1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nghiên cứu tình hình, đánh giá kết quả quản lý và điều trị bệnh lao phổi phân loại theo tiền sử bệnh tại tỉnh an giang năm 2020 2021 nguyễn hoàng khoa; gs ts phạm văn lình },{ tag

109 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu tình hình, đánh giá kết quả quản lý và điều trị bệnh lao phổi phân loại theo tiền sử bệnh tại tỉnh An Giang năm 2020-2021
Tác giả Nguyễn Hoàng Khoa
Người hướng dẫn GS. TS. Phạm Văn Lình
Trường học Trường đại học Y Dược Cần Thơ
Chuyên ngành Quản lý Y tế
Thể loại Luận văn chuyên khoa cấp II
Năm xuất bản 2021
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thất bại điều trị, khi người bệnh có: AFB+ từ tháng điều trị thứ 5 trở đi, phải chuyển phác đồ điều trị và có chẩn đoán ban đầu AFB-, sau 2 tháng điều trị xuất hiện AFB+, lao ngoài phổi

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ

NGUYỄN HOÀNG KHOA

NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ QUẢN LÝ VÀ ĐIỀU TRỊ

BỆNH LAO PHỔI PHÂN LOẠI THEO TIỀN SỬ BỆNH TẠI

TỈNH AN GIANG NĂM 2020-2021

Chuyên ngành: QUẢN LÝ Y TẾ

Mã số: 8720801.CK

LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA CẤP II

Người hướng dẫn khoa học:

GS TS Phạm Văn Lình

Cần Thơ, 2021

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Phụ bìa

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

MỞ ĐẦU ERROR! BOOKMARK NOT DEFINED

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Sơ lược về bệnh lao phổi 3

1.2 Các loại lao phổi phân loại theo tiền sử bệnh 5

1.3 Nguyên nhân lao phổi được phân loại theo tiền sử bệnh 6

1.4 Điều trị và quản lý bệnh nhân lao phổi 6

1.5 Một số yếu tố liên quan đến kết quả điều trị lao 19

1.6 Các nghiên cứu trong và ngoài nước 22

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

2.1 Đối tượng nghiên cứu 25

2.2 Phương pháp nghiên cứu 26

2.3 Đạo đức trong nghiên cứu 41

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 42

3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 42

3.2 Phân loại bệnh lao phổi 45

3.3 Kết quả điều trị và quản lý bệnh lao phổi 47

3.4 Các yếu tố liên quan đến kết quả điều trị lao phổi không thành công 54

Chương 4: BÀN LUẬN 64

4.1 Đặc điểm chung 64

4.2 Phân loại bệnh lao phổi 67

Trang 5

4.3 Kết quả quản lý và điều trị bệnh lao phổi 68

4.4 Các yếu tố liên quan đến điều trị lao phổi không thành công 70

KẾT LUẬN 79

KIẾN NGHỊ 81

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Tiếng Việt

CTCLQG Chương trình chống lao Quốc gia

DAPCLQG Dự án Phòng chống lao Quốc gia

ĐTĐ Đái tháo đường

AIDS Acquired Immunodeficiency Syndrome

Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải AFB Acid-Fast Bacillus

Trực khuẩn kháng acid BCG Bacille de Calmette et Guérin

Vắccin ngừa lao

BK Bacille de Koch

Trực khuẩn Koch DNA Deoxyribonucleic acid

Acid nhân

Trang 7

DOTS Directly Observed Treatment, Short-Course

Hóa trị liệu ngắn ngày có kiểm soát trực tiếp HIV Human Immunodeficiency Virus

Vi rút suy giảm miễn dịch người LAM Mycobacterial lipoarabinomannan antigene

Kháng nguyên lao có trong nước tiểu LTBI Latent tuberculosis infection

Lao sơ nhiễm

MT Mycobacterium Tuberculosis

Vi trùng lao PCR Polymerase Chain Reaction

Phản ứng khuếch đại gen

Bệnh lao WHO World Health Organization

Tổ chức Y tế Thế giới

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 3 1 Phân bố đối tượng theo nhóm tuổi 42

Bảng 3 2 Phân bố đối tượng theo giới tính 42

Bảng 3 3 Phân bố đối tượng theo dân tộc 42

Bảng 3 4 Phân bố đối tượng theo trình độ học vấn 43

Bảng 3 5 Phân bố đối tượng theo nghề nghiệp 43

Bảng 3 6 Phân bố đối tượng theo nơi ở 44

Bảng 3 7 Phân bố đối tượng theo tình trạng kinh tế 44

Bảng 3 8 Phân bố đối tượng theo hôn nhân 44

Bảng 3 9 Phân loại bệnh lao trong nghiên cứu 45

Bảng 3 10 Tỷ lệ tuân thủ điều trị trong nhóm lao phổi 46

Bảng 3 11 Tỷ lệ hút thuốc trong nhóm lao phổi 46

Bảng 3 12 Tỷ lệ uống rượu bia trong nhóm lao phổi 46

Bảng 3 13 Kết quả điều trị theo nhóm bệnh 47

Bảng 3 14 Đánh giá kết quả điều trị 48

Bảng 3 15 Đánh giá quản lý hồ sơ bệnh nhân lao 48

Bảng 3 16 Đánh giá quản lý về tư vấn bệnh nhân 49

Bảng 3 17 Đánh giá quản lý cấp phát thuốc 49

Bảng 3 18 Đánh giá quản lý phát thuốc 50

Bảng 3 19 Đánh quá giám sát điều trị 50

Bảng 3 20 Đánh giá quản lý dùng thuốc 51

Bảng 3 21 Đánh giá công tác theo dõi tác dụng phụ 51

Bảng 3 22 Đánh giá công tác khám lâm sàng 52

Bảng 3 23 Đánh giá quản lý chụp Xquang 52

Bảng 3 24 Đánh giá công tác theo dõi cân nặng của đối tượng 53

Bảng 3 25 Đánh giá công tác xét nghiệm đàm 53

Trang 9

Bảng 3 26 Liên quan kết quả điều trị lao phổi không thành công với tuổi 54 Bảng 3 27 Liên quan kết quả điều trị lao phổi không thành công với giới 54 Bảng 3 28 Liên quan kết quả điều trị lao phổi không thành công với trình độ

học vấn 55 Bảng 3 29 Liên quan kết quả điều trị lao phổi không thành công với nghề

nghiệp 55 Bảng 3 30 Liên quan kết quả điều trị lao phổi không thành công với nơi ở của

đối tượng nghiên cứu 56 Bảng 3 31 Liên quan kết quả điều trị lao phổi không thành công với kinh tế

của đối tượng nghiên cứu 56 Bảng 3 32 Liên quan kết quả điều trị lao phổi không thành công với tình trạng

hôn nhân của đối tượng nghiên cứu 57 Bảng 3 33 Liên quan kết quả điều trị lao phổi không thành công với tuân thủ

điều trị của đối tượng nghiên cứu 57 Bảng 3 34 Liên quan đến kết quả điều trị lao phổi không thành công với thói

quen hút thuốc lá của đối tượng nghiên cứu 58 Bảng 3 35 Liên quan đến kết quả điều trị lao phổi không thành công với uống

rượu/bia 58 Bảng 3 36 Liên quan đến kết quả điều trị lao phổi không thành công với tình

trạng mắc bệnh HIV của đối tượng nghiên cứu 59 Bảng 3 37 Liên quan đến kết quả điều trị lao phổi không thành công với tình

trạng mắc bệnh phổi mạn của đối tượng nghiên cứu 59 Bảng 3 38 Liên quan đến kết quả điều trị lao phổi không thành công với tình

trạng mắc bệnh THA của đối tượng nghiên cứu 60 Bảng 3 399 Liên quan đến kết quả điều trị lao phổi không thành công với tình

trạng mắc bệnh viêm gan của đối tượng nghiên cứu 60

Trang 10

Bảng 3 40 Hồi quy đa biến một số yếu tố liên quan khác đến kết quả điều trị

không thành công 63

Trang 11

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Trang

Biểu đồ 3 1 Phân bố bệnh nhân lao theo giới 45

Trang 12

MỞ ĐẦU

Lao là bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn lao (Mycobacteriumtuberculosis)

gây nên, có thể gặp ở hầu hết các bộ phận của cơ thể Bệnh lâytruyền chủ yếu

qua đường hô hấp mà phổi là cơ quan ảnh hưởng trước tiên và nhiều nhất [33]

Theo báo cáo của Tổ Chức Y Tế Thế Giới, ước tính năm 2017 có khoảng

10 triệu người mới mắc lao hàng năm Bệnh lao là nguyên nhân tử vong đứng thứ hai trong các bệnh nhiễm trùng, với hơn 1,3 triệu người tử vong do lao Tình hình dịch tễ lao kháng thuốc đang có diễn biến phức tạp và đã xuất hiện ở hầu hết các quốc gia (lao đa kháng thuốc là 3,5% trong số bệnh nhân mới và 18% trong số bệnh nhân điều trị lại)

Việt Nam là quốc gia có gánh nặng bệnh lao cao, đứng thứ 16 trong số

30 nước có số bệnh nhân lao cao nhất toàn cầu và đứng thứ 15 trong số 30 nước

có gánh nặng bệnh lao đa kháng cao nhất thế giới Ở Việt Nam, trong những năm qua, tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong do lao đã giảm nhiều nhưng vẫn còn ở mức cao Ước tính hàng năm vẫn còn khoảng 130.000 người mới mắc lao, 180.000 hiện mắc lao và 17.000 người tử vong do lao [24], [15] Nguy cơ nhiễm lao ở nhóm người có bệnh nhiễm HIV, đái tháo đường (ĐTĐ), ung thư…, thì nguy

cơ chuyển từ nhiễm lao sang mắc bệnh lao khoảng 10%/năm [2] và vấn đề tiền

sử là lao mới, lao tái phát, thất bại điều trị Bỏ trị vẫn là thách thức lớn đối với kết quả điều trị

Nghiên cứu tình hình và đánh giá kết quả điều trị bệnh lao phổi phân loại theo tiền sử bệnh về bệnh lao là một trong những vấn đề quan trọng trong việc điều trị bệnh này [22], [20] Việc đánh giá nguy cơ nhiễm lao và phân loại được tiền sử bệnh lao là cần thiết, giúp cho việc áp dụng phác đồ điều trị đúng và giảm thiểu thất bại điều trị Ngoài ra, điều trị bệnh lao là nền tảng của bất kỳ một chương trình chống lao quốc gia nào, chiến lược điều trị lao hiện đại dựa

Trang 13

trên cơ sở của công thức điều trị chuẩn, áp dụng trong điều kiện quản lý bệnh nhân chặt chẽ Đây là vấn đề đặt ra cho chương trình chống lao quốc gia cần phải làm tốt công tác quản lý bệnh lao ngoại trú, có như vậy mới phát hiện sớm bệnh nhân, hạn chế được bỏ điều trị và thành công trong điều trị cao hơn

Chương trình chống lao quốc gia được tỉnh An Giang thực hiện trong nhiều năm qua đã góp phần khống chế bệnh lao ở An Giang và cả vùng đồng bằng sông Cửu Long Tỷ lệ âm hóa đờm, điều trị khỏi bệnh Lao phổi ở An Giang hằng năm luôn đạt trên 90% Năm 2019, theo tổng kết của khoa lao - Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật tỉnh, bệnh nhân lao phổi tái phát, thất bại điều trị lại và AFB(+) khác là 1.200 người, chiếm tỷ lệ 29% tổng số bệnh nhân lao [2] An Giang là một trong những tỉnh có tỷ lệ lao đa kháng thuốc cao, tình trạng đa kháng thuốc làm cho việc điều trị bệnh lao đã khó lại càng khó hơn, làm tăng tỷ lệ tử vong do bệnh lao, không những thế vi khuẩn lao đa kháng thuốc còn có thể lây sang những người xung quanh nếu không được phát hiện

và kiểm soát sớm Do đó, việc tăng cường công tác quản lý và điều trị bệnh lao phổi tại tỉnh An Giang hiện nay rất cần thiêt

Từ những lý do trên chúng tôi nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu tình hình, đánh giá kết quả quản lý và điều trị bệnh lao phổi phân loại theo tiền sử bệnh tại tỉnh An Giang năm 2020 - 2021” nhằm 3 mụctiêu:

1 Xác định tỷ lệ các loại lao phổi phân loại theo tiền sử bệnh tại tỉnh An Giang năm 2020-2021

2 Đánh giá kết quả quản lý và điều trị các loại lao phổi được phân loại theo tiền sử bệnh tại tỉnh An Giang năm 2020-2021

3 Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến kết quả điều trị không thành công lao phổi AFB (+) mới tại tỉnh An Giang năm 2020-2021

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Sơ lược về bệnh lao phổi

1.1.1 Tình hình bệnh lao trên thế giới

Công cuộc đấu tranh của loài người với bệnh lao đã trải qua nhiều thế kỷ Hiện nay trên thế giới không có một nước nào không có người bị nhiễm, bị bệnh và chết vì lao [4], [19] Theo báo cáo của Tổ Chức Y Tế Thế Giới, ước tính năm 2017 có khoảng 10 triệu người mới mắc lao hàng năm Bệnh lao là nguyên nhân tử vong đứng thứ hai trong các bệnh nhiễm trùng, với hơn 1,3 triệu người tử vong do lao Tình hình dịch tễ lao kháng thuốc đang có diễn biến phức tạp và đã xuất hiện ở hầu hết các quốc gia (lao đa kháng thuốc là 3.5% trong số bệnh nhân mới và 18% trong số bệnh nhân điều trị lại)

Bệnh lao đa kháng thuốc (Multi drug Resistant tuberculosis: MDR TB) đang là một thách thức rất lớn đối với nhân loại, ước tính năm 2018 khoảng 480.000 bệnh nhân mắc lao đa kháng thuốc với tỷ lệ 3,9% trong số bệnh nhân lao mới mắc, con số này tăng lên đáng kể 3,3% so với năm 2015 Nguy hiểm hơn là lao siêu kháng thuốc (Extensively drug Resistant tuberculosis: XDR TB) ước tính khoảng 9,5% trong số bệnh nhân lao đa kháng và đã xuất hiện trên 117 quốc gia năm 2019 [14]

1.1.2 Tình hình bệnh lao ở Việt nam

Việt Nam là quốc gia có gánh nặng bệnh lao cao, đứng thứ 16 trong số 30 nước có số bệnh nhân lao cao nhất toàn cầu, và đứng thứ 15 trong số 30 nước

có gánh nặng bệnh lao đa kháng cao nhất thế giới Ở Việt Nam, trong những năm qua, tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong do lao đã giảm nhiều nhưng vẫn còn ở mức cao Ước tính hàng năm vẫn còn khoảng 130.000 người mới mắc lao, 180.000 hiện mắc lao và 17.000 người tử vong do lao [24]

Trang 15

Năm 2018, cả nước đã phát hiện và điều trị cho tổng số 102.655 BN lao,

tỷ lệ điều trị khỏi cao trên 90% và Việt Nam là một trong năm nước trên thế giới đạt tỷ lệ điều trị thành công lao kháng thuốc [13] Với tầm nhìn đến năm

2030, Việt Nam sẽ giảm tỷ lệ người mắc lao trong cộng đồng xuống dưới 20/100.000 dân, Chương trình chống lao Quốc gia hướng tới mục tiêu năm

2020, giảm tỷ lệ mắc lao trong cộng đồng, giảm tỷ lệ tử vong do lao xuống dưới 10/100.000 dân, duy trì tỷ lệ mắc lao kháng thuốc trong số bệnh nhân mới dưới mức 5% Dự kiến đến năm 2019, Chương trình chống lao Quốc gia Việt Nam

sẽ phối hợp với WHO đánh giá tình hình dịch tễ và xu hướng bệnh lao tại Việt Nam

1.1.3 Tình hình bệnh lao tại tỉnh An Giang

Chương trình chống lao quốc gia được tỉnh An Giang thực hiện trong nhiều năm qua đã góp phần khống chế bệnh lao ở An Giang và cả vùng đồng bằng sông Cửu Long Tỷ lệ âm hóa đờm, điều trị khỏi bệnh lao phổi ở An Giang hàng năm luôn đạt trên 90%

Năm 2019, theo tổng kết của Khoa lao - Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật tỉnh, đã phát hiện 4.122 bệnh nhân lao các thể trong đó có 2.122 trường hợp AFB(+) mới Lao phổi AFB âm tính (AFB(-)), lao ngoài phổi khác là 800 bệnh nhân Bệnh nhân lao phổi tái phát, thất bại điều trị lại và AFB(+) khác là 1.200 người, chiếm tỷ lệ 29% tổng số bệnh nhân lao [2] An Giang là một trong những tỉnh có tỷ lệ lao đa kháng thuốc cao, tình trạng đa kháng thuốc làm cho việc điều trị bệnh lao đã khó lại càng khó hơn, làm tăng tỷ lệ tử vong do bệnh lao, không những thế vi khuẩn lao đa kháng thuốc còn có thể lây sang những người xung quanh nếu không được phát hiện và kiểm soát sớm Trong năm 2017 khám phát hiện 106 lao kháng thuốc trường hợp trong đó lao mới là 18 trường hợp, lao tái phát 68, lao bỏ trị là 7, lao bỏ trị điều trị lại là 2, các thể lao khác là 11

Trang 16

1.2 Các loại lao phổi phân loại theo tiền sử bệnh

Lao mới: người bệnh chưa bao giờ dùng thuốc chống lao hoặc mới dùng

thuốc chống lao dưới 1 tháng

Tái phát: người bệnh đã được điều trị lao và được thầy thuốc xác định là

khỏi bệnh, hay hoàn thành điều trị nay mắc bệnh trở lại với kết quả AFB(+) hoặc có bằng chứng vi khuẩn

Thất bại điều trị, khi người bệnh có: AFB(+) từ tháng điều trị thứ 5 trở

đi, phải chuyển phác đồ điều trị và có chẩn đoán ban đầu AFB(-), sau 2 tháng điều trị xuất hiện AFB(+), lao ngoài phổi xuất hiện thêm lao phổi AFB(+) sau

2 tháng điều trị, vi khuẩn đa kháng thuốc được xác định trong bất kỳ thời điểm

nào trong quá trình điều trị với thuốc chống lao hàng 1

Điều trị lại sau bỏ trị: Người bệnh không dùng thuốc liên tục từ 2 tháng

trở lên trong quá trình điều trị, sau đó quay trở lại điều trị với kết quả AFB(+) hoặc có bằng chứng vi khuẩn

Khác: Lao phổi AFB(+) khác: là người bệnh đã điều trị thuốc lao trước

đây với thời gian kéo dài trên 1 tháng nhưng không xác định được phác đồ và kết quả điều trị hoặc không rõ tiền sử điều trị, nay chẩn đoán là lao phổi AFB(+) Lao phổi AFB (-) và lao ngoài phổi khác: Là người bệnh đã điều trị thuốc lao trước đây với thời gian kéo dài trên 1 tháng nhưng không xác định được phác

đồ và kết quả điều trị hoặc được điều trị theo phác đồ với đánh giá là hoàn thành điều trị, hoặc không rõ tiền sử điều trị, nay được chẩn đoán lao phổi AFB(-)

hoặc lao ngoài phổi

Chuyển đến: Người bệnh được chuyển từ đơn vị điều trị khác đến để tiếp

tục điều trị (lưu ý: những bệnh nhân này không thống kê trong báo cáo “Tình hình thu nhận bệnh nhân lao” và “Báo cáo kết quả điều trị lao”, nhưng phải phản hồi kết quả điều trị cuối cùng cho đơn vị chuyển đi)

Trang 17

1.3 Nguyên nhân lao phổi được phân loại theo tiền sử bệnh

- Lượng vi trùng lao và tiếp xúc gần ca nhiễm

- Xã hội: nghèo, ít học, sống cô đơn, thất nghiệp

- Tình trạng bản thân:

+ Suy giảm miễn dịch + Tình trạng suy dinh dưỡng

+ Do tuổi nhỏ và tuổi già + Bệnh kèm theo: ĐTĐ, nhiễm HIV, COPD…

- Kinh tế xã hội và thói quen: Ô nhiễm môi trường, hút thuốc và uống rượu bia

- Nhân khẩu học – Dân tộc

- Hệ thống y tế [3]

1.4 Điều trị và quản lý bệnh nhân lao phổi

1.4.1 Phương pháp điều trị bằng thuốc kháng lao

1.4.1.1 Nguyên tắc điều trị

Phối hợp các thuốc chống lao

Mỗi loại thuốc chống lao có tác dụng khác nhau trên vi khuẩn lao (diệt khuẩn, kìm khuẩn, môi trường vi khuẩn), do vậy phải phối hợp các thuốc chống lao Với lao còn nhạy cảm với thuốc thì phối hợp ít nhất 3 loại thuốc chống lao trong giai đoạn tấn công và ít nhất 2 loại trong giai đoạn duy trì Với bệnh lao

đa kháng: phối hợp ít nhất 5 thuốc có hiệu lực, bao gồm Pyrazinamid và 4 thuốc lao hàng hai có hiệu lực [5]

Phải dùng thuốc đúng liều

Các thuốc chống lao tác dụng hợp đồng, mỗi thuốc có một nồng độ tác dụng nhất định Nếu dùng liều thấp sẽ không hiệu quả và dễ tạo ra các chủng

vi khuẩn kháng thuốc, nếu dùng liều cao dễ gây tai biến Đối với lao trẻ em cần được điều chỉnh liều thuốc hàng tháng theo cân nặng

Phải dùng thuốc đều đặn

Trang 18

Các thuốc chống lao phải được uống cùng một lần vào thời gian nhất định trong ngày và xa bữa ăn để đạt hấp thu thuốc tối đa Với bệnh lao đa kháng: dùng thuốc 6 ngày/tuần, đa số thuốc dùng 1 lần vào buổi sáng, một số thuốc như: Cs, Pto, Eto, PAS tùy theo khả năng dung nạp của người bệnh - có thể chia liều 2 lần trong ngày (sáng - chiều) để giảm tác dụng phụ hoặc có thể giảm liều trong 2 tuần đầu nếu thuốc khó dung nạp, nếu bệnh nhân gặp tác dụng không mong muốn của thuốc tiêm - có thể giảm liều, tiêm 3 lần/tuần hoặc ngừng sử dụng thuốc tiêm căn cứ vào mức độ nặng-nhẹ [5]

Phải dùng thuốc đủ thời gian: Theo 2 giai đoạn tấn công và duy trì

Giai đoạn tấn công kéo dài 2, 3 tháng nhằm tiêu diệt nhanh số lượng lớn

vi khuẩn có trong các vùng tổn thương để ngăn chặn các vi khuẩn lao đột biến kháng thuốc Giai đoạn duy trì kéo dài 4 đến 6 tháng nhằm tiêu diệt triệt để các

vi khuẩn lao trong vùng tổn thương để tránh tái phát Với bệnh lao đa kháng: Phác đồ điều trị chuẩn ngắn hạn từ 9 -11 tháng có giai đoạn tấn công 4-6 tháng, phác đồ điều trị chuẩn 20 tháng có thời gian tấn công 8 tháng Phác đồ cá nhân

có thể thay đổi thời gian sử dụng của từng loại thuốc tùy thuộc vào kết quả kháng sinh đồ, đáp ứng điều trị, tiền sử điều trị và khả năng dung nạp thuốc của bệnh nhân [3]

1.4.1.2 Phác đồ điều trị bệnh nhân lao phổi

* Các thuốc chống lao

Chương trình Chống lao chịu trách nhiệm cung cấp đầy đủ, liên tục thuốc chống lao có chất lượng Thuốc chống lao thiết yếu (hàng 1): Các thuốc chống lao thiết yếu (hàng 1) là: isoniazid (H), rifampicin (R), pyrazinamid (Z), streptomycin (S), ethambutol (E) Ngoài ra, hiện nay TCYTTG đã khuyến cáo

bổ sung 2 loại thuốc chống lao hàng 1 là rifabutin (Rfb) và rifapentine (Rpt) [5]

* Chỉ định và phác đồ điều trị lao

Trang 19

(1) Phác đồ điều trị lao vi khuẩn nhạy cảm với thuốc [5]:

Phác đồ A1:2RHZE/4RHE

Hướng dẫn: Giai đoạn tấn công kéo dài 2 tháng, gồm 4 loại thuốc dùng hàng ngày Giai đoạn duy trì kéo dài 4 tháng, gồm 3 loại thuốc là R, H và E dùng hàng ngày Chỉ định: cho các trường hợp bệnh lao người lớn không có bằng chứng kháng thuốc

Phác đồ A2:2RHZE/4RH

Giai đoạn tấn công kéo dài 2 tháng, gồm 4 loại thuốc dùng hàng ngày Giai đoạn duy trì kéo dài 4 tháng, gồm 2 loại thuốc là R và H dùng hàng ngày Chỉ định: cho các trường hợp bệnh lao trẻ em không có bằng chứng kháng thuốc

Phác đồ B1:2RHZE/10RHE

Giai đoạn tấn công kéo dài 2 tháng, gồm 4 loại thuốc H, R, Z, E dùng hàng ngày Giai đoạn duy trì kéo dài 10 tháng, gồm 3 loại thuốc là R, H, E dùng hàng ngày Chỉ định: lao màng não, lao xương khớp và lao hạch người lớn Điều trị lao màng não nên sử dụng corticosteroid (dexamethasone hoặc prednisolone) liều giảm dần trong thời gian 6-8 tuần đầu tiên (tham khảo thêm mục 4.8-sử dụng corticosteroid trong một số trường hợp) và dùng streptomycin (thay cho E) trong giai đoạn tấn công

Phác đồ B2:2RHZE/10RH

Giai đoạn tấn công kéo dài 2 tháng, gồm 4 loại thuốc H, R, Z, E dùng hàng ngày Giai đoạn duy trì kéo dài 10 tháng, gồm 2 loại thuốc là R, H dùng hàng ngày Chỉ định: lao màng não, lao xương khớp và lao hạch trẻ em Điều trị lao màng não nên sử dụng corticosteroid (dexamethasone hoặc prednisolone) liều giảm dần trong thời gian 6-8 tuần đầu tiên (tham khảo thêm mục 4.8-sử dụng corticosteroid trong một số trường hợp) và dùng streptomycin (thay cho E) trong giai đoạn tấn công Lưu ý: Đối với các trường hợp bệnh nhân lao được phân loại là tái phát, thất bại, điều trị lại sau bỏ trị, tiền sử điều trị

Trang 20

khác, không rõ tiền sử điều trị - Không áp dụng phác đồ II như trước đây Đối với những trường hợp đã có tiền sử điều trị này (là người nghi lao kháng thuốc), cần được làm xét nghiệm Xpert - Nếu kết quả Xpert có vi khuẩn lao không kháng R (xem sơ đồ chẩn đoán lao kháng thuốc-Phụ lục 2.1) cần chỉ định phác

đồ A hoặc phác đồ B căn cứ vào vị trí tổn thương (phổi, ngoài phổi), độ tuổi (người lớn, trẻ em)

Trong quá trình điều trị phác đồ A, phác đồ B nếu người bệnh không âm hóa (sau giai đoạn tấn công) hoặc thất bại (sau 5 tháng điều trị) cần được làm Xpert và/ hoặc kháng sinh đồ với thuốc lao hàng 1 (tùy nguồn lực và thể bệnh) Căn cứ vào kết quả kháng R để chỉ định điều trị phù hợp: Nếu kết quả kháng R: Ưu tiên thu nhận vào phác đồ chuẩn 9 tháng nếu đủ điều kiện: Tiêu chuẩn thu nhận: Lao phổi kháng R, chưa có tiền sử dùng thuốc lao hàng hai có trong phác đồ hoặc dùng dưới 1 tháng Tiêu chuẩn loại trừ: Có bằng chứng kháng hoặc không có hiệu lực với 1 thuốc trong phác đồ (trừ H) Có thai hoặc cho con

bú, người mẫn cảm với bất kỳ thuốc nào trong phác đồ, không dung nạp thuốc hoặc có nguy cơ ngộ độc thuốc (tương tác thuốc)

Lao ngoài phổi: nhân có khoảng QTc >=500ms trên điện tâm đồ, bệnh nhân có men gan cao gấp 3-4 lần mức bình thường (SGOT, SGPT: 120 - 160U/L, AST/ALT: 60 - 120UI/L), bệnh nhân bị viêm dây thần kinh thị giác

và thần kinh ngoại vi Trường hợp không đủ điều kiện thu nhận vào phác đồ 9 tháng, có thể chuyển sang phác đồ 20 tháng (Sử dụng phác đồ chuẩn 20 tháng Ngoại trừ phụ nữ có thai, bệnh nhân suy gan, thận, đái tháo đường cần chỉnh liều hoặc phác đồ cá nhân truyền thống) [29]

Nếu kết quả không kháng R: Kết quả Xpert (lao phổi, lao màng não) không kháng R: Tiếp tục điều trị và làm XN nuôi cấy, kháng sinh đồ (KSĐ) hàng 1 (LPA hoặc KSĐ truyền thống) để điều chỉnh phác đồ cá nhân Kết quả nuôi cấy, KSĐ hàng 1 (lao ngoài phổi khác) không kháng R: Điều chỉnh phác

Trang 21

đồ cá nhân căn cứ vào kết quả KSĐ hàng 1 đối với các thuốc khác R Trong quá trình điều trị PĐ A, PĐ B nếu người bệnh không dung nạp thì điều chỉnh phác đồ cá nhân phù hợp

(2) Phác đồ điều trị lao kháng thuốc

Nguyên tắc xây dựng phác đồ: “Phác đồ cần có ít nhất 5 thuốc có hiệu lực, bao gồm 4 thuốc lao hàng hai chủ đạo (1 thuốc nhóm A, 1 thuốc nhóm B,

ít nhất 2 thuốc nhóm C) và Pyrazinamid Trường hợp không có đủ các thuốc có hiệu lực để xây dựng phác đồ như trên, có thể sử dụng các thuốc nhóm D2, D3

để đảm bảo đủ 5 loại thuốc” Khi bệnh nhân có kháng với thuốc FQs (nhóm A) hoặc thuốc tiêm hàng hai (nhóm B), cần thay thế thuốc khác, tuy nhiên vẫn theo nguyên tắc như đối với bệnh nhân kháng R/MDR-TB

Sử dụng thuốc tiêm còn nhạy cảm và có thể sử dụng trong thời gian dài (12 tháng hoặc trong suốt liệu trình) Nếu có kháng với tất cả các thuốc tiêm thì khuyến cáo sử dụng loại thuốc mà bệnh nhân chưa từng sử dụng hoặc không

sử dụng thuốc tiêm Sử dụng Fluoroquinolone thế hệ mới: Cân nhắc việc sử dụng các thuốc mới theo khuyến cáo và hướng dẫn của TCYTTG (Bedaquiline, Delamanid), cân nhắc việc sử dụng Isoniazid liều cao nếu kết quả KSĐ không kháng kat G hoặc kháng H ở nồng độ thấp [3], [29]

Phác đồ chuẩn ngắn hạn điều trị lao đa kháng: 4-6 Km Lfx Pto Cfz Z H liều cao E / 5 Lfx Cfz Z E

Tiêu chuẩn thu nhận: Lao phổi kháng R, chưa có tiền sử dùng thuốc lao hàng hai có trong phác đồ hoặc dùng dưới 1 tháng

Thời điểm chỉ định: Ngay sau khi phát hiện kháng R trong thời gian chờ kết quả Hain hàng hai Quyết định điều trị tiếp tục hoặc chuyển phác đồ căn cứ vào kết quả Hain 2 Tiêu chuẩn loại trừ: Có bằng chứng kháng hoặc không có hiệu lực với 1 thuốc trong phác đồ (trừ H) Có thai hoặc cho con bú, người mẫn cảm với bất kỳ thuốc nào trong phác đồ, không dung nạp thuốc hoặc có nguy

Trang 22

cơ ngộ độc thuốc (tương tác thuốc) Lao ngoài phổi, bệnh nhân có khoảng QTc

>=500ms trên điện tâm đồ, bệnh nhân có men gan cao gấp 3-4 lần mức bình thường (SGOT, SGPT: 120 - 160U/L, AST/ALT: 60 - 120 UI/L), bệnh nhân bị viêm dây thần kinh thị giác và thần kinh ngoại vi

Phác đồ chuẩn 20 tháng: 8 Km (Cm) Lfx Pto Cs Z/12 Lfx Pto Cs Z

Cm được sử dụng thay thế cho trường hợp không dung nạp Km, dùng hàng ngày Trường hợp NB không dung nạp với Cs, có thể dùng PAS thay thế, đồng thời bổ sung E:8 Km (Cm) Lfx Pto PAS Z E /12 Lfx Pto PAS Z E

Đối tượng thu nhận: Bệnh nhân (BN) lao kháng R nhưng không đủ tiêu chuẩn thu nhận 9 tháng, không thuộc nhóm BN cần có phác đồ cá nhân:

Lao phổi kháng R đã có tiền sử dùng thuốc lao hàng hai (trừ phụ nữ có thai), Lao ngoài phổi (trừ lao màng não) kháng R/MDR-TB

Phác đồ điều trị tiền siêu kháng:

Đối tượng thu nhận: Lao phổi tiền siêu kháng thuốc có kháng với thuốc trong nhóm Quinolones, Lao phổi tiền siêu kháng thuốc có kháng với thuốc lao hàng hai dạng tiêm Nguyên tắc: Thay thế thuốc kháng bằng các thuốc có hiệu lực (danh mục tại bảng phân loại thuốc điều trị lao kháng thuốc -TCYTTG 2016) và vẫn tuân thủ nguyên tắc chung (ít nhất 5 thuốc có hiệu lực, bao gồm

4 thuốc lao hàng hai chủ đạo và Pyrazinamid Có thể sử dụng các thuốc nhóm D2, D3 để đảm bảo đủ 5 loại thuốc có hiệu lực)

Tiêu chuẩn về các thuốc có thể hiệu lực: Thuốc chưa được sử dụng trong phác đồ mà người bệnh đã thất bại, KSĐ còn nhạy (dựa trên kết quả KSĐ đáng tin cậy), không có kháng chéo (mức độ cao) với thuốc đã kháng, không có tiền

sử tiếp xúc với BN đã kháng thuốc đó, khuốc có tỷ lệ kháng thấp trong nhóm

BN tương tự (theo kết quả điều tra kháng thuốc) Tuy nhiên điều kiện này chỉ

sử dụng để tham khảo khi không có đầy đủ thông tin KSĐ của BN hoặc KSĐ không đáng tin cậy [3], [29]

Trang 23

Một số lưu ý:

Trường hợp tiền siêu kháng với FQs: Có thể sử dụng FQs thế hệ 3, 4 (Lfx, Mfx, Gfx) nếu có đủ bằng chứng KSĐ còn nhạy với các thuốc này (dù đã kháng với Ofx) Trường hợp không có KSĐ cho FQs thế hệ 3, 4, có thể cân nhắc sử dụng khi người bệnh chưa có tiền sử điều trị những thuốc này trên 1 tháng Tuy nhiên, nếu chỉ định FQs trong trường hợp này cần bổ sung thêm 1 thuốc khác phù hợp (thuộc nhóm C, D) để đảm bảo hiệu lực của phác đồ

Trường hợp tiền siêu kháng với thuốc tiêm hàng hai: Nếu chỉ kháng với

1 số thuốc tiêm, cân nhắc sử dụng các thuốc tiêm còn lại (bao gồm cả S) theo tiền sử điều trị, KSĐ, xem xét đến tính kháng chéo Đối với một số thuốc hiện chưa có KSĐ tin cậy (Pto, Cs, PAS), căn cứ vào tiền sử điều trị của NB để chỉ định Một số trường hợp mặc dù BN đã dùng thuốc này trong phác đồ trước đây, nếu không còn lựa chọn khác vẫn cần sử dụng lại để bổ sung vào phác đồ tiền siêu kháng nhằm đảm bảo hiệu lực Các phân tích cho thấy tỷ lệ thành công cao hơn ở BN có kháng thuốc lao hàng hai khi dùng ít nhất 6 thuốc trong giai đoạn tấn công và 4 thuốc trong giai đoạn duy trì [5]

Phác đồ siêu kháng: Nguyên tắc xây dựng phác đồ tương tự với NB tiền siêu kháng Tuy nhiên, do người bệnh đã kháng đồng thời với các thuốc FQs

và thuốc tiêm hàng hai nên sẽ khó khăn hơn trong việc lựa chọn thuốc có hiệu lực, nhất là đối với người bệnh trước đây đã sử dụng hầu hết các thuốc hàng hai sẵn có trong thời gian dài hoặc tái phát, thất bại phác đồ đa kháng Cần ưu tiên sử dụng các thuốc mới, thuốc có hiệu lực cao nhất, đồng thời tăng cường hơn nữa việc giám sát điều trị, quản lý phản ứng bất lợi, tư vấn kỹ cho người bệnh và người người nhà đảm bảo tuân thủ hướng dẫn để đạt kết quả điều trị tốt nhất vì đây là cơ hội điều trị cuối cùng cho người bệnh Phác đồ cá nhân: Đối tượng thu nhận lao kháng R/MDR-TB không đủ tiêu chuẩn áp dụng phác

đồ chuẩn, bao gồm: Lao màng não (tùy thuộc lứa tuổi, tiền sử điều trị), phụ nữ

Trang 24

có thai hoặc cho con bú, lao phổi đa kháng thuốc nghiêm trọng: Không dung nạp, mẫn cảm, có nguy cơ ngộ độc thuốc (tương tác thuốc) với bất kỳ thuốc nào trong phác đồ chuẩn Một số trường hợp đặc biệt cần điều chỉnh liều thuốc hoặc không nên sử dụng một số thuốc: Bệnh nhân có khoảng QT >=500ms trên điện tâm đồ, suy gan, suy thận, đái tháo đường, động kinh, viêm dây thần kinh thị giác và thần kinh ngoại vi Nguyên tắc: thay thế thuốc không dung nạp, thuốc không phù hợp bằng các thuốc khác và đảm bảo “ít nhất 5 thuốc có hiệu lực, bao gồm 4 thuốc lao hàng hai có hiệu lực (1 thuốc nhóm A, 1 thuốc nhóm

B, ít nhất 2 thuốc nhóm C) và Pyrazinamid Trường hợp không có đủ các thuốc

có hiệu lực để xây dựng phác đồ như trên, có thể sử dụng các thuốc nhóm D2, D3 để đảm bảo đủ 5 loại thuốc” [5]

Phác đồ điều trị kháng đơn và nhiều thuốc: hiện nay, CTCLQG chưa có chủ trương sàng lọc rộng rãi để phát hiện kháng nhiều thuốc, tuy nhiên BN có thể được phát hiện tình cờ Cần lưu ý đối chiếu thời điểm nhận kết quả kháng sinh đồ và thời điểm lấy mẫu, căn cứ vào phác đồ điều trị trong khoảng thời gian này để dự báo khả năng kháng thuốc mắc phải Kết quả kháng sinh đồ có thể không phản ánh đúng tình trạng kháng thuốc ở thời điểm hiện tại) Phác đồ

để điều trị người bệnh kháng đơn và nhiều thuốc cần được theo dõi, đánh giá theo lô bệnh riêng

(3) Điều trị lao cho những trường hợp đặc biệt

Điều trị lao ở phụ nữ có thai hoặc cho con bú: Sử dụng phác đồ điều trị 2RHZE/4RHE, không dùng Streptomycin vì có khả năng độc cho tai thai nhi Nên dùng vitamin B6 liều 25mg hàng ngày nếu có dùng INH Thuốc Rifampicin tương tác với thuốc tránh thai, làm giảm tác dụng của thuốc tránh thai Vì vậy nếu phụ nữ đang uống thuốc tránh thai điều trị lao bằng phác đồ có

có rifampicin có thể chọn một trong hai giải pháp: hoặc dùng thuốc tránh thai

có chứa liều lượng estrogen cao hơn hoặc dùng biện pháp tránh thai khác [3]

Trang 25

Trường hợp người bệnh lao có bệnh lý gan Nếu người bệnh có tổn thương gan nặng từ trước thì phải được điều trị nội trú tại bệnh viện và theo dõi chức năng gan trước và trong quá trình điều trị Phác đồ điều trị sẽ do bác sĩ chuyên khoa quyết định tuỳ khả năng dung nạp thuốc của người bệnh Sau khi người bệnh dung nạp thuốc tốt, men gan không tăng và có đáp ứng tốt về lâm sàng, có thể chuyển điều trị ngoại trú và theo dõi sát Người bệnh lao có bệnh gan mạn tính thì nếu chức năng gan là bình thường: có thể tiếp tục điều trị và không cần thiết xét nghiệm trừ khi bệnh nhân có triệu chứng của nhiễm độc gan Nếu men gan cao ít hơn 2 lần giới hạn trên của bình thường và không kèm triệu chứng nhiễm độc gan, bệnh nhân có thể được bắt đầu điều trị nhưng phải theo dõi đánh giá triệu chứng của nhiễm độc gan và các chỉ số men gan hàng tháng Nếu men gan cao > 2 lần giới hạn trên của mức bình thường, ngừng điều trị lao và phải tiếp tục quản lý tại bệnh viện

Bệnh nhân có bệnh gan mạn tính không nên dùng pyrazinamid, isoniazid

và rifampicin có thể kết hợp một hoặc hai loại thuốc không độc với gan như streptomycin và ethambutol Hoặc kết hợp với một thuốc nhóm fluoroquinilone Người bệnh lao có viêm gan cấp tính (ví dụ như viêm gan siêu vi cấp tính) không liên quan đến lao hoặc điều trị lao Đánh giá lâm sàng là cần thiết trong việc đưa ra quyết định điều trị Trong một số trường hợp có thể trì hoãn việc điều trị lao cho đến khi bệnh viêm gan cấp tính đã điều trị ổn định Trong trường hợp cần thiết phải điều trị bệnh lao trong viêm gan cấp tính, viêm gan không

ổn định hoặc tiến triển (có men gan cao gấp 3 lần mức ban đầu), có thể cân nhắc một trong các lựa chọn sau đây tùy thuộc vào mức độ tiến triển [30]

Mức độ tiến triển càng nặng thì phác đồ lựa chọn cần sử dụng càng ít thuốc độc với gan Các lựa chọn có thể như sau: giảm còn 2 thuốc (thay vì 3 thuốc độc với gan): 9 HRE, 2 HRSE/6 RH, 6-9 RZE Chỉ sử dụng 1 thuốc độc với gan: 2 HES/10 HE, không sử dụng thuốc độc với gan: 18-24 SE FQs

Trang 26

Trường hợp người bệnh được xác định có tổn thương gan do thuốc lao: ngừng

sử dụng những thuốc lao gây độc cho gan, xem xét sử dụng thuốc fluroquinolones nếu việc điều trị lao cần thiết, điều trị hỗ trợ chức năng gan cho đến khi men gan về bình thường, hết vàng da Cần theo dõi lâm sàng và men gan Nếu không đáp ứng hoặc có biểu hiện viêm gan do thuốc, chuyển đến cơ

sở chuyên khoa để điều trị [30]

Người bệnh lao có suy thận thì phác đồ 2RHZ/4RH có thể áp dụng điều trị lao cho người bệnh suy thận Các loại thuốc đầu tay (rifampicin, isoniazid, pyrazinamid) và ethionamide, prothionamide hoàn toàn chuyển hóa qua gan,

có thể được sử dụng một cách an toàn với liều bình thường ở những bệnh nhân

có suy thận Tuy nhiên, có thể thay đổi phác đồ điều trị và liều lượng khi có suy thận nặng và ethionamide/prothionamide cũng được lựa chọn trong phác đồ điều trị ở bệnh nhân đa kháng thuốc có suy thận (hiệu chỉnh liều khi có suy thận nặng) Đối với bệnh nhân suy thận nặng, chạy thận nhân tạo: trong suy thận nặng hiệu chỉnh liều thuốc lao điều trị là cần thiết được tính theo độ thanh thải của creatinin Isoniazid đôi khi gây ra bệnh não ở những bệnh nhân có suy thận

và trong những ngày chạy thận (bổ sung điều trị pyridoxine ngăn chặn bệnh thần kinh ngoại vi) Trường hợp bệnh lao nặng nguy cơ cao, đe dọa tính mạng: lựa chọn lợi ích và nguy cơ, có thể lựa chọn Streptomycin và ethambutol điều chỉnh liều là cần thiết trong suy thận, liều điều trị được tính theo độ thanh thải của creatinin Trong trường hợp cần thiết phải điều trị lao đa kháng, việc dùng thuốc chống lao hàng 2 cho bệnh nhân suy thận phải hết sức chú ý liều lượng

và thời gian giữa các liều [30]

Người bệnh lao mắc đái tháo đường (ĐTĐ) thì điều trị cũng giống như đối với tất cả các bệnh nhân khác, bệnh nhân ĐTĐ có nguy cơ tổn thương thần kinh ngoại vi, thuốc INH có nguy cơ cao viêm thần kinh ngoại vi, do đó nên dùng thêm pyridoxin (10-25mg/ngày) Kết hợp chặt chẽ với thầy thuốc chuyên

Trang 27

khoa để kiểm soát đường huyết, các biến chứng của ĐTĐ Đảm bảo tối ưu kiểm soát đường huyết, khi đường huyết ổn định theo dõi lượng đường trong máu hàng tháng, giáo dục bệnh nhân tuân thủ điều trị, chế độ ăn uống, hoạt động thể chất Xem xét đến tương tác thuốc trong việc kết hợp điều trị lao và điều trị ĐTĐ (rifampicin với nhóm sulphonylurea), cân nhắc sử dụng thuốc hạ đường máu bằng insulin, nhóm thuốc ít gây tương tác với thuốc lao: biguanide (ví dụ: metformin, không có tương tác với rifampicin, tuy nhiên, metformin gây tác dụng phụ đến hệ tiêu hóa khi kết hợp với thuốc lao và thận trọng những trường hợp suy gan, thận)

Người bệnh lao nhiễm HIV/AIDS thì các thuốc chống lao có tác dụng tốt với bệnh lao ở người bệnh lao/HIV Điều trị lao cho người bệnh HIV/AIDS nói chung không khác biệt so với người bệnh không nhiễm HIV/AIDS Khi điều trị cần lưu ý một số điểm sau: tiến hành điều trị lao sớm ở người HIV có chẩn đoán lao Phối hợp điều trị thuốc chống lao với điều trị dự phòng nhiễm trùng cơ hội khác bằng cotrimoxazol và ARV càng sớm càng tốt, ngay sau khi người bệnh dung nạp thuốc chống lao (sau 2 tuần đầu tiên) Thận trọng khi điều trị phối hợp ARV vì có hiện tượng tương tác thuốc giữa Rifampicin với các thuốc ức chế men sao chép ngược Non - nucleocide và các thuốc ức chế men protease Hội chứng phục hồi miễn dịch có thể xảy ra ở một số bệnh nhân nhiễm HIV điều trị lao có sử dụng thuốc kháng virus biểu hiện bằng các triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng nặng lên - điều trị triệu chứng, trong trường hợp nặng

có thể sử dụng corticosteroid với liều lượng 1mg/kg trong 1-2 tuần

Một số lưu ý khi điều trị lao kháng thuốc: Đối với phụ nữ có thai tránh dùng thuốc tiêm Phần lớn các thuốc tiêm Aminoglycoside không nên dùng trong các phác đồ cho người bệnh mang thai, có thể rất độc hại đối với việc phát triển thính lực của thai nhi Capreomycin có thể gây độc cho tai thai nhi, nhưng lại là thuốc tiêm sẽ được lựa chọn nếu phải dùng một loại thuốc tiêm

Trang 28

trong trường hợp bệnh nặng Lúc này capreomycin có thể được sử dụng cách nhật để giảm thiểu tác hại đối với thai nhi Việc trì hoãn thuốc tiêm trong giai đoạn thai kỳ là cần thiết, tuy nhiên cần sử dụng ngay sau sinh để tăng cường hiệu lực của phác đồ

Đối với người bệnh lao màng não, lưu ý khả năng thấm qua hàng rào máu não của các thuốc: Ngấm tốt: FQs, Pto, Cs, Lzd, Z, H Ngấm khi đang có phản ứng viêm: Km, S Ngấm kém: PAS, E

1.4.2 Quản lý bệnh nhân lao phổi

1.4.2.1 Nguyên tắc quản lý

- Tất cả các bác sĩ (công và tư) tham gia điều trị người bệnh lao phải được tập huấn theo hướng dẫn của Chương trình Chống lao Quốc gia và báo cáo theo đúng quy định

- Sử dụng phác đồ chuẩn thống nhất trong toàn quốc

- Điều trị sớm ngay sau khi được chẩn đoán

- Điều trị phải được theo dõi và kiểm soát trực tiếp:

Kiểm soát việc tuân thủ điều trị của người bệnh, theo dõi kết quả xét nghiệm đờm, theo dõi diễn biến lâm sàng, xử trí kịp thời các biến chứng của bệnh và tác dụng phụ của thuốc Với bệnh lao trẻ em phải theo dõi cân nặng hàng tháng khi tái khám để điều chỉnh liều lượng thuốc Với bệnh lao đa kháng: Phải kiểm soát chặt chẽ việc dùng thuốc hàng ngày trong cả liệu trình điều trị Phối hợp chặt chẽ giữa các trung tâm - điểm điều trị - tỉnh lân cận trong quản

lý điều trị bệnh nhân lao đa kháng

Người bệnh lao đa kháng nên điều trị nội trú (khoảng 2 tuần) tại các trung tâm/điểm điều trị lao đa kháng để theo dõi khả năng dung nạp và xử trí các phản ứng bất lợi của thuốc (có thể điều trị ngoại trú ngay từ đầu cho người bệnh tại các địa phương nếu có đủ điều kiện: gần trung tâm điều trị lao đa kháng, nhân lực đảm bảo cho việc theo dõi và giám sát bệnh nhân một cách chặt chẽ)

Trang 29

Giai đoạn điều trị ngoại trú - điều trị có kiểm soát trực tiếp (DOT) có thể thực hiện tại các tuyến: quận huyện, xã phường, tái khám hàng tháng tại các trung tâm/điểm điều trị lao đa kháng để theo dõi diễn biến lâm sàng, xử trí kịp thời biến chứng của bệnh và tác dụng phụ của thuốc, theo dõi các xét nghiệm, X-quang và một số thăm khám cần thiết khác

- Thầy thuốc cần tư vấn đầy đủ cho người bệnh trước, trong và sau khi điều trị để người bệnh thực hiện tốt liệu trình theo quy định

- Chương trình Chống lao Quốc gia cung cấp thuốc chống lao đảm bảo chất lượng, miễn phí, đầy đủ và đều đặn

- Đối với người bệnh lao đa kháng, cần thực hiện chăm sóc giảm nhẹ và

hỗ trợ tâm lý xã hội trong và sau quá trình điều trị

1.4.2.2 Quy trình quản lý điều trị bệnh nhân lao

Bước 1: Đăng ký điều trị

- Đăng ký sớm - Nhập sổ đăng ký điều trị

- Số đăng ký điều trị - Phát thẻ người bệnh

- Phiếu điều trị có kiểm soát - Tư vấn người bệnh

- Chuyển về xã điều trị - Nhập sổ quản lý điều trị lao tuyến xã

Bước 2: Cấp phát thuốc

- Nhận thuốc hàng tháng ở phòng khám - Cấp phát thuốc 7 ngày/lần

- Biên bản kiểm nhập thuốc - Phát thuốc đúng chỉ định

- Ghi danh sách thuốc cấp phát - Có người nhận thuốc ký tên

Bước 3: Giám sát điều trị

- Vãng gia 1 tháng/lần - Cấp thuốc 1 tuần/lần (phác đồ 6 tháng)

- Tiêm streptomycine, uống thuốc tại trạm (giai đoạn tấn công lao tái phát)

- Tư vấn bệnh nhân - Ghi phiếu giám sát điều trị

Trang 30

Bước 4: Theo dõi điều trị

- Theo dõi việc dùng thuốc - Đáp ứng lâm sàng

- Theo dõi Xquang - Theo dõi tác dụng phụ của thuốc

- Theo dõi cân nặng - Xét nghiệm đờm

Bước 5: Kết luận sau kết thúc điều trị

- Chết - Bỏ điều trị - Chuyển đi

- Không đánh giá

1.5 Một số yếu tố liên quan đến kết quả điều trị lao

1.5.1 Vi khuẩn

- Số lượng vi khuẩn và sự đột biến kháng thuốc

Trong quá trình phát triển, khi số lượng vi khuẩn đạt đến một mức nhất định sẽ xuất hiện một số vi khuẩn phát triển khác thường, đột biến và trở nên kháng thuốc còn gọi là kháng thuốc tự nhiên Hiện tượng này xảy ra với tất cả các thuốc chống lao đặc hiệu Mỗi loại thuốc có tỷ lệ đột biến khác nhau: Rifampixin 10-8

Isoniazid 10-6

Pyrazinamid 10-6

Ethambutol 10-6 Streptomixin 10-6 Thiacetazol 10-3 Quần thể vi khuẩn lao càng lớn tỷ lệ vi khuẩn đột biến kháng thuốc càng cao Qua nghiên cứu các bệnh phẩm lấy từ bệnh nhân lao chưa điều trị lao bao giờ đã có vi khuẩn lao kháng thuốc Số lượng vi khuẩn lao tùy theo từng loại tổn thương: Trong hang lao kích thước trung bình 2 cm thông với phế quản có khoảng 108 vi khuẩn lao, một tổn thương nốt cùng kích thước tương tự chỉ có

102 vi khuẩn lao Trong 1 cm2 vách hang lao có từ 1010- 1012 vi khuẩn Như vậy một hang lao có kích thước 2 cm trước khi điều trị đã có 1 vi khuẩn kháng với rifampixin, 100 vi khuẩn kháng với INH, PZA, EMB, SM Khi điều trị nếu chỉ cho một thứ thuốc đặc hiệu thì các vi khuẩn lao chịu tác dụng sẽ bị tiêu

Trang 31

diệt, nhưng số vi khuẩn lao đột biến kháng thuốc sẽ tồn tại và dần dần phát triển thành một quần thể kháng thuốc Phối hợp các thuốc chống lao nhằm hạn chế

sự đột biến kháng thuốc của vi khuẩn lao

- Chuyển hoá của vi khuẩn Chuyển hoá của vi khuẩn lao phụ thuộc loại tổn thương như hang, nốt, bã đậu độ pH và Oxy tại vùng tổn thương Tại hội nghị chống lao quốc tế lần thứ 24 tại Brucxen (Bỉ) ông Mittchson.D và Dickinson J.M đã chia quần thể vi khuẩn lao trong các tổn thương thành 4 nhóm: nhóm A gồm những vi khuẩn khu trú ở vách hang lao có đủ oxy, pH kiềm, thuận lợi cho sự phát triển của vi khuẩn, là nhóm vi khuẩn phát triển mạnh, số lượng lớn, nằm ngoài tế bào Nhóm này bị tiêu diệt nhanh bởi các thuốc rifampixin, isoniazid, streptomixin; nhóm B gồm những vi khuẩn khu trú

ở vách hang lao nhưng sâu hơn, pH kiềm, phân áp oxy thấp nên vi khuẩn phát triển chậm Nhóm này chỉ có rifampixin, isoniazid có tác dụng; nhóm C gồm những vi khuẩn đã bị thực bào, nằm trong đại thực bào, vi khuẩn phát triển rất chậm vì pH toan Nhóm này chỉ có pyrazinamid có tác dụng, isoniazid ít tác dụng, còn streptomixin không có tác dụng; nhóm D gồm những vi khuẩn nằm trong đại thực bào, hoàn toàn không phát triển, không chuyển hoá gọi là những

vi khuẩn lao "nằm ngủ", các thuốc chống lao không có tác dụng Số lượng vi khuẩn của nhóm này ít, có thể bị tiêu diệt bởi hệ thống miễn dịch của cơ thể Các thuốc chống lao có khả năng diệt nhanh vi khuẩn lao thuộc nhóm A, nhưng rất khó với nhóm B và C Vì vậy phải điều trị lâu dài nhằm tiêu diệt triệt để nhóm B và C để tránh hiện tượng tái phát

1.5.2 Thuốc

Rifampixin: ức chế sự tổng hợp Acid nucleic của vi khuẩn lao, hình thành một phức hợp với ARN-polimerase làm men này ngừng hoạt động và không tổng hợp được các mạch ARN mới

Trang 32

Streptomixin, Kanamyxin, Viomyxin: ức chế sự tổng hợp các protein của

vi khuẩn lao

Isoniazid, Ethambutol: phá hủy màng của vi khuẩn làm mất tính kháng toan của vi khuẩn, ức chế sự tổng hợp polysarcarit của màng vi khuẩn trong đó

có các Acid mycolic

- Liều lượng thuốc và nồng độ thuốc

Tác dụng diệt khuẩn của thuốc phụ thuộc vào nồng độ thuốc đạt được trong huyết thanh và trong các tổn thương Nồng độ này liên quan đến liều lượng thuốc và cách dùng thuốc

* Trong huyết thanh có 2 nồng độ cần lưu ý:

+ Nồng độ huyết thanh tối đa: CSM (Concentration Serique Maximum) còn gọi là đỉnh huyết thanh Nồng độ này tùy theo từng thuốc và liều lượng thuốc, với nồng độ này thuốc có tác dụng diệt vi khuẩn lao tốt nhất Các thuốc chống lao thường đạt được nồng độ này sau 3 giờ Muốn đạt dược nồng độ này cần uống thuốc cùng một lúc và uống vào lúc đói để hạn chế sự phá hủy thuốc của các men tiêu hoá và hạn chế lượng thuốc gắn vào protein huyết tương

+ Nồng độ ức chế tối thiểu: CMI (Concentration Minima Inhibitrice) là nồng độ thấp nhất của thuốc có khả năng ức chế sự phát triển của vi khuẩn lao

So sánh giữa nồng độ huyết thanh tối đa và nồng độ ức chế tối thiểu người ta

có một hệ số gọi là hệ số vượt Hệ số vượt càng lớn thì tác dụng của thuốc càng mạnh Các thuốc muốn đạt được tác dụng diệt khuẩn thì hệ số vượt phải là nồng

độ thuốc trong tổn thương: rất quan trọng vì là nơi thuốc tác dụng trực tiếp với

vi khuẩn lao Người ta thường quan tâm đến tỷ số giữa nồng độ thuốc trong tổn thương và nồng độ thuốc trong huyết thanh

Thời gian tiềm tàng của thuốc

Là thời gian vi khuẩn phát triển trở lại ở môi trường không có thuốc sau khi bị tác động của một số thuốc trong thời gian từ 6h - 12h Thời gian tiềm

Trang 33

tàng thay đổi tùy theo từng loại thuốc, các thuốc chống lao có thời gian tiềm tàng khác nhau và hầu hết tương đối dài do đó có thể dùng điều trị cách quãng (isoniazid, streptomixin, rifampixin, pyrazinamid, ethambutol) Thuốc không

có thời gian tiềm tàng (thiacetazon) không thể dùng điều trị cách quãng được

1.5.3 Vấn đề cơ địa

Trước đây khi không có các thuốc chống lao đặc hiệu thì yếu tố cơ địa

và các yếu tố khác như: tuổi, giới, mức sống, nghề nghiệp, làm việc quá sức, rối loạn thần kinh, nội tiết Rất được quan tâm vì các yếu tố đó có tác động đến sự xuất hiện, diễn biến và kết quả của điều trị bệnh lao Ngày nay vì có thuốc chống lao đặc hiệu nên các yếu tố trên chỉ đóng vai trò thứ yếu Người ta còn nhận thấy rằng khả năng acetyl hoá ở gan làm INH mất tác dụng và tai biến của thiacetazon với những bệnh nhân lao khác nhau tùy theo chủng tộc và từng vùng trên thế giới

1.6 Các nghiên cứu trong và ngoài nước

1.6.1 Trên thế giới

Ngoài việc cung cấp điều trị và giảm hiệu quả tỷ lệ tử vong, mục đích chính của các chương trình kiểm soát bệnh lao (TB) ở các nước có tỷ lệ mắc lao cao là để giảm lây truyền từ các trường hợp mắc bệnh lao Sự phát triển của lao ở một cá nhân bị phơi nhiễm là một quá trình gồm hai giai đoạn lao tiền ẩn

và phát triển thành bệnh lao Khoảng 5% trường hợp bị nhiễm bệnh sẽ tiến triển nhanh đến bệnh lao trong hai năm đầu sau khi nhiễm [35] Khoảng 10% người

có nhiễm trùng tiềm ẩn sẽ kích hoạt lại, một nửa trong năm đầu tiên, phần còn lại trong suốt cuộc đời của họ [34], [36] chủ yếu bằng cách kích hoạt lại trực khuẩn lao không hoạt động mắc phải từ nhiễm trùng tiên phát hoặc ít thường xuyên hơn bằng cách tái nhiễm Nhìn chung, khoảng 10 - 15% những người nhiễm bệnh tiếp tục phát triển sau này trong cuộc sống [38], nhưng nguy cơ tiến triển cao hơn nhiều ở mức khoảng 10% mỗi năm [38], [39] ở người dương

Trang 34

tính với HIV và người suy giảm miễn dịch Nguy cơ tiến triển thành nhiễm trùng và bệnh là hai khía cạnh khác nhau và sự hiểu biết đúng đắn về các yếu

tố này là điều cần thiết để hoạch định chiến lược kiểm soát bệnh lao [34]

Nguy cơ nhiễm trùng sau phơi nhiễm bệnh lao chủ yếu là do yếu tố ngoại sinh và được xác định bởi sự kết hợp nội tại về sự lây nhiễm của trường hợp nguồn, sự gần gũi tiếp xúc và các yếu tố nguy cơ xã hội và hành vi bao gồm hút thuốc, rượu và ô nhiễm không khí trong nhà Tương tự, điều kiện kéo dài thời gian tiếp xúc với một bệnh truyền nhiễm bao gồm các yếu tố liên quan đến

hệ thống y tế như chậm trễ trong chẩn đoán Các yếu tố làm tăng sự tiến triển của nhiễm trùng bệnh chủ yếu là nội sinh (liên quan đến vật chủ) Điều kiện làm thay đổi đáp ứng miễn dịch làm tăng nguy cơ tiến triển đối với bệnh đồng nhiễm HIV là điều quan trọng Tuy nhiên, ở cấp độ dân số tác động yếu tố này

có thể thay đổi tùy thuộc vào tỷ lệ lưu hành tại địa phương có HIV Bệnh tiểu đường, rượu, suy dinh dưỡng, khói thuốc lá, và ô nhiễm không khí trong nhà là những yếu tố ảnh hưởng đến một phần lớn hơn của dân số và đẩy nhanh tiến triển thành bệnh lao

1.6.2 Tại Việt Nam

Theo báo cáo của Dự án phòng chống lao Quốc gia, kết quả điều trị lao phổi AFB(+) mới qua các năm 2006 - 2008 được duy trì tỷ lệ khỏi trên 89,2%

- 90,2%, tỷ lệ điều trị thành công duy trì ở mức 91,4 – 92,3% Tuy nhiên, 9 tháng đầu năm 2007 có đến 15/64 tỉnh thành có tỷ lệ điều trị khỏi của AFB(+) mới dưới 85% Thấp nhất là Lào Cai 64% Nguyên nhân do tỷ lệ hoàn thành điều trị khá cao, điển hình như: Hà Giang 23,9%, Lai Châu 22,5% Cũng trong giai đoạn này, tỷ lệ tử vong trong cả nước là 3,3%, thất bại là 1,1%, bỏ trị dao động từ 1,5 – 1,8% và tỷ lệ chuyển điều trị là 2,0% [13], [15], [16]

Chương trình chống lao quốc gia được tỉnh An Giang thực hiện trong nhiều năm qua đã góp phần khống chế bệnh lao ở An Giang và cả vùng đồng

Trang 35

bằng sông Cửu Long Tỷ lệ âm hóa đàm, điều trị khỏi bệnh lao phổi ở An Giang hàng năm luôn đạt trên 90%

Năm 2019, theo tổng kết của khoa lao - Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật tỉnh, đã phát hiện 4.122 bệnh nhân lao các thể trong đó có 2.122 trường hợp AFB(+) mới Lao phổi AFB âm tính (AFB(-), lao ngoài phổi khác là 800 bệnh nhân Bệnh nhân lao phổi tái phát, thất bại điều trị lại và AFB(+) khác là 1.200 người, chiếm tỷ lệ 29% tổng số bệnh nhân lao [2] An Giang là một trong những tỉnh có tỷ lệ lao đa kháng thuốc cao, tình trạng đa kháng thuốc làm cho việc điều trị bệnh lao đã khó lại càng khó hơn, làm tăng tỷ lệ tử vong do bệnh lao, không những thế vi khuẩn lao đa kháng thuốc còn có thể lây sang những người xung quanh nếu không được phát hiện và kiểm soát sớm Trong năm 2017 khám phát hiện 106 lao kháng thuốc trường hợp trong đó lao mới là 18 trường hợp, lao tái phát 68, lao bỏ trị là 7, lao bỏ trị điều trị lại là 2, các thể lao khác là 11 [16]

Trang 36

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Bệnh nhân lao phổi được quản lý và điều trị tại các Trung tâm Y tế huyện, thị xã, thành phố tỉnh An Giang năm 2020 - 2021

2.1.2 Tiêu chuẩn chọn mẫu

- Mục tiêu 1 và 2:

Bệnh nhân lao phổi được quản lý và điều trị tại các Trung tâm y tế huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh An Giang từ tháng 05/2020- 05/2021

Bệnh nhân từ 15 tuổi trở lên

Bệnh nhân cư trú tại tỉnh An Giang từ 6 tháng trở lên

Bệnh nhân chuyển vùng khác trong thời gian nghiên cứu

Đối tượng mất dấu và chưa điều trị hết phác đồ

Bệnh nhân không đồng ý trả lời câu hỏi hoặc không hợp tác

- Mục tiêu 3:

Bệnh nhân đa kháng thuốc, bệnh nhân siêu kháng thuốc

2.1.4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Địa điểm: Các Trung tâm y tế tại tỉnh An Giang

Thời gian: từ 05/2019-05/2021

Trang 37

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp nghiên cứu can thiệp

- Z(1- α/2): hệ số tin cậy Với độ tin cậy 95%, ta có Z(1- α/2)= 1,96

- p: tỷ lệ bệnh nhân mắc lao phổi AFB (+) tại huyện Tân Phú (2018), p= 50,96% Chọn p=0,51

- d: sai số mong muốn Chọn d=0,04

Thay vào công thức, n=600

Do chọn mẫu nhiều giai đoạn nên cỡ mẫu nghiên cứu nhân với hiệu lực thiết

kế DE=2 Cộng thêm hao hụt 10% mẫu Cỡ mẫu cần thiết là 1320 và mẫu thực

tế trong nghiên cứu của chúng tôi là 1394

* Mục tiêu 3: tất cả bệnh nhân lao phổi quản lý ở mục tiêu 1 được theo dõi đến hết phác đồ điều trị trong thời gian nghiên cứu

2.2.3 Phương pháp chọn mẫu

- Mục tiêu 1 và 2: chọn mẫu nhiều giai đoạn An Giang có 11 thành phố, huyện gồm 3 thành phố và 8 huyện

Bước 1: chọn Trung tâm y tế nghiên cứu Bốc thăm ngẫu nhiên chọn 1 thành phố trong 3 thành phố (Long Xuyên, Châu Đốc, Tân Châu) và 3 huyện trong 8 huyện (Châu Phú, An Phú, Châu Thành, Chợ Mới, Phú Tân, Thoại Sơn, Tịnh Biên, Tri Tôn)

Trang 38

Bước 2: chọn xã/phường nghiên cứu Chọn toàn bộ các trạm y tế ở các thành phố và huyện đã chọn ở bước 1

Bước 3 chọn đối tượng nghiên cứu Chọn toàn bộ bệnh nhân lao phổi đang quản lý và điều trị tại các trạm y tế chọn ở bước 2

- Mục tiêu 3: chọn mẫu toàn bộ

Chọn tất cả bệnh nhân lao phổi quản lý ở mục tiêu 1 được theo dõi đến hết phác đồ điều trị trong thời gian nghiên cứu

2.2.4 Nội dung nghiên cứu

2.2.4.1 Đặc điểm chung đối tượng nghiên cứu

- Tuổi: ghi nhận theo sổ đăng ký điều trị tại các tổ chống lao và phiếu

đăng ký điều trị ở khoa lao Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh An Giang Gồm

04 nhóm để đánh giá gánh nặng bệnh lao trong độ tuổi lao động:

< 60: nhóm lao động

≥ 60: nhóm người già Mục tiêu 3 chia làm 2 giá trị là trên và dưới 60 tuổi

- Giới tính: phân chia thành 2 nhóm nam và nữ

- Nơi cư trú: có 2 giá trị là thành thị và nông thôn

- Nghề nghiệp: thể hiện qua việc làm chính chiếm 50% tổng số thời gian

trong ngày của đối tượng đem lại thu nhập chính cho đời sống chia thành 5 nhóm (Cán bộ viên chức, công nhân, nông dân, buôn bán, trẻ em, nghề khác) Nghề nghiệp Mục tiêu 3 được chia thành 2 giá trị là trí óc trí óc (viên chức, nhân viên văn phòng), chân tay (công nhân, buôn bán, nông dân, nội trợ và nghề khác)

- Trình độ học vấn: là biến số nhị phân, thể hiện cấp học mà người được

khảo sát đã học qua Có hai giá trị: ≤THCS khi đối tượng nghiên cứu có trình độ: mù chữ, TH, THCS, và ≥THPT khi đối tượng nghiên cứu có trình độ THPT,

TC/ĐH/SĐH Được thu thập bằng cách hỏi đối tượng

Trang 39

- Tình trạng kinh tế: chia thành 3 nhóm: Nghèo, cận nghèo, khá giàu

Căn cứ Thông tư số 17/2016/TT-BLĐTBXH ngày 28/6/2016, hướng dẫn xếp

hộ nghèo, cận nghèo hàng năm theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn

2016 – 2020, chia thành 02 nhóm:

+ Nghèo (thu nhập bình quân đầu người trong gia đình ≤450.000 đồng/người/tháng đối với vùng nông thôn và ≤650.000 đồng/người/tháng đối với vùng thành thị);

+ Cận nghèo (thu nhập bình quân đầu người trong gia đình ≤ 540.000 đồng/người/tháng đối với vùng nông thôn và ≤780.000 đồng/người/tháng đối với vùng thành thị (bằng 120% so với người nghèo)

- Tình trạng hôn nhân phân chia thành 3 nhóm: có gia đình và độc thân

và ly dị Mục tiêu 3 được chia thành 2 giá trị là: Có gia đình và sống một mình

2.2.4.2 Tỷ lệ các loại lao phổi

Các loại lao phổi theo tiền sử bệnh gồm 5 giá trị là:

+ Lao mới + Lao tái phát + Thất bại điều trị + Điều trị lại sau bỏ trị + Tiền sử khác bệnh lao

Bệnh lao mới mắc: là những trường hợp từ trước đến thời điểm đăng ký điều

trị chưa được chẩn đoán và dùng thuốc kháng lao hoặc nếu có dùng thì thời gian dưới 1 tháng [3] Lao phổi AFB (+) mới: là những trường hợp được chẩn đoán lao phổi mới có bằng chứng vi khuẩn học gồm: kết quả xét nghiệm đàm dương tính tối thiểu từ 02 tiêu bản AFB (+) từ 02 mẫu đàm khác nhau; hoặc một tiêu bản đàm AFB (+) và có hình ảnh nghi lao trên X-quang phổi hoặc một tiêu bản đàm AFB (+) và nuôi cấy dương tính [3], [29] Hoặc theo xét nghiệm Gene Xpert MTB/ RIF dương tính, hay xét nghiệm PCR dương tính của tuyến trên chuyển về Các tỉ lệ cần tính gồm: Tỷ lệ lao phổi AFB(+) mới/100.000 dân,

tỷ lệ lao phổi AFB(+) mới/ tổng số người khám phát hiện lao, các thể lao gồm

5 nhóm: AFB (+) mới , AFB (+) khác, AFB (-) mới, AFB (-) khác, lao ngoài

Trang 40

phổi (LNP) Đánh giá mật độ AFB của lame phát hiện: Kết quả số lượng AFB trên lame phát hiện lao phổi AFB (+) được chia thành 04 nhóm theo mức định lượng mật độ vi trùng lao trong đàm: AFB < 1+, AFB (+), AFB (++), AFB

(+++)

Đọc tiêu bản xét nghiệm [3], [29]

> 10 AFB / 1 vi trường Dương tính 3 +

1 – 10 AFB / 1 vi trường Dương tính 2+

10 – 99 AFB / 100 vi trường Dương tính 1 +

1 – 9 AFB / 100 vi trường Dương tính Ghi số lượng cụ thể Không AFB / 100 vi trường Âm tính Âm tính

- Lao tái phát: người bệnh đã được điều trị lao và được thầy thuốc xác

định là khỏi bệnh, hay hoàn thành điều trị nay mắc bệnh trở lại với kết quả AFB(+)

- Thất bại điều trị: người bệnh có AFB(+) từ tháng điều trị thứ 5 trở đi,

phải chuyển phác đồ điều trị, người bệnh AFB(-) sau 2 tháng điều trị có AFB(+), người bệnh lao ngoài phổi xuất hiện lao phổi AFB(+) sau 2 tháng điều trị, người bệnh trong bất kỳ thời điểm điều trị nào với thuốc chống lao hàng 1

có kết quả xác định chủng vi khuẩn lao kháng đa thuốc

- Điều trị lại sau bỏ trị: người bệnh không dùng thuốc liên tục từ 2 tháng

trở lên trong quá trình điều trị, sau đó quay trở lại điều trị với kết quả AFB(+)

- Tiền sử khác bệnh lao

+ Lao phổi AFB (+) khác: là người bệnh đã điều trị thuốc lao trước đây với thời gian kéo dài trên 1 tháng nhưng không xác định được phác đồ và kết quả điều trị hoặc không rõ tiền sử điều trị, nay chẩn đoán là lao phổi AFB(+) + Lao phổi AFB (-) và lao ngoài phổi khác: là người bệnh đã điều trị thuốc lao trước đây với thời gian kéo dài trên 1 tháng nhưng không xác định được

Ngày đăng: 14/03/2023, 22:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thị Ngọc Ánh và Cs (2015), “Hiệu quả hai tháng điều trị tấn công lao phổi mới theo phác đồ 2RHZE/4RHE tại Bệnh Viện Lao và Bệnh Phổi Tỉnh Thái Bình”, Tạp Chí Y Học Cộng Đồng, Số 26, Tháng 12/2015, 40-45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả hai tháng điều trị tấn công lao phổi mới theo phác đồ 2RHZE/4RHE tại Bệnh Viện Lao và Bệnh Phổi Tỉnh Thái Bình
Tác giả: Trần Thị Ngọc Ánh, Cs
Nhà XB: Tạp Chí Y Học Cộng Đồng
Năm: 2015
2. Lê Xuân Bình và Cs (2019), “Chi Phí, gánh nặng chi phí liên quan đến chẩn đoán và điều trị của bệnh nhân lao phổi mới mắc tại Bệnh Viện Phạm Ngọc Thạch Quảng Nam năm 2019”, Hội Nghị Khoa Học Lao Và Bệnh Phổi Lần Thứ XII, 33-40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chi Phí, gánh nặng chi phí liên quan đến chẩn đoán và điều trị của bệnh nhân lao phổi mới mắc tại Bệnh Viện Phạm Ngọc Thạch Quảng Nam năm 2019
Tác giả: Lê Xuân Bình, Cs
Nhà XB: Hội Nghị Khoa Học Lao Và Bệnh Phổi Lần Thứ XII
Năm: 2019
3. Ngô Thanh Bình và Cs (2013), “Đánh giá đặc điểm lâm sàng, AFB (+)/Đàm và X Quang phổi của lao phổi tái phát với phát đồ 2SHRZ/6HE tại tỉnh Đồng Tháp”, Tạp Chí Y Học Thành phố Hồ Chí Minh, Tập 17, phụ bản số 1, 2013, 60-68 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá đặc điểm lâm sàng, AFB (+)/Đàm và X Quang phổi của lao phổi tái phát với phát đồ 2SHRZ/6HE tại tỉnh Đồng Tháp
Tác giả: Ngô Thanh Bình, Cs
Nhà XB: Tạp Chí Y Học Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2013
4. Thân Thị Bình và Vũ Văn Thành (2019), “Thực trạng kiến thức và thực hành tuân thủ điều trị của người bệnh lao ngoại trú tại trung tâm y tế Cao Lộc năm 2019”, Tạp chí Khoa học điều dưỡng, 03(2), tr105-112 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng kiến thức và thực hành tuân thủ điều trị của người bệnh lao ngoại trú tại trung tâm y tế Cao Lộc năm 2019
Tác giả: Thân Thị Bình, Vũ Văn Thành
Nhà XB: Tạp chí Khoa học điều dưỡng
Năm: 2019
5. Bộ Y Tế (2015), Quyết định số 4263/QĐ-BYT ngày 13 tháng 10 năm 2015 về việc ban hành Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị và dự phòng bệnh lao Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 4263/QĐ-BYT ngày 13 tháng 10 năm 2015 về việc ban hành Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị và dự phòng bệnh lao
Tác giả: Bộ Y Tế
Nhà XB: Bộ Y Tế
Năm: 2015
6. Nguyễn Văn Cừ và Cs (2019), “Kiến thức, thái độ, thực hành của bệnh nhân lao phổi mới có AFB dương tính được điều trị tại quận Ninh Kiều, Thành phố Cần Thơ năm 2009”, Tạp Chí Y Học Thành phố Hồ Chí Minh, Tập 14, số 1, 2019, 116-120 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức, thái độ, thực hành của bệnh nhân lao phổi mới có AFB dương tính được điều trị tại quận Ninh Kiều, Thành phố Cần Thơ năm 2009
Tác giả: Nguyễn Văn Cừ, Cs
Nhà XB: Tạp Chí Y Học Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2019
7. Nguyễn Văn Chánh (2020),Nghiên cứu kết quả điều trị bệnh nhân Lao phổi đa kháng thuốc bằng công thức 9 tháng 4Km Lfx Pro Cfz Z Hh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu kết quả điều trị bệnh nhân Lao phổi đa kháng thuốc bằng công thức 9 tháng 4Km Lfx Pro Cfz Z Hh
Tác giả: Nguyễn Văn Chánh
Năm: 2020
8. Lý Châu và Cs (2018), “Đánh giá tính an toàn của điều trị lao phổi kháng đa thuốc đơn thuần bằng phác đồ ngắn hạn tại Bệnh viện Phổi Hà Nội”, Tạp Chí Y Học Cộng Đồng, Tập 60 (7), 2020, 1-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tính an toàn của điều trị lao phổi kháng đa thuốc đơn thuần bằng phác đồ ngắn hạn tại Bệnh viện Phổi Hà Nội
Tác giả: Lý Châu, Cs
Nhà XB: Tạp Chí Y Học Cộng Đồng
Năm: 2020
9. Nguyễn Kiến Doanh Và Cs (2012), “Thay đổi nồng độ một số cytokine trong huyết thanh ở bệnh nhân lao phổi mới AFB (+) trước và sau điều trị”, Hội Nghị Khoa Học Nội khoa Toàn quốc lần IX, Tạp Chí Nội Khoa Việt Nam, 145-148 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thay đổi nồng độ một số cytokine trong huyết thanh ở bệnh nhân lao phổi mới AFB (+) trước và sau điều trị
Tác giả: Nguyễn Kiến Doanh, Cs
Nhà XB: Tạp Chí Nội Khoa Việt Nam
Năm: 2012
10. Vũ Quang Diễn và Cs (2017), “Thang điểm chẩn đoán định hướng lao phổi mới AFB âm tính”, Tạp Chí Y Học Việt Nam, Tập 455, Số 2, Tháng 6/2017, 104-107 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thang điểm chẩn đoán định hướng lao phổi mới AFB âm tính
Tác giả: Vũ Quang Diễn, Cs
Nhà XB: Tạp Chí Y Học Việt Nam
Năm: 2017
11. Phan Thượng Đạt (2008), “Kết quả điều trị lao phổi đa kháng thuốc bằng phác đồ với các thuốc kháng lao hàng thứ hai tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch”, Tạp Chí Y Học Thành Phố Hồ Chí Minh, 12(3), 2008, tr.149-152 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả điều trị lao phổi đa kháng thuốc bằng phác đồ với các thuốc kháng lao hàng thứ hai tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch
Tác giả: Phan Thượng Đạt
Nhà XB: Tạp Chí Y Học Thành Phố Hồ Chí Minh
Năm: 2008
13. Hoàng Hà và Cs (2016), “Kết quả điều trị bệnh nhân lao phổi AFB (+) mới bằng phác đồ 6 tháng (2HRZE/4HRE) tại Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Thái Nguyên”, Y Học Việt Nam, Tập 449, Số đặc biệt, Tháng 12/2016, 70-76 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả điều trị bệnh nhân lao phổi AFB (+) mới bằng phác đồ 6 tháng (2HRZE/4HRE) tại Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Thái Nguyên
Tác giả: Hoàng Hà, Cs
Nhà XB: Y Học Việt Nam
Năm: 2016
14. Hoàng Hà, Nguyễn Đức Bình (2016), “Kết quả điều trị bệnh nhân lao phổi AFB (+) mới bằng phác đồ 6 tháng (2HRZE/4HRE) tại Bệnh Viện Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả điều trị bệnh nhân lao phổi AFB (+) mới bằng phác đồ 6 tháng (2HRZE/4HRE) tại Bệnh Viện
Tác giả: Hoàng Hà, Nguyễn Đức Bình
Năm: 2016
15. Hoàng Hà và Cs (2020), “Thực trạng quản lý và điều trị lao tại tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2014-2018”, Tạp Chí Khoa Học và Công Nghệ Thái Nguyên, tập 225 (5), 2020, 32-37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng quản lý và điều trị lao tại tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2014-2018
Tác giả: Hoàng Hà, Cs
Nhà XB: Tạp Chí Khoa Học và Công Nghệ Thái Nguyên
Năm: 2020
17. Trần Thanh Hùng, Phạm Thị Tâm (2018), “Nghiên cứu lao phổi tái phát và những ảnh hưởng về sức khỏe, kinh tế, xã hội của bệnh nhân lao phổi tái phát tại Thành phố Cần Thơ năm 2018”, Tạp Chí Y Học Thực Hành, 876(7), 2018, tr. 29-31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu lao phổi tái phát và những ảnh hưởng về sức khỏe, kinh tế, xã hội của bệnh nhân lao phổi tái phát tại Thành phố Cần Thơ năm 2018”, "Tạp Chí Y Học Thực Hành
Tác giả: Trần Thanh Hùng, Phạm Thị Tâm
Năm: 2018
18. Nguyễn Thị Thu Hường và Cs (2018), “Kiến thức, thái độ về phòng lây nhiễm lao của người bệnh lao phổi tại Bệnh viện Phổi tỉnh Nam Định năm 2017”, Khoa Học Điều Dưỡng, Tập 1 (1), 2018, 65-71 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức, thái độ về phòng lây nhiễm lao của người bệnh lao phổi tại Bệnh viện Phổi tỉnh Nam Định năm 2017
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hường và Cs
Năm: 2018
19. Đặng Vĩnh Hiệp và Cs (2019), “Nghiên cứu mối tương quan giữa lâm sang, X Quang và số lượng TCD4 ở bệnh nhân lao phổi AFB (+) đồng nhiễm HIV”, Tạp Chí Y Học Việt Nam, Tập 488, Số 1, Tháng 3/2020, 38-42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu mối tương quan giữa lâm sang, X Quang và số lượng TCD4 ở bệnh nhân lao phổi AFB (+) đồng nhiễm HIV
Tác giả: Đặng Vĩnh Hiệp
Nhà XB: Tạp Chí Y Học Việt Nam
Năm: 2020
20. Đặng Vĩnh Hiệp (2020), “Mối tương quan giữa đặc điểm kháng thuốc lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân lao phổi tái phát sau 2 tháng điều trị”, Tạp Chí Y Học Việt Nam, Tập 499 (1 &amp; 2), Tháng 2/2021, 41-44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối tương quan giữa đặc điểm kháng thuốc lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân lao phổi tái phát sau 2 tháng điều trị
Tác giả: Đặng Vĩnh Hiệp
Nhà XB: Tạp Chí Y Học Việt Nam
Năm: 2020
21. Đặng Vĩnh Hiệp (2020), “Đánh giá một số đặc điểm lâm sàng, X Quang lồng ngực của bệnh nhân lao phổi có kháng Isoniazid”, Tạp Chí Y Học Việt Nam, Tập 498 (1), Tháng 1/2021, 8-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá một số đặc điểm lâm sàng, X Quang lồng ngực của bệnh nhân lao phổi có kháng Isoniazid
Tác giả: Đặng Vĩnh Hiệp
Nhà XB: Tạp Chí Y Học Việt Nam
Năm: 2021
22. Đặng Vĩnh Hiệp (2021), Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và tính kháng thuốc ở bệnh nhân lao phổi tái phát điều trị tại bệnh viện Phạm Ngọc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và tính kháng thuốc ở bệnh nhân lao phổi tái phát điều trị tại bệnh viện Phạm Ngọc
Tác giả: Đặng Vĩnh Hiệp
Năm: 2021

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm