht (1 đô la Mỹ [USD] = 30 baht), doanhthu từ các dịch vụ y tế còn được cộng thêm 12 đến 13 tỷ baht từ du lịch liên quan.Điều này làm cho tổng doanh thu tăng từ 58 tỷ baht đến 65 tỷ baht, tạo ra giá trị giatăng từ 31 tỷ baht đến 35 tỷ baht từ các dịch vụ y tế, cộng với 5,8 tỷ baht đến 6,5 tỷbaht từ du lịch Tại thời điểm này, các chuyên gia đã dự báo thị trường du lịch y tếcủa Thái Lan sẽ tăng hơn gấp đôi 2015, nếu vẫn duy trì mức tăng như năm 2011[PR Newswire.com, 2012, 156] Tổng số tiền này chiếm tổng giá trị gia tăng từ 36,8
tỷ baht đến 41,6 tỷ baht, tương đương 0,4% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Theocác kịch bản khác nhau, giá trị gia tăng từ du lịch y tế dự kiến sẽ đạt từ 59 tỷ bahtđến 110 tỷ baht trong năm 2012 [NaRanong A, NaRanong V, 2011, pp.336-344,78] Cho đến nay, Bangkok tiếp tục là trung tâm chính của các hoạt động kinh tế,chủ yếu dựa vào công nghiệp, thương mại và dịch vụ
Sự tăng trưởng về du lịch đã nhanh chóng dẫn đến sự cạnh tranh giữa các sânbay ở các thành phố Đông Nam Á Cuộc cạnh tranh khốc liệt giữa các sân bay củaSingapore; sân bay Suvarnabhumi của Bangkok và sân bay Quốc tế Kuala Lumpur
là trung tâm kinh tế, tài chính, du lịch ở Đông Nam Á và dành cho những hànhkhách đến từ châu Âu và Bắc Mỹ Các thành phố như Chiang Mai, Cebu City,Surabaya và Penang cũng tìm cách phát triển sân bay của họ thông qua các việc liênkết không chỉ với thành phố thủ đô, mà còn với các điểm đến quốc tế khác [TrevorHogan, Tim Bunnell et al 2012, pp.59-63, 109]
Một số nghiên cứu khác lại cho rằng sẽ khó quản lý một thành phố lớn hơnmột thị trấn nhỏ Tuy nhiên, Tokyo với 36 triệu dân không chỉ là thành phố đôngdân nhất trên thế giới mà còn là một thành phố giàu có nhất với GDP ước tính là1.497 tỷ đô la [Hawksworth et al, 2009: 48] Mặc dù tắc nghẽn giao thông khéttiếng nhưng đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Bangkok vẫn tăng mạnh Việc quản lý
Trang 28các khu vực đô thị
Trang 29lớn có thể đặt ra những yêu cầu và các phương pháp tiếp cận mới cùng với mộtkhung thể chế mới nhưng các vấn đề về kích thước có thể khắc phục được.
Một nghiên cứu khác cũng cho rằng, mặc dù xếp hạng về cạnh tranh thấpnhưng khu vực Đông Nam Á vẫn đang thu hút lớn các nhà đầu tư trực tiếp nướcngoài Đô thị hoá nhanh chóng có thể dẫn đến sự gia tăng các thành phố ở các nướcđang phát triển trong hàng ngũ các địa điểm thu hút FDI hàng đầu trên thế giới VàSingapore luôn nằm trong 5 thành phố hàng đầu ở châu Á - Thái Bình Dương về thuhút vốn đầu tư, bất chấp sự sụt giảm tới 8% các dự án thực tế đang hoạt động năm
2008 Bangkok cũng đã tăng gấp đôi thị phần của mình gần 2% do tăng trưởng vốnđầu tư 130 USD/cent [FDI Intelligence, 2009, pp 3-4, 42]
Và để định lượng CLCS [Thailand, 2014, pp.17, 101], Thái Lan cũng đã xâydựng hệ thống chỉ tiêu dựa vào các nội dung cốt lõi của CLCS: đó là ăn, mặc, nhà ở vàmôi trường, sức khỏe, giáo dục và thông tin, an toàn, việc làm Trên cơ sở nhữngkhảo sát và xác định 37 chỉ số theo các nhóm nhu cầu cơ bản của CLCS đồng thờiđưa ra những biện pháp thực hiện cụ thể gắn liền với địa bàn dân cư, với trách nhiệmcác ngành và vai trò cung cấp thông tin, kết cấu hạ tầng xã hội của Nhà nước Từ đó,đưa ra tiêu chuẩn đánh giá CLCS theo 3 mức yếu kém (một sao), trung bình (hai sao),khá (ba sao) Trong 9 chuẩn mực sống: ăn đủ, nhà ở thích hợp, dịch vụ xã hội, an toàn,thu nhập đầy đủ, kế hoạch hóa gia đình, tham gia phát triển công cộng, giữ gìn nhữnggiá trị tinh thần, bảo vệ môi trường Có thể thấy, các chỉ tiêu CLCS ở Thái Lan rất coitrọng chuẩn mực các dịch vụ xã hội cơ bản cần thiết
Tuy nhiên, bộ chỉ số này được xây dựng để dùng chung trong cả nước nênviệc chú trọng vào các đặc điểm của đô thị lớn còn hạn chế, hơn nữa công trình nàycũng không được tiến hành khảo sát và cập nhật nghiên cứu thường xuyên, định kỳnên các vấn đề CLCS đề cập trong nghiên cứu chỉ có ý nghĩa tại thời điểm tiến hànhnghiên cứu vì CLCS có thể thay đổi theo không gian và thời gian
1.1.1.2 Các nghiên cứu chất lượng cuộc sống qua nhóm tiêu chí về văn hóa - xã hội CLCS đô thị không chỉ phản ánh qua thước đo kinh tế, chính trị mà còn được
nhấn mạnh ở một số nhân tố khác về văn hóa, giáo dục, an sinh xã hội và được
phảnánh ở một số nghiên cứu như:
Trang 30Thông qua biện pháp đo lường chủ quan, đa dạng, nghiên cứu “CLCS ở châuÁ”, của Inoguchi T & Fujii, S (2013) được thực hiện từ năm 2003 đến 2008 ở 29quốc gia châu Á trong đó có Thái Lan, Malaysia CLCS tổng thể ở châu Á đã được
đo lường, đánh giá qua mức độ hạnh phúc, sự hưởng thụ và thành tích của ngườidân Nghiên cứu này cũng cho thấy rằng ở một số nước Đông Nam Á như Malaysia,Thái Lan và Việt Nam có sự năng động, cạnh tranh hơn Người dân có xu hướng ưutiên cho các hoạt động văn hóa tinh thần nhằm nâng cao CLCS (như tình bạn, hônnhân, hàng xóm, cuộc sống gia đình, giải trí và đời sống tinh thần) trong lối sốnghàng ngày của họ [Inoguchi T & Fujii S, 2013, 51]
Còn trong một số nghiên cứu khác lại cho rằng, yếu tố động mạnh đến CLCSngười dân ở các thành phố hiện nay đó là sự phân hóa giàu nghèo, đặc biệt là ở cácthành phố của những nước đang phát triển như ở khu vực Đông Nam Á Điều rất dễthấy ở khu vực này là tình trạng bất bình đẳng thu nhập như một sự tương phản giữangười giàu và người nghèo đô thị, UN - HABITAT (2008) ước tính Hệ số Ginitrung bình(1) của đô thị châu Á là 0,39 và các thành phố được chọn như sau: Jakarta:0,32 (2002); PhnômPênh: 0,36 (2004); Hà Nội: 0,39 (2002); Manila: 0,41 (2003);Bangkok:
0,48 (2003) và Thành phố Hồ Chí Minh: 0,53 (2002) [UN - HABITAT, 2008, 112].Một sự phát triển đáng kể ở Đông Nam Á là sự gia tăng của tầng lớp trung lưu
ở các trung tâm đô thị Mặc dù được hình thành từ nhiều cách khác nhau nhưng cầnphải khẳng định rằng tầng lớp trung lưu mới nổi trong xã hội thường là những đốitượng được đào tạo tốt, có việc làm ổn định, là chuyên gia, thường trong lĩnh vựcchính thức và có đủ thu nhập để chi tiêu vượt ra ngoài những nhu yếu phẩm cơ bảnhàng ngày mà họ đang có xu hướng hướng tới các vật dụng như xe hơi và nhà ở.Thu nhập ổn định từ việc làm đã tạo ra một thế đứng vững chắc cho tầng lớp trunglưu trong xã hội và nền kinh tế khi nắm một khối lượng tài sản cũng như nhu cầumua sắm trong cuộc sống ngày càng thay đổi tăng cao [Shiraishi, 2004, 94]
Trong một nghiên cứu khác của S Srichuae et al (2016) lại cho thấy một hiệntượng đáng báo động đang có tác động mạnh đến CLCS của Bangkok đó là sự giàhóa
Trang 31(1) Hệ số Gini (hay còn gọi là hệ số Loren) là hệ số dựa trên đường cong Loren (Lorenz) chỉ ra mức
bất bình đẳng của phân phối thu nhập giữa cá nhân và hệ kinh tế trong một nền kinh tế
Trang 32nhanh chóng của dân số Thái Lan Dự báo rằng số lượng dân số già (từ 60 tuổi trởlên) sẽ vượt quá dân số trẻ (từ 15 tuổi trở lên) vào năm 2020 và ở mức 30% của năm
2050 [S Srichuae et al, 2016, 158] Dân số của Bangkok già hóa nhanh hơn so với
cả nước và của các tỉnh khác Văn phòng kinh tế quốc gia và ban phát triển xã hộibáo cáo rằng, năm 2008 ở Bangkok có tỷ lệ người già là 10% và năm 2020 nó sẽ là21% [W.Suwannarada, 2009, 20] Dự kiến số lượng người cao tuổi (độ tuổi 60 vàcao hơn) sẽ vượt quá số dân của trẻ em (tuổi ít hơn 15 năm) trong năm 2020[UNFPA, 2006, 111] Bên cạnh đó, ở khu vực thành thị, vấn đề chi phí sinh hoạtluôn trở nên đắt đỏ hơn nông thôn nên một tỷ lệ lớn phụ nữ ở khu vực thành thịĐông Nam Á tham gia trong lực lượng lao động bên ngoài nhà Điều này làm chongười phụ nữ người có thu nhập độc lập và trở nên bình đẳng và hơn, được traonhiều quyền hạn trong xã hội và cũng ít phải làm việc nhà hơn Ngoài ra, vấn đề kếhoạch hóa gia đình có xu hướng đạt mức chuẩn dễ dàng hơn nông thôn do ngườidân đô thị không chú trọng đến sinh nhiều con Nhiều phụ nữ ở đô thị tập trung vào
sự nghiệp của họ và trì hoãn hôn nhân hoặc không kết hôn Do đó, tỷ lệ tử vong trẻ
sơ sinh ở khu vực thành thị thấp hơn cùng với xu hướng trì hoãn hôn nhân, hoặcnhiều phụ nữ đã chọn sinh có ít con hơn nên tổng tỷ suất sinh ở nhiều thành phốĐông Nam Á hiện tại giữ mức bằng hoặc thấp hơn mức thay thế 2.1, xu hướng nàyđang lan rộng sang các khu đô thị khác cũng như vùng nông thôn và làm cho xuhướng già hóa dân số ở đô thị càng trở nên sớm hơn
Tỷ lệ người cao tuổi tăng đòi hỏi chính quyền thành phố cần có những chínhsách thay đổi phù hợp trong môi trường sống để làm cho cuộc sống của họ dễ dànghơn Tuy nhiên, đô thị hóa nhanh chóng ở Bangkok đã khiến cho các cơ sở hạ tầng
kỹ thuật, hạ tầng xã hội luôn quá tải, làm ảnh hưởng đến các nhu cầu sinh hoạt củangười dân [S Srichuae et al, 2016, 158] Trong khi, người cao tuổi cần môi trường
hỗ trợ bao gồm vận chuyển và tiếp cận tại toàn bộ những khu vực công cộng chung.Nghiên cứu này nhằm mục đích làm sáng tỏ các yếu tố ảnh hưởng đến sự vận độngcủa người cao tuổi và sự vận động của họ ở nơi công cộng và các cơ sở giao thôngvận tải ở Bangkok
1.1.1.3 Các nghiên cứu chất lượng cuộc sống qua nhóm chỉ số môi trường tự nhiên, nhà ở, dịch vụ đô thị
Trang 33Có thể thấy, sự phát triển của các loại phương tiện cá nhân đã nhanh chóng vượt
xa sự mở rộng của mạng lưới đường bộ ở Bangkok, Jakarta, Manila và Singapore Dophương thức dùng phương tiện giao thông công cộng thiếu thuận tiện cùng với sự tăngtrưởng kinh tế và thu nhập của người dân ngày càng tăng dẫn đến sự gia tăng quyền
sở hữu xe cá nhân cùng với nhu cầu vận tải đường bộ Ngoài ra, với tốc độ đô thị hóa
và tăng trưởng kinh tế của các thành phố ngày càng tăng cao nên nhu cầu đi lại cũngngày một tăng lên, dẫn đến sự phụ thuộc nhiều hơn vào ô tô và nhu cầu đường bộ.Việc không kịp cung cấp nhu cầu về đường bộ và giao thông công cộng đã gây tắcnghẽn giao thông nghiêm trọng ở các thành phố lớn hiện nay Để đáp ứng nhu cầungày càng tăng của dân cư đô thị, các thành phố phát triển hệ thống giao thông côngcộng theo cách của riêng họ như phương tiện giao thông công cộng nhỏ và vừa baogồm taxi và xe máy taxi kết hợp với việc sử dụng các phương tiện cá nhân [Hayashi
et al, 2004, pp 29-32, 49]
Một trong những lý do làm giảm CLCS của người dân sống ở các thành phố trênthế giới trong đó có Bangkok, đó là sự gia tăng quá nhanh của những luồng di cư tự
do từ nông thôn đến thành phố lớn để học tập hoặc tìm kiếm việc làm, khiến cho cơ
sở hạ tầng, dịch vụ đô thị luôn ở trong tình trạng quá tải Cùng với đó là việc khôngđáp ứng được nhu cầu nhà ở giá rẻ cho cư dân có thu nhập thấp đã góp phần tạo ranhững khu ổ chuột và khu định cư ngồi xổm ở thủ đô Bangkok ngày càng gia tăng,chiếm khoảng 84% tổng số các khu định cư và khu ổ chuột ở Thái Lan [Pornchokchai,
2008, 93] Cũng giống như nhiều thành phố và thị trấn Đông Nam Á, vấn đề nhà ởcủa người nghèo đô thị chưa được quan tâm giải quyết, còn thiếu sự kiên trì và quyếttâm cũng như ý chí của các nhà lãnh đạo các địa phương [Ooi Giok Ling, 2005, 82]
Để ngăn chặn sự hình thành khu ổ chuột mới, Chương trình Baan Man kong đã gópphần hạn chế việc sở hữu của những người mới tham gia Chương trình này chỉ hỗ trợtập trung vào các khu ổ chuột hiện tại chứ không giúp đáp ứng nhu cầu nhà ở củanhững người mới tham gia vào khu vực đô thị hoặc các hộ gia đình có thu nhập thấpcần nhà ở giá rẻ [Yap KS, De Wandeler, 2010, pp 273-366, 21] Việc phòng ngừakhu định cư khu ổ chuột mới phụ thuộc vào lập kế hoạch của Phòng Kế hoạch Đô thịthuộc Bộ Nội vụ Thái Lan nhưng nó đã tỏ ra không hiệu quả
Trang 34[Usavagovitwong N, 2012, 163] Ngoài việc nâng cấp khu ổ chuột ở đô thị thì cần cócác chính sách phòng ngừa để giảm thiểu thành lập khu định cư khu ổ chuột.
Ngoài ra, Bangkok Mega - city cũng đã trải qua một sự gia tăng nhanh chóngcủa việc sử dụng các phương tiện cá nhân trong khi bối cảnh quỹ đất dành cho giaothông đã trở nên khan hiếm Các nghiên cứu của Thanaprayochsak W (2005) đã chỉ
ra rằng quá trình đô thị hóa mang lại những thách thức to lớn cho các nhà hoạch địnhchính phủ, ảnh hưởng đến đời sống xã hội của cư dân và môi trường sống của thànhphố Chỉ số này phản ánh sự gia tăng nhanh chóng của xe hơi tư nhân sẽ có ảnhhưởng nghiêm trọng đến chất lượng không khí trong Khu vực đô thị Bangkok hiệnnay Có thể thấy, việc sử dụng xe buýt nhiều hơn trong thành phố sẽ giảm được cácphương tiện cá nhân, là yếu tố quan trọng góp phần giảm bớt việc tắc nghẽn giaothông và cải thiện vấn đề chất lượng không khí Thanaprayochsak (2005) còn chorằng, đã có những dấu hiệu tích cực bước đầu khi một số người dùng xe hơi có ý thứcchuyển đổi sang sử dụng các phương tiện giao thông công cộng như tàu hỏa và tàuđiện ngầm cao tốc Điều này thể hiện rõ nét qua số lượng xe hơi gửi tại những bãi đậu
xe ở gần một số ga đường sắt [Thanaprayochsak W, 2005, pp.51-56, 105] Do đó,chính quyền các thành phố cần tăng cường tuyên truyền, định hướng trên các phươngtiện truyền thông và ở nơi công cộng nhiều hơn để kêu gọi những người dùng xe hơichuyển sang sử dụng hệ thống vận chuyển công cộng
Giai đoạn gần đây, chính quyền đô thị Bangkok (Bangkok MetropolitanAdminstration - BMA) hiện đang chi khoảng 2.000 triệu baht cho việc đầu tư cơ sở
hạ tầng hàng năm Số tiền này rất ít khi so sánh với diện tích 1.568 km2 và trên 14triệu dân đang sinh sống tại khu vực Bangkok Thành phố chắc chắn sẽ cần phảităng đầu tư ngân sách hàng năm Chính quyền đô thị Bangkok hiện đang yêu cầuchính phủ quốc gia phê duyệt nhiều nguồn thu thuế hơn như thuế tài sản, thuế phí
sử dụng và thuế chuyển nhượng đất Tuy nhiên, việc cải thiện cơ chế hành chính vàquá trình đàm phán sẽ mất nhiều thời gian để hoàn thành
Có thể thấy, các nghiên cứu đã đề cập khá sâu tới một số lĩnh vực có liên quanđến CLCS dưới nhiều cách tiếp cận khác nhau như: cách tiếp cận chủ quan, kháchquan, đánh giá sự hài lòng của người dân… về CLCS đô thị qua các điều kiện, môi
Trang 35trường cụ
Trang 36thể như: các chỉ số về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, cơ sở hạ tầng, dịch vụ đô thị.Trong đó, bên cạnh một số thế mạnh về phát triển kinh tế, du lịch, dịch vụ khám chữabệnh… thì Bangkok vẫn còn có một số vấn đề khó khăn, hạn chế như: ô nhiễm môitrường; nguồn nước; ngập lụt; không khí; rác thải; ách tắc giao thông; nhà ở Đây lànhững khó khăn, hạn chế mà Bangkok không thể dễ dàng khắc phục ngay được.
1.1.2 Các nghiên cứu về chất lượng cuộc sống của Hà Nội
1.1.2.1 Các nghiên cứu chất lượng cuộc sống qua nhóm chỉ số về chính trị, kinh tế
Tại Hội thảo quốc tế với chủ đề “Hà Nội: thành phố thân thiện và sống tốt cho
cộng đồng” (Hanoi: a Livable City for all) diễn ra trong tháng 7/2009 do Hội Quy
hoạch Phát triển đô thị Việt Nam (VUPDA) tổ chức với sự tham gia của thị trưởngthủ đô Bangkok (Thái Lan) để cùng nghiên cứu, trao đổi, hướng tới thống nhất giữacác nhà quản lý, nhà chuyên môn về khái niệm “thành phố sống tốt” (livable city)
và lựa chọn mô hình thích hợp cho thủ đô Hà Nội trong bối cảnh đang nghiên cứuQuy hoạch chung Hà Nội mở rộng Bài viết của tác giả Đào Ngọc Nghiêm đã khẳngđịnh quá trình phát triển kinh tế - xã hội của các thành phố Việt Nam luôn đồnghành cùng với đô thị hóa Nếu như 1998 cả nước chỉ có 633 đô thị với tỷ lệ đô thịhóa là 24% thì đến đầu 2009 đã có tới 747 đô thị với tỷ lệ đô thị ≈ 30% và dự báođến 2020 có thể tới 45 - 50% (khoảng hơn 50 triệu người sống trong các đô thị) Tỷ
lệ đô thị hóa cao sẽ tạo nhiều thuận lợi cho phát triển kinh tế, tạo nhiều việc làm vàtạo môi trường sống tốt hơn song cũng còn những bất cập, hạn chế nếu không giảiquyết tốt giữa tăng trưởng về số lượng với chất lượng đô thị [Đào Ngọc Nghiêm,
2009, tr 35-38, 10]
Tác giả Trương Văn Quảng (2009), Viện Kiến trúc, Qui hoạch Đô thị và Nôngthôn, bài tham luận tại Hội thảo quốc tế: “Hà Nội: thành phố thân thiện và sống tốt
cho cộng đồng”, Hanoi: a Livable City for all, diễn ra trong tháng 7/2009 Trong
đó, tác giả cũng đã nhấn mạnh đến sự an toàn của một đô thị không phải chỉ đượcxây dựng trên nền đất ổn định, giảm thiểu được thiên tai mà còn phải an toàn chocon người sống trong đô thị, từ ăn ở, đi lại, sinh hoạt, lao động, sản xuất, học hành Một đô thị không có tai nạn giao thông; ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí,tiếng ồn; an toàn thực phẩm; an ninh trật tự; không trộm cắp, tệ nạn xã hội Một
Trang 37đô thị
Trang 38dựa trên nguyên tắc sống và làm việc theo Hiến pháp và Pháp luật [Trương VănQuảng, 2009, tr 69-75, 13].
Bên cạnh đó, ở các thành phố Đông Nam Á, ngành dịch vụ vẫn và sẽ là ngànhquan trọng và phát triển mạnh của nền kinh tế Trong đó, phải kể đến việc các thànhphố ở Đông Nam Á vẫn đang là điểm du lịch toàn cầu Bangkok, Pataya, LuangPrabang, Hà Nội, Yogyakarta, Siem Reap, Singapore, Phuket và Bali đang xâydựng khách sạn và quảng bá các trang web nổi tiếng của họ Là kết quả của việc bãi
bỏ quy định ngành hàng không và sự xuất hiện của các hãng hàng không giá rẻ, sânbay cạnh tranh cho (a) lưu lượng truy cập đích, (b) kết nối lưu lượng truy cập rấtquan trọng đối với khu vực bằng nhiều điểm đến du lịch và (c) giao thông hàng hóa[Tretheway et al, 2005, pp 4-6, 108]
Ở bất cứ thời kỳ nào, đô thị hóa và phát triển đô thị cũng là một động lực pháttriển quan trọng của các thành phố và ảnh hưởng trực tiếp đến CLCS của người dân.Trải qua các thời kỳ, nhất là qua hơn ba mươi năm đổi mới, vai trò của hệ thống đôthị ở Việt Nam đã chứng minh quy luật đó Trong bài nghiên cứu “Ðô thị hóa và sự
phát triển bền vững” của Lê Hồng Kế (2010) - Hội Quy hoạch Phát triển Đô thị
Việt Nam, tác giả đã chứng minh một trong những tiêu chí quan trọng của quá trình
ÐTH là tỷ lệ dân số sống trong khu vực đô thị so với tổng dân số trên cùng một tỉnh,một vùng hay cả nước Bên cạnh tăng trưởng tỷ lệ đô thị hóa, các tiêu chí về tốc độtăng trưởng kinh tế GDP từ các khu vực công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch(khu vực phi nông nghiệp) chiếm tỷ lệ rất lớn trong tổng GDP quốc gia Các nước
có tỷ lệ đô thị hóa cao đồng nghĩa với tốc độ tăng trưởng khu vực đô thị và cả nướccao như: Singapore, Hồng Kông (Trung Quốc) có tỷ lệ đô thị hóa gần 100%, HànQuốc 91%, Thái Lan 87%, Indonesia 78,5%, Philippines 77%, trong khi ViệtNam mới đạt khoảng 35% và Hà Nội mới đạt gần 50% [Lê Hồng Kế, 2010, tr 1-2,130]
Với quan điểm khá toàn diện về CLCS, Đỗ Thị Liên Vân, chủ nhiệm đề tài
(2015), “Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng cuộc sống người dân trên
địa bàn Thành phố Hà Nội” đã đưa ra cách tiếp cận CLCS dựa trên những khía cạnh
như: mức sống, tiêu chuẩn sống, lẽ sống, lối sống, Trong đó, các tác giả đã chứng
Trang 39minh
Trang 40rằng CLCS của người dân thành phố Hà Nội hiện nay bị chi phối bởi hai yếu tốkhách quan và chủ quan, đó chính là mối quan hệ giữa môi trường sống và thái độsống Môi trường sống mang tính khách quan bởi không chỉ phụ thuộc vào điềukiện cụ thể của người dân mà phần nhiều phụ thuộc vào môi trường và cơ sở vậtchất của đô thị, nhưng thái độ sống thì mang tính chủ quan, do quan niệm và trảinghiệm cá nhân mà hình thành Do đó, dù chọn lựa thái độ sống thế nào thì đánh giácủa người dân cũng không thoát được sự chi phối của môi trường sống hiện có [ĐỗThị Liên Vân, 2015, 19] Tuy nhiên, kết quả khảo sát của đề tài cũng mới chỉ tựanhư “một lát cắt” trong tiến trình đô thị hoá và phát triển của Thành phố, vì vậy đềtài cũng mới chỉ phân tích xoay quanh 6 tiêu chí chính mà nhóm nghiên cứu đã tổnghợp và đề xuất, từ đó đưa ra một số nhận xét về CLCS dân cư Thành phố Rất nhiềucác chỉ số CLCS của Mercer chưa được đề cập tới.
1.1.2.2 Các nghiên cứu chất lượng cuộc sống qua nhóm chỉ số về văn hóa - xã hội
CLCS và hạnh phúc hiện tại của con người không chỉ tùy thuộc vào mức thunhập, vào các điều kiện kinh tế mà nó còn được phản ánh qua những tiêu chí nhưđiều kiện sống có thoải mái hay không tùy thuộc vào sức khỏe có tốt không, vàomôi trường văn hóa, xã hội và vào kiến thức của từng người với nhiều yếu tố khôngthể cân, đong, đo, đếm bằng tiền bạc Nguyễn Xuân Chính, Đỗ Thị Liên Vân
(2013), trong nghiên cứu: “Một số giải pháp chủ yếu cải thiện chất lượng và đời
sống người lao động tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp trên địa bàn Hà Nội” Trong đó, các tác giả đã làm rõ sự đóng góp đối với kinh tế Hà Nội của một
lực lượng lao động không nhỏ trong các khu công nghiệp, cụm công nghiệp nhưngđang gặp phải nhiều khó khăn trong cuộc sống như: thu nhập, nhà ở, dịch vụ y tế,giáo dục, sinh hoạt văn hoá tinh thần… [Nguyễn Xuân Chính, Đỗ Thị Liên Vân,
2013, 02] Mặc dù nghiên cứu đã trình bày khá chi tiết CLCS của người lao độngtrong các khu công nghiệp, cụm công nghiệp nhưng nghiên cứu cũng mới chỉ phảnánh CLCS của một tầng lớp dân cư nhỏ ở đô thị Đây chưa phải là tầng lớp đôngđảo và chiếm đa số dân cư ở đô thị của Hà Nội hiện nay