Thực trạng và kết quả quản lý bệnh đái tháo đường ở người trưởng thành tại tỉnh bắc giang Thực trạng và kết quả quản lý bệnh đái tháo đường ở người trưởng thành tại tỉnh bắc giang Thực trạng và kết quả quản lý bệnh đái tháo đường ở người trưởng thành tại tỉnh bắc giang luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp
Trang 1BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI NGUYÊN
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh đái tháo đường là một bệnh rối loạn chuyển hoá mạn tính phổ biến trên thế giới cũng như ở Việt Nam Bệnh cũng được xem là “đại dịch” ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam Trong số bệnh đái tháo đường chủ yếu là đái đường týp 2, nó chiếm khoảng 85 - 95% tổng số người mắc bệnh đái tháo đường; sự bùng nổ đái tháo đường týp 2 và những biến chứng của bệnh đang là thách thức lớn với cộng đồng
Hiện nay trên thế giới có khoảng hơn 190 triệu người mắc bệnh Đái tháo đường (ĐTĐ) và số này tiếp tục tăng lên Ước tính đến năm 2010, trên thế giới
có 221 triệu người mắc bệnh ĐTĐ; năm 2025 sẽ lên tới 330 triệu người [10] Tại Hoa Kỳ, số người bị ĐTĐ tăng từ 5,3% năm 1997 lên 6,5% năm 2003 và tiếp tục tăng rất nhanh Người tuổi trên 65 bị ĐTĐ cao gấp hai lần người tuổi 45–54 Tỷ lệ bệnh tăng lên ở các nước phát triển là 42%, nhưng ở các nước đang phát triển sẽ là 170% [60],
Tại Việt Nam, điều tra năm 2001 ở 4 thành phố lớn Hà Nội, Hải Phòng, Huế và Thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ bệnh ĐTĐ là 4%, riêng quận Hoàn Kiếm (Hà Nội) lên tới 7% Phần lớn người bệnh phát hiện và điều trị muộn; Nếu không được phòng chống và cứu chữa kịp thời, bệnh dễ biến chứng, có tới 44% người bệnh ĐTĐ bị biến chứng thần kinh, 71% biến chứng về thận, 8% bị biến chứng mắt [11] Bệnh đái tháo đường thường gặp ở những đối tượng lao động, điều này cho thấy bệnh đái tháo đường không những làm tăng gánh nặng cho mỗi cá nhân, gia đình mà còn làm tăng gánh nặng cho toàn bộ nền kinh tế xã hội [10], [12]
Có rất nhiều yếu tố nguy cơ của bệnh ĐTĐ đã được xác định như yếu tố di truyền, tuổi, giới tính, nghề nghiệp, địa dư, tăng huyết áp, béo phì, sự thay đổi lối sống sinh hoạt…Rối loạn dung nạp glucose cũng là yếu tố nguy cơ có liên quan chặt chẽ với tỷ lệ phát triển bệnh ĐTĐ, tỷ lệ RLDNG sau 1 năm chuyển thành ĐTĐ là 6%, sau 2 năm là 14% và sau 5 năm là 34% [7]
Trang 3Ngày nay do sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, chúng ta ngày càng hiểu rõ hơn
về cơ chế bệnh sinh, cũng như các yếu tố nguy cơ gây bệnh Việc phát hiện sớm bệnh và các yếu tố nguy cơ gây bệnh có giá trị rất lớn trong can thiệp tích cực vào các yếu tố nguy cơ gây bệnh làm giảm tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường, làm giảm hoặc chậm các biến chứng, nâng cao chất lượng cuộc sống của người bệnh, làm giảm chi phí của xã hội, đồng thời giúp cho công tác quản lý và chăm sóc bệnh nhân đái tháo đường có hiệu quả Nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh một cách khoa học và thuyết phục khả năng ngày càng lớn của việc phòng chống bệnh đái tháo đường týp 2
Bắc Giang là tỉnh miền núi có dân số hơn 1,6 triệu người, có 230 xã, phường, thị trấn; miền núi chiếm 89,5%; hộ nghèo chiếm 30,6% Trong những năm qua bệnh nhân ĐTĐ phải đi Hà Nội khám và điều trị chiếm 80 - 90%, việc đi lại khó khăn tốn kém trong khi kinh tế của người dân còn nghèo Hiện nay, số người mắc ĐTĐ trong tỉnh có dấu hiệu ngày càng gia tăng, năm 2002 là 400 người mắc, đến nay số bệnh nhân đã tăng lên gấp 5 lần Việc phát hiện sớm bệnh đái tháo đường tại cộng đồng, cũng như việc tư vấn, quản lý điều trị bệnh là rất cần thiết
Tuy nhiên hiện nay Bắc Giang chưa có đề tài nào đánh giá về kết quả công tác quản lý bệnh ĐTĐ và các yếu tố liên quan tại cộng đồng dân cư Vì vậy
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài : “Thực trạng và kết quả quản lý bệnh đái tháo đường ở người trưởng thành tại tỉnh Bắc Giang” với mục tiêu:
1 Xác định tỷ lệ bệnh đái tháo đường ở tỉnh Bắc Giang năm 2010
2 Xác định một số yếu tố liên quan đến bệnh đái tháo đường ở cộng đồng
3 Đánh giá kết quả quản lý bệnh đái tháo đường ở cộng đồng tại Bắc Giang
Trang 4Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình hình bệnh đái tháo đường trên Thế giới và ở Việt Nam
1.1.1 Tình hình bệnh đái tháo đường trên Thế giới
Bệnh ĐTĐ là một trong những bệnh không lây phổ biến nhất trên toàn thế giới, theo Hiệp hội đái tháo đường thế giới (IDF) năm 2000 có khoảng 151 triệu người tuổi 20 – 79 mắc bệnh ĐTĐ, chiếm tỷ lệ 4,6% Nơi có tỷ lệ ĐTĐ cao nhất là khu vực Bắc Mỹ, Địa Trung Hải là 7,8% và Trung Đông, với tỷ lệ là 7,7%, tiếp đến là khu vực Đông Nam Á tỷ lệ là 5,3%, Châu Âu với tỷ lệ là 4,9%, Trung Mỹ tỷ lệ này là 3,7%, Tây Thái Bình Dương với tỷ lệ 3,6% và Châu Phi là 1,2% [10],[11],[12]
Hiện nay, khu vực Tây Thái Bình Dương và khu vực Đông Nam Á là hai khu vực có số người mắc bệnh ĐTĐ đông nhất tương ứng là 44 triệu người và
35 triệu người Những báo cáo mới đây của IDF cũng khẳng định, tỷ lệ bệnh ĐTĐ týp 2 chiếm 85% - 95% tổng số bệnh nhân ĐTĐ ở các nước phát triển và
tỷ lệ này thậm chí còn cao hơn ở các nước đang phát triển [8]
Bệnh ĐTĐ là bệnh nguy hiểm đe dọa đến tính mạng và gây ra nhiều biến chứng Theo IDF, bệnh ĐTĐ là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ tư hoặc thứ năm ở các nước phát triển và đang được coi là một dịch bệnh ở nhiều nước đang phát triển, những nước công nghiệp hoá Những biến chứng của bệnh ĐTĐ rất phổ biến (khoảng 50% bệnh nhân mắc bệnh ĐTĐ có các biến chứng) như: bệnh mạch vành, mạch máu não, bệnh mạch máu ngoại vi, bệnh lý thần kinh, suy thận, tổn thương mắt Các biến chứng này thường dẫn đến tàn tật và giảm tuổi thọ [41],[51],[55]
Bệnh ĐTĐ đang là vấn đề y tế nan giải, là gánh nặng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, với sự phổ biến của bệnh và các hậu quả nặng nề của bệnh do
Trang 5ĐTĐ tại 8 nước thuộc Châu Âu cho thấy: chi phí trực tiếp cho 10 triệu người bị bệnh ĐTĐ trong năm 1998 đã tiêu tốn 26,97 tỷ USD và chi phí trực tiếp cho điều trị bệnh ĐTĐ chiếm 3 – 6% ngân sách dành cho toàn ngành y tế Năm
1997, cả thế giới đã chi ra 1.030 tỷ USD cho điều trị bệnh ĐTĐ, trong đó chủ yếu là chi phí cho điều trị các biến chứng của bệnh
Tỷ lệ bệnh ĐTĐ týp 2 tăng nhanh theo thời gian và sự tăng trưởng kinh
tế Đầu thế kỷ XX, tần suất mắc bệnh ĐTĐ trên thế giới còn ở mức thấp, WHO ước tính năm 1985 mới có khoảng 30 triệu người trên thế giới mắc bệnh ĐTĐ, tới 1994 là 110 triệu người mắc đái tháo đường và năm 1995 đã có là 135 triệu
người mắc đái tháo đường (chiếm 4% dân số toàn cầu) Dự báo năm 2010 sẽ là
221 triệu người mắc bệnh ĐTĐ và 2025 là 330 triệu người mắc đái tháo đường (chiếm 5,4% dân số toàn cầu)
Bảng 1.1 Phân bố bệnh đái tháo đường trên thế giới
(triệu người)
Số người mắc bệnh ĐTĐ (triệu người)
Năm 1995 Năm 2000 Năm 2010
Trang 6Dự kiến trong vòng 15 năm (1995 – 2010), số người mắc ĐTĐ ở Châu Á, Châu Phi sẽ tăng lên 2 - 3 lần so với hiện nay Cụ thể: vùng Tây Á, số người mắc sẽ tăng từ 3,6 triệu lên 11,4 triệu; Đông Á, số người mắc sẽ tăng từ 21,7 triệu lên 44 triệu; Đông Nam Á sẽ từ 8,6 lên 19,5 triệu và khu vực Bắc Á số người mắc ĐTĐ sẽ tăng từ 28,8 triệu lên 57,5 triệu [9]
Ở Hoa Kỳ, năm 1998 có 16 triệu người bị bệnh ĐTĐ, trong đó hơn 90%
là ĐTĐ týp 2, hàng năm có tới 650.000 người mới mắc bệnh Bệnh ĐTĐ gặp ở mọi lứa tuổi Độ tuổi 24 là 3,56 triệu người, chiếm 8,2 % tổng số người cùng lứa tuổi, độ tuổi 64 là 6,3 triệu người, chiếm 18,4 % những người cùng độ tuổi Số người mắc bệnh ĐTĐ ở độ tuổi dưới 24 là 123.000 người, chiếm 0,16% Đặc biệt, năm 2003 số người mắc bệnh ĐTĐ ở Hoa Kỳ là 18,2 triệu người, sau 2 năm – năm 2005 lên tới 20,8 triệu người – ước tính tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ ở Hoa Kỳ tăng 14% mỗi năm [10]
Các nước Trung và Đông Âu, (Ba Lan, Hungari, Bungari, Slovakia…) với số dân 96,6 triệu, có 4,3 triệu mắc ĐTĐ Dự đoán năm 2010, số bệnh nhân ĐTĐ ở khu vực này sẽ là 5 triệu, trong đó 80% là ĐTĐ týp 2
Khu vực Tây Thái Bình Dương, theo ước đoán hiện nay ít nhất có 30 triệu người bị bệnh ĐTĐ, dự báo sẽ tăng gấp đôi vào năm 2025 Đặc biệt quan trọng là sự gia tăng mạnh lại rơi vào nhóm tuổi lao động, đây là độ tuổi làm ra của cải vật chất cho xã hội của các nước, nên nó đã gây ảnh hướng rất lớn tới nên kinh tế xã hội ở mỗi quốc gia, khi nhóm người này có tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường tăng cao Ở Trung Quốc, người ở độ tuổi trưởng thành mắc bệnh ĐTĐ là 38 triệu [10]
Tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ ở 2 nhóm nước trong khu vực Tây Thái Bình Dương
Trang 7Bảng 1.2 Phân bố bệnh Đái tháo đường khu vực Tây Thái Bình Dương
Nguồn : King H, Aubert R and Herman H [13]
Tại các nước ASEAN, tuỳ thuộc vào tốc độ phát triển kinh tế mà tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ cũng khác nhau: Malaysia 3%, Thái Lan 4,2% Singapore có tỷ
lệ mắc bệnh ĐTĐ tăng nhanh: năm 1975 tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ là 1,9%, sau 23 năm tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ đã lên đến 9% [10], [30]
1.1.2 Tình hình bệnh đái tháo đường tại Việt Nam
Ở Việt Nam, tình hình mắc bệnh ĐTĐ trong thời gian gần đây đang có chiều hướng gia tăng, đặc biệt là tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ týp 2, nhất là tại các thành phố lớn như Hà Nội, năm 1991 là 1,1%, năm 2001 là 3,62 [11], [39], TP Hồ Chí Minh, năm 1992 là 2,52% đến năm 2001 tăng lên 4,1% [40], ở Huế, năm
1994 là 0,96% đến 10 năm sau là 2,1% [10]
Điều tra Quốc gia năm 2002 cho thấy tỷ lệ mắc ĐTĐ chung là 2,7%, khu vực thành phố là 4,4%, khu vực đồng bằng là 2,1% và khu vực miền núi là 2,1% [10] Điều tra quốc gia năm 2008 cho thấy tỷ lệ ĐTĐ toàn quốc là 5,7%,
tỷ lệ rối loạn đường huyết (ĐH) lúc đói là 18,2%, tỷ lệ rối loạn dung nạp glucose là 15,4% Tỷ lệ ĐTĐ theo khu vực: thành phố 6,9%, đồng bằng 6,3%, ven biển 3,8%, miền núi 4,8% Như vậy chỉ sau 6 năm tỷ lệ mắc ĐTĐ ở nước ta tăng 211% [5]
Theo nghiên cứu năm 2002 của Tạ Văn Bình về bệnh đái tháo đường tại thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Đà nẵng và thành phố Hồ Chí Minh cho thấy với cùng đối tượng và phương pháp nghiên cứu, các khu vực miền núi và tây nguyên, đồng bằng và trung du có tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường tương ứng là
Trang 82,1%; 2,7% và 2,2% tương đương hoặc tăng gấp đôi tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường thành phố 10 năm trước đây Đặc biệt tỷ lệ mắc bệnh đái thái đường ở nhóm đối tượng có yếu tố nguy cơ ở độ tuổi 30 đến 64 tuổi chiếm tỷ lệ rất cao 10,5%; tỷ lệ rối loại dung nạp glucose chiếm tỷ lệ 13,8% Nguy cơ của cộng đồng với mắc bệnh đái tháo đường rất cao, nguy cơ phổ biến nhất là béo phì với chỉ số BMI≥23 chiếm tỷ lệ 65,1%, tăng huyết áp chiếm tỷ lệ 42,7%, ít vận động thể lực chiếm 35,2%, có tiền sử gia đình chiếm 15,5%
Theo Tô Văn Hải năm 2006 nghiên cứu một số yếu tố nguy cơ gây bệnh đái tháo đường điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Thanh Nhàn- Hà Nội cho thấy tỷ
lệ mắc bệnh đái tháo đường týp 2 chiếm 92,2%, bệnh nhân nữ chiếm 57,9% nhiều hơn nam chỉ chiếm 42,1%, nhóm tuổi càng cao thì biến chứng càng nhiều, chủ yếu ở bệnh nhân trên 50 tuổi chiếm 85,7%, nhiều nhất thuộc nhóm tuổi từ 60-69 tuổi, số bệnh nhân liên quan tới yếu tố gia đình chiếm tỷ lệ 20,5% Chi phí cho quản lý, điều trị bệnh rất tốn kém do chi phí đi lại, ăn ở, của bệnh nhân ĐTĐ và người nhà bệnh nhân, do bệnh đái tháo đường được phát hiện muộn nên có nhiều biến chứng [26]
Theo Hiệp hội đái tháo đường quốc tế và Tổ chức Y tế thế giới phân loại
tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường ở Việt Nam nằm trong khu vực hai (tỷ lệ từ 2% đến 4,99%) giống như các nước khác trong khu vực: Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia và thấp hơn các nước thuộc khu vực ba (tỷ lệ 5% đến 7,99%) bao gồm Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia, Singapore, Australia,
1.2 Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh đái tháo đường
1.2.1 Đường máu lúc đói
Tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán ĐTĐ dựa trên nồng độ glucose huyết tương lúc đói (không ăn qua đêm và/hoặc ít nhất sau ăn 8 giờ) Năm 1999 Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) đã công nhận tiêu chuẩn chẩn đoán mới do Hiệp hội đái tháo đường Mỹ đề nghị và được áp dụng vào năm 1999, gồm ba tiêu chí:
- Một mẫu glucose huyết tương bất kỳ ≥ 200mg/dl (≥ 11,1 mmol/l)
Trang 9- Mức glucose huyết tương lúc đói (sau 8 giờ không ăn) ≥126mg/dl (≥7,0 mmol/l)
- Mức glucose huyết tương ≥200mg/dl (≥11,1mmol/l) ở thời điểm 2 giờ sau nghiệm pháp dung nạp glucose
1.2.2 Nghiệm pháp dung nạp glucose
- Chuẩn bị bệnh nhân: Ba ngày trước khi làm nghiệm pháp bệnh nhân ăn
chế độ giầu carbohydrat, khoảng 150-200g/ngày Không thực hiện nghiệm pháp khi đang có bệnh cấp tính, không dùng các thuốc như corticoid, thiazid, chẹn beta giao cảm, phenytoin, thuốc ngừa thai có estrogen, acid nicotinic, không chỉ định cho bệnh nhân bị suy dinh dưỡng, nằm liệt giường, nhiễm trùng, chấn thương tâm lý v.v , không vận động quá sức trước khi làm nghiệm pháp, tối trước ngày làm nghiệm pháp không ăn sau 20 giờ
- Kỹ thuật: Có thể sử dụng một trong hai loại: anhydrous glucose (75g)
hoặc monohydrat glucose (82,5 gam) pha trong 250-300ml nước, uống trong 5 phút; lấy máu ở thời điểm 0 và 120 phút
- Đánh giá nghiệm pháp dung nạp glucose:
Bảng 1.3 Tiêu chuẩn chẩn đoán các rối loạn chuyển hóa glucose năm 1999 của WHO [10]
Glucose huyết
tương ĐTĐ
Bình thường < 110 <6,1 <126 <7,0 RLGH lúc đói ≥110-126 6,1-7,0
7,8-11,0 Đái tháo đường ≥126 ≥7,0 ≥200 ≥11,1 ≥200 ≥11,1
Trang 10Ngày nay để thuận tiện cho công tác điều tra dịch tễ, người ta sử dụng phương pháp chẩn đoán nhanh bằng máu giọt mao động – tĩnh mạch, phương pháp này còn được sử dụng để theo dõi điều trị hàng ngày hoặc trong cấp cứu Tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ theo đường máu mao mạch (toàn phần và huyết tương), đường máu tĩnh mạch (toàn phần và huyết tương), hiện đang được
áp dụng phổ biến trên thế gới trong cả điều tra dịch tễ và thực hành lâm sàng
Bảng 1.4 Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh ĐTĐ của WHO năm 1999 [10]
Nồng độ glucose mmol/l(mg/dl) Chẩn đoán
Máu toàn phần Huyết tương
tĩnh mạch Mao mạch Tĩnh mạch
Đái tháo đường
ĐM lúc đói hoặc ≥ 6,1 (≥110)
hoặc
≥ 6,1 (≥110) hoặc
≥ 7,0(126) hoặc 2h sau NPDNG ≥ 11,1 ((≥200) ≥ 10,0 (≥180) ≥ 11,1 (≥200)
Rối loạn dung nạp glucose
1.2.3 Chẩn đoán týp đái tháo đường
Chẩn đoán ĐTĐ typ 1: Thường khởi phát ở tuổi <30, thể trạng gày, triệu
chứng xảy ra rầm rộ, sút cân nhanh chóng, hay gặp biến chứng hôn mê nhiễm toan ceton Có ceton niệu dương tính Các kháng thể JCA, anti- GAD,IA – 2 dương tính C-peptid thấp lúc đói hoặc sau ăn
Chẩn đoán ĐTĐ typ 2 (đái tháo đường không phụ thuộc insulin): do
Trang 11giảm chức năng tế bào bê-ta kèm theo kháng insulin của cơ quan đích Tùy trường hợp cụ thể, có thể một trong hai yếu tố trên nổi trội
Chẩn đoán ĐTĐ thai kỳ: Là trường hợp rối loạn dung nạp glucose được
chẩn đoán lần đầu tiên khi có thai Mặc dù trong đa số các trường hợp, khả năng dung nạp glucose có cải thiện sau thời gian mang thai, nhưng vẫn có sự tăng đáng kể nguy cơ phát triển thành bệnh ĐTĐ týp 2 về sau này
Các thể đặc biệt khác nhƣ: Khiếm khuyết chức năng tế bào beta do gen;
Giảm hoạt tính của insulin do khiếm khuyết gen; bệnh lý tuyến tụy; do bệnh hệ thống nội tiết; do thuốc hoặc hoá chất; do nhiễm trùng
1.2.4 Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của bệnh ĐTĐ typ 2
Cơ chế bệnh sinh của ĐTĐ typ 2 là có sự tương tác phức tạp giữa yếu tố gen và yếu tố môi trường Đặc điểm nổi bật là sự kháng insulin ở cơ quan đích (cơ, gan, tổ chức mỡ) kết hợp sự suy giảm chức năng tế bào beta đảo tuỵ biểu hiện bằng những rối loạn tiết insulin[12]
Tóm tắt cơ chế bệnh sinh bệnh đái tháo đường týp 2 theo sơ đồ sau:
Kháng Insulin
Tế bào bê ta bị tổn thương
Giảm dung nạp Glucose
Đái đường týp 2
Hội chứng giống đái đường týp 1 (phụ thuộc insulin)
Giảm khối tế bào bê ta
Nhiễm độc do Glucose
Amyloid đảo
Trang 12Dưới tác động của yếu tố môi trường như chế độ ăn nhiều lipid, đặc biệt nhiều acid béo bão hoà, nhiều carbonhydrat tinh, sự ít hoạt động thể lực, sự tăng lên của tuổi tác, béo phì sẽ làm xuất hiện hoặc tăng sự đề kháng của cơ quan đích đối với insulin ở những đối tượng có gen quyết định mắc ĐTĐ Sự kháng insulin ở những cơ quan đích dẫn đến hiện tượng giảm sử dụng đường ở cơ quan đích và hậu quả là tăng lượng đường trong máu và rối loạn các chuyển hoá khác
Sự tăng đường máu liên tục, tích luỹ sợi fibrin giống amiloid trong tế bào beta, tăng acid béo tự do và giảm khối lượng tế bào beta tuỵ dẫn đến tổn thương
và suy giảm chức năng tế bào beta
Khi cơ thể không còn bù được tình trạng kháng insulin hoặc khi chức năng của tế bào beta không còn khả năng bù trừ thì bệnh ĐTĐ xuất hiện
Dưới một hình thức khác, sự khởi đầu của quá trình bệnh lý có thể là giảm khối lượng hoặc chức năng của tế bào beta và tiếp tục diễn biến thành bệnh đái tháo đường
1.2.5 Các yếu tố nguy cơ của bệnh ĐTĐ
Các yếu tố nguy cơ của bệnh ĐTĐ được nhóm vào trong bốn nhóm: di truyền, nhân chủng, hành vi lối sống và nhóm nguy cơ trung gian chuyển tiếp
1.2.5.1 Yếu tố di truyền
Yếu tố di truyền đóng vai trò quan trọng trong bệnh ĐTĐ Những đối tượng có mối liên quan huyết thống với người bị ĐTĐ có nguy cơ bị bệnh ĐTĐ cao gấp 4 – 6 lần người trong gia đình không có ai bị ĐTĐ Đặc biệt nhất là những người cả bên nội và bên ngoại đều có người mắc bệnh ĐTĐ Khi cha hoặc mẹ mắc ĐTĐ thì nguy cơ bị bệnh ĐTĐ của con là 30%, khi cả cha mẹ bị bệnh thì nguy cơ này tăng tới 50% Hai trẻ sinh đôi cùng trứng, một người mắc bệnh ĐTĐ, người kia sẽ bị xếp vào nhóm đe doạ thực sự bị bệnh ĐTĐ [10],[11], [30]
Trang 131.2.5.2 Yếu tố nhân chủng học Bao gồm tuổi, giới, chủng tộc
- Tỷ lệ mắc bệnh và tuổi mắc bệnh ĐTĐ thay đổi theo sắc tộc Ở Tây Âu tỷ
lệ mắc bệnh ở người da vàng trẻ hơn, thường trên 30 tuổi, ở người da trắng thường trên 50 tuổi
- Yếu tố tuổi, đặc biệt là độ tuổi từ 50 trở lên, được xếp vào vị trí đầu tiên trong số các yếu tố nguy cơ của bệnh ĐTĐ typ 2 Nhiều nghiên cứu đã chứng minh tuổi có liên quan đến sự xuất hiện bệnh ĐTĐ typ 2, tuổi càng tăng tỷ lệ mắc ĐTĐ và rối loạn rung nạp glucose (RLDNG) càng cao Khi cơ thể già đi, chức năng tụy nội tiết cũng bị suy giảm theo và khả năng tiết insulin giảm Nồng độ glucose máu có xu hướng tăng, đồng thời giảm sự nhạy cảm của tế bào đích với insulin Khi tế bào tuỵ không còn khả năng tiết insulin đủ với nhu cầu của cơ thể, glucose khi đói tăng lên và bệnh ĐTĐ xuất hiện [10]
1.2.5.3 Yếu tố nguy cơ liên quan đến hành vi lối sống
- Béo phì
Ở người béo phì, tỷ lệ vòng bụng/ vòng mông tăng hơn bình thường Béo bụng có liên quan chặt chẽ với hiện tượng kháng insulin do thiếu hụt sau thụ thể, dẫn đến sự thiếu insulin tương đối do giảm số lượng thụ thể ở các mô ngoại
vi Do tính kháng insulin và sự giảm tiết insulin dẫn đến giảm sử dụng glucose
ở tổ chức cơ và mỡ, giảm sự tổng hợp glycogen ở gan, tăng tân tạo đường mới
và bệnh ĐTĐ xuất hiện
- Ít hoạt động thể lực
Nhiều nghiên cứu cho thấy việc tập luyện thể lực thường xuyên có tác dụng làm giảm nhanh nồng độ glucose huyết tương, đồng thời giúp duy trì sự bình ổn của lipid máu, huyết áp, cải thiện tình trạng kháng insulin
- Chế độ ăn
+ Tỷ lệ bệnh ĐTĐ tăng cao ở những người có chế độ ăn nhiều chất béo bão hoà, nhiều carbonhydrat tinh chế Ngoài ra sự thiếu hụt các yếu tố vi lượng hoặc vitamin cũng góp phần làm thúc đẩy sự tiến triển bệnh
Trang 14+ Chế độ ăn nhiều chất xơ, ăn ngũ cốc ở dạng chưa tinh chế, ăn nhiều rau làm giảm nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ
- Các yếu tố khác
+ Stress
+ Lối sống phương tây hoá, thành thị hoá, hiện đại hoá Bệnh ĐTĐ đang tăng nhanh ở những nước đang phát triển, đang có tốc độ đô thị hoá nhanh, đó cũng là những nơi đang có sự chuyển tiếp về dinh dưỡng, lối sống
1.2.5.4 Yếu tố chuyển hoá và các nguy cơ trung gian
- RLDNG, suy giảm dung nạp glucose máu lúc đói
- Rối loạn chuyển hoá lipid máu
- Kháng insulin: hội chứng chuyển hoá, tăng huyết áp
- Các yếu tố liên quan đến thai nghén như tình trạng sinh con to trên 4000 gram, ĐTĐ thai kỳ
1.2.6 Chẩn đoán sớm, chẩn đoán sàng lọc bệnh ĐTĐ
- Mục đích: Phát hiện sớm bệnh ĐTĐ từ nhóm người có nguy cơ mắc bệnh
cao nhằm hạn chế sự tiến triển của bệnh và ngăn chặn những tác hại do bệnh gây ra
- Tiến hành: Dựa trên tiêu chuẩn sàng lọc chọn ra nhóm người có nguy cơ
mắc bệnh cao trong quần thể, tiến hành các biện pháp quản lý chặt chẽ
- Tiêu chuẩn của Việt Nam qui định các yếu tố nguy cơ như sau:
+ Tuổi ≥ 30 tuổi
+ Tăng huyết áp vô căn
+ Chỉ số khối cơ thể (BMI) ≥ 23
+ Có liên quan ruột thịt với người mắc ĐTĐ
+ Phụ nữ ở quanh giai đoạn mạn kinh
+ Phụ nữ có tiền sử thai sản đặc biệt: ĐTĐ thai kỳ; sinh con to trên 4000gram
Trang 15+ Người đã được chẩn đoán RLDNG hoặc suy giảm dung nạp glucose lúc đói, rối loạn chuyển hoá lipid; rối loạn chuyển hoá acid uric; có microalbumin niệu
+ Người có hoạt động tĩnh tại ít hoạt động thể lực; có thay đổi đột ngột môi trường sống
1.2.7 Triệu chứng của bệnh ĐTĐ týp 2
- Triệu chứng đái nhiều, uống nhiều, gầy nhiều thường mờ nhạt trong khi triệu chứng của các biến chứng chiếm ưu thế Điển hình là các triệu chứng nhiễm trùng mạn tính hoặc cấp tính, các tổn thương mắt, răng, tim mạch, thận, thần kinh
- Thể trạng thường là béo
- Các dấu hiệu thường ở người trẻ tuổi
+ Hội chứng buồng trứng đa nang
+ Chứng gai đen: là những mảng da sẫm màu xuất hiện ở quanh cổ bệnh nhân Thường là dấu hiệu của kháng insulin
1.2.8 Cận lâm sàng
1.2.8.1 Máu
- Glucose máu tăng
- HbA1c tăng
- Ceton máu trong ĐTĐ typ 1 tăng tuỳ mức độ
- C – peptid thấp ở ĐTĐ typ 1, bình thường hoặc tăng ở ĐTĐ typ 2
- Các chỉ số lipid máu rối loạn; pH máu động mạch giảm; bicacbonat huyết tương giảm; rối loạn điện giải
1.2.8.2 Nước tiểu
- Sinh hoá
+ Có đường niệu
+ Ceton niệu dương tính trong ĐTĐ typ 1 hoặc ĐTĐ typ 2 nặng
+ Protein niệu: albumin vi thể hoặc đại thể nếu có tổn thương thận
- Tế bào niệu, trụ niệu
Trang 161.2.8.3 Các thăm dò khác đánh giá các tổn thương
- Siêu âm Doppler tim, các mạch máu; Điện tim; Chụp đáy mắt; Các thăm
dò đánh giá tổn thương thần kinh
- Các thăm dò đánh giá chức năng của hệ thống các tuyến nội tiết
- Nhiễm toan ceton và hôn mê hạ đường huyết
- Hôn mê do tăng áp lực thẩm thấu
- Hôn mê nhiễm toan lactic
- Nhiễm khuẩn cấp tính, ví dụ viêm phổi, lao kê
1.2.9.2 Biến chứng mạn tính của bệnh ĐTĐ
Các biến chứng mạn tính lâu dài của bệnh ĐTĐ thường hay gặp, thậm trí các biến chứng này có ngay tại thời điểm bệnh được phát hiện, nhất là ở người bệnh ĐTĐ týp 2 Các biến chứng mạn tính là nguyên nhân không chỉ làm giảm chất lượng cuộc sống của người mắc bệnh ĐTĐ
Có thể chia các biến chứng mạn tính của bệnh ĐTĐ như sau:
- Biến chứng mạch máu lớn ĐTĐ là một trong những yếu tố nguy cơ gây
ra xơ vữa động mạch, tăng huyết áp:
+ Bệnh lý mạch vành: Cơn đau thắt ngực; Nhồi máu cơ tim
+ Tai biến mạch máu não
+ Bệnh mạch máu ngoại vi
- Biến chứng mắt
+ Bệnh lý võng mạc do ĐTĐ: Bệnh võng mạc ĐTĐ không tăng sinh; Bệnh
Trang 17+ Đục tinh thể
- Biến chứng thận
+ Bệnh lý cầu thận Tiến triển qua các giai đoạn: Microalbumin niệu: albumin niệu 300mg/l; Marcroalbumin niệu: albumin niệu >300mg/l Giai đoạn này có thể có biểu hiện hội chứng thận hư (hội chứng Kimmelstiel – Wilson); Suy thận
+ Hoại tử gai thận
+ Suy thận cấp sau dùng thuốc cản quang
- Biến chứng thần kinh: Bệnh thần kinh cảm giác; Bệnh thần kinh vận động, thường viêm một dây thần kinh; Bệnh thần kinh tự động:
Tim mạch: Nhịp tim nhanh khi ngủ, hạ huyết áp tư thế;
Tiêu hoá: liệt dạ dày, ỉa chảy do ĐTĐ;
Tiết niệu sinh dục: bệnh bàng quang do thần kinh, liệt dương
- Biến chứng ở da và xương khớp: Ở da: teo da, u vàng; Ở xương khớp: co
cứng Dupuytren, hạn chế vận động bàn tay” Juvenile diabetic cheiratropathy”, viêm bao hoạt dịch, mất chất khoáng đầu xương
- Biến chứng nhiễm khuẩn Hay gặp lao phổi, nhiễm khuẩn tiết niệu, viêm thực quản do candida, viêm âm đạo do candida Một số nhiễm khuẩn hiếm gặp, hầu như chỉ xảy ra ở bệnh nhân ĐTĐ như viêm túi mật khí thũng, viêm tai ngoài cấp
- Bệnh lý bàn chân
Là hậu quả của nhiều nguyên nhân phối hợp: Tổn thương thần kinh, bệnh
lý mạch máu, chấn thương và nhiễm trùng
1.3 Tình hình quản lý bệnh đái tháo đường tại cộng đồng
1.3.1 Trên thế giới
Trước đây đái tháo đường được cho là bệnh không có khả năng dự phòng Tuy nhiên nhờ những hiểu biết mới về cơ chế bệnh sinh, các yếu tố nguy cơ gây bệnh, các nhà khoa học trên thế giới đã khẳng định bệnh đái tháo đường týp 2 là
Trang 18bệnh hoàn toàn có thể phòng được, khi can thiệp vào các yếu tố nguy cơ, đặc biệt là sự thay đổi lối sống đã thu được nhiều kết quả cao trong công tác phòng bệnh
- Thông qua một loạt các nghiên cứu đã được tiến hành như nghiên cứu phòng chống bệnh đái tháo đường” tại Phần Lan: Nghiên cứu này đã tiến hành ở
5 trung tâm thuộc Phần Lan, các đối tượng nghiên cứu là đã xác định là có rối loạn dung nạp glucose và được quản lý nghiêm ngặt bởi nhiều chuyên gia dinh dưỡng và chuyên gia về giáo dục thể chất Mục đích của nghiên cứu này là làm giảm tối đa 5% cân nặng; giảm <30% lượng mỡ được tiếp nhận vào cơ thể; giảm <10% lượng mỡ bão hòa được tiếp nhận; tiếp nhận > 15g/1000calo; luyện tập trung bình >30 phút/ngày Kết quả sau 3 năm duy trì được mức giảm cân nặng được 4,7% so với nhóm chứng; các yếu tố nguy cơ tiến tới bệnh đái tháo týp 2 đường giảm được 58%; tỷ lệ tiến tới đái tháo đường giảm từ 23% xuống còn 11% (p<0,001) Tuy nhiên trong nghiên cứu này có tới 1/3 số đối tượng tham gia không vượt được một tiêu chuẩn và cũng không có đối tượng nào đáp ứng được cả 5 tiêu chuẩn trên
- Với nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ ăn uống và luyện tập trong việc phòng bệnh đái tháo đường týp 2 ở những đối tượng rối loạn dung nạp glucose” tại Da Quing, Trung Quốc [10], các đối tượng nghiên cứu đã được khám sàng lọc bằng phương pháp dung nạp glucose, sau đó chia thành 4 nhóm với những nội dung tiến hành khác nhau:
+ Nhóm thực hiện chế độ ăn đơn thuần
+ Nhóm thực hiện chế độ luyện tập đơn thuần
Trang 19+ Nhóm chứng thì tỷ lệ đái tháo đường týp 2 là 68%
Trong nghiên cứu này người ta cũng thu được tỷ lệ RLDNG tiến triển thành đái tháo đường týp 2 vào khoảng 10%/năm ở nhóm can thiệp, còn nhóm chứng vào khoảng 40%/năm
- Chương trình phòng chống đái tháo đường của Mỹ đã thực hiện ở nhiều trung tâm trên toàn nước Mỹ, người ta chia ra và so sánh tính hiệu quả, an toàn của các nhóm nghiên cứu như sau:
+ Nhóm chỉ can thiệp tích cực vào lối sống
+ Nhóm được giới thiệu một chuẩn mực về lối sống, kết hợp với thuốc dự phòng là Metformin
+ Nhóm chứng: có lối sống như thường ngày, theo thói quen của cá nhân Nhóm nghiên cứu được tiến hành các phương pháp giáo dục đặc biệt, luyện tập là 150 phút/ngày, mục tiêu phấn đấu giảm cân nặng được 7% kết quả cho thấy nếu chỉ can thiệp bằng thay đổi lối sống, các yếu tố nguy cơ dẫn tới đái đường týp 2 giảm được 58% Nếu kết hợp thêm với điều trị dự phòng bằng Metformin thì các yếu tố nguy cơ dẫn tới đái tháo đường týp 2 giảm được 61%
Các nghiên cứu trên đều là cơ sở đáng tin cậy để khẳng định rằng thay đổi lối sống phải trở thành một biện pháp quan trọng, thường xuyên trong phòng chống bệnh đái tháo đường
- Theo nghiên cứu của Steno-2: Nhằm đánh giá kết quả biện pháp thay đổi hành vi và dùng thuốc thích hợp trong một giai đoạn nhất định, nghiên cứu
đã thực hiện trên các bệnh nhân đái tháo đường đã được chuẩn đoán xác định, sau đó chi thành 2 nhóm:
+ Nhóm chứng thực hiện các biện pháp quản lý theo truyền thống, tức là chỉ quan tâm đến quản lý kết quả quản lý glucose máu Nhóm này được thực hiện bằng phương pháp điều trị kinh điển
Trang 20+ Nhóm can thiệp áp dụng chiến lược can thiệp tăng cường, can thiệp đa yếu tố Can thiệp kéo dài trong 7 năm, sau đó đánh giá lại tình trạng các biến chứng của bệnh đái đường Ngoài ra còn thực hiện giáo dục thay đổi lối sống, tăng cường hoạt động thể chất, các thuốc điều trị ngoài thuốc hạ đường huyết còn sử dụng các thuốc nhằm điều chỉnh các yếu tố nguy cơ
Kết quả sau 4 năm can thiệp, giảm được 50% yếu tố nguy cơ gây bệnh lý mạch máu nhỏ; Sau 7 năm can thiệp thu được ở nhóm chứng tỷ lệ bệnh mạch vành là 44% so với 24% ở nhóm can thiệp, bên cạnh đó các yếu tố nguy cơ ở nhóm can thiệp giảm 50% [12]
- Từ những nghiên cứu trên rút ra những bài học kinh nghiệm trong công tác phòng chống bệnh đái tháo đường là nếu không được ngăn chặn kịp thời các
yếu tố nguy cơ, bệnh đái tháo đường sẽ gia tăng, tiến tới "đại dịch" trong một
hoặc hai thập niên tới Nó không những là gánh nặng cho xã hội mà còn là gánh nặng cho hệ thống y tế, cho dù có nguồn lực tốt nhất cũng không thể đáp ứng được nhu cầu chi phí khổng lồ cho bệnh nhân đái tháo đường
Tuy một số nước trong khu vực Tây Thái Bình Dương đã đạt được những tiến bộ trong cuộc đấu tranh chống lại bệnh đái tháo đường nhưng chúng ta còn nhiều việc phải làm, đó là trong lĩnh vực dự phòng, tổ chức mạng lưới quốc gia phòng chống đái tháo đường [10], [12] Ngày nay can thiệp phòng bệnh được gọi là can thiệp cấp 1- can thiệp vào nhóm người có yếu tố nguy cơ nhằm ngăn ngừa sự xuất hiện bệnh đái tháo đường týp 2 thực sự Nhiều nước trên thế giới
đã có một số mô hình chăm sóc sức khoẻ ở cộng đồng, nhưng chủ yếu là mô hình tình nguyện Người tình nguyện sẽ tham gia vào việc chăm sóc sức khỏe cho người dân trong cộng đồng và giáo dục sức khỏe nói chung và phòng chống bệnh đái tháo đường nói riêng Mô hình này đã được ứng dụng thành công ở một số nước như Thái Lan, Môzambic, Zimbabue [71]
Trang 211.3.2 Tại Việt Nam
Việc quản lý bệnh đái tháo đường mới chỉ tập trung ở một số tỉnh, thành phố và mới chỉ tập trung ở một số trung tâm lớn của quốc gia Số cán bộ y tế có khả năng khám và điều trị bệnh ĐTĐ không chỉ ít về mặt số lượng, mà còn không được phổ cập những kiến thức mới về bệnh ĐTĐ, bên cạnh đó trang thiết
bị y tế dùng cho việc chẩn đoán và theo dõi bệnh nhân đái tháo đường còn thiếu
và lạc hậu, nên chất lượng phát hiện và điều trị bệnh ĐTĐ chất lượng chưa cao
Các công trình nghiên cứu mô hình về phòng chống bệnh đái tháo đường
ở Việt Nam đã được triển khai ở một số tỉnh, nghiên cứu này lần đầu tiên được triển khai có quy mô và hệ thống tại 2 tỉnh Thái Bình và Nam Định, với số đối tượng tham gia được chia thành hai nhóm khác nhau, việc chia nhóm đã đảm bảo không khác nhau về giới, tuổi, các số đo nhân trắc, đặc biệt là các yếu tố nguy cơ là đồng đều giữa 2 nhóm; nhóm nghiêm cứu được hướng dẫn chế độ ăn uống, luyện tập theo đúng trình tự, hợp lý; hàng tháng có kiểm tra, giám sát, đánh giá lại tình trạng ăn uống, luyện tập đây là nhóm được quản lý chặt chẽ, nhóm đối chứng cũng được giáo dục, luyện tập như nhóm nghiên cứu nhưng không theo dõi, giám sát chặt chẽ Qua kết quả nghiên cứu trên cho thấy nếu có
mô hình phù hợp can thiệp vào nhóm có yếu tố nguy cơ cao tại cộng đồng, có thể làm giảm tỷ lệ mắc mới bệnh đái tháo đường týp 2, cũng như khả năng làm giảm các yếu tố nguy cơ gây bệnh mới là có thể thực hiện được Tuy nhiên qua nghiên cứu này cũng cho thấy các can thiệp cộng đồng thường dễ dàng đạt được kết quả ở giai đoạn đầu, nhưng sẽ là khó khăn để đạt được và duy trì kết quả tốt hơn ở những giai đoạn sau
Theo công trình nghiên cứu hợp tác giữa Bệnh viện Nội tiết Trung ương với Bệnh viện Quốc gia Kyoto Nhật Bản về chất lượng quản lý và điều trị người bệnh đái tháo đường ở Việt Nam, đã chỉ ra rằng thực trạng quản lý, chất lượng điều trị người bệnh đái tháo đường Việt Nam còn bất cập về hệ thống quản lý chuyên ngành nội tiết ở các tỉnh, thành; vì Bệnh viện Nội tiết Trung ương mà số lượng bệnh nhân mới được phát hiện còn quá cao, nghiên cứu cũng cho thấy
Trang 22thời gian phát hiện dưới một năm cao nhất 51,6%, từ 1-5 năm là 36,8%, từ 5 đến 10 năm là 8,4%, trên 10 năm chỉ có 3,2%
Công tác phòng chống bệnh đái tháo đường ở Việt Nam trong những năm qua chưa được quan tâm do quan niệm của nhiều người cho rằng bệnh đái tháo đường là không phòng chống được Bên cạnh đó nhận thức của một bộ phận người dân còn thấp, nhất là việc chăm sóc sức khỏe ban đầu, cho bản thân, gia đình và cộng đồng nói chung và công tác phòng chống bệnh đái tháo đường nói riêng
Công tác phòng bệnh hầu như chưa được đề cập, do chưa đánh giá được mức độ phổ biến, sự nguy hại do bệnh gây nên, cũng như quan niệm và thực hành phòng và điều trị bệnh ĐTĐ týp 2 chưa đúng Cách phòng bệnh ĐTĐ týp 2 hợp lý, nhất là bằng chế độ ăn và luyện tập thể lực chưa được áp dụng rộng rãi
Hiện nay ở một số tỉnh trong nước đã thực hiện quản lý bệnh đái tháo đường tại cộng đồng, nhưng chủ yếu vẫn lấy Ban chăm sóc sức khỏe ban đầu của địa phương làm nòng cốt, nên thành công nhiều cũng có, thành công ít cũng
có, chính những điều này đã tạo ra bức tranh đa dạng trong chăm sóc sức khoẻ nhân dân và là bài học cho các nghiên cứu, dự án tiếp theo
Trang 23Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Người trưởng thành từ 30 đến 69 tuổi đang sinh sống tại Bắc Giang, gồm cả nam và nữ Theo Tổ chức Y tế thế giới thì trẻ nhỏ hoặc trẻ vị thành niên thường không được chọn để nghiên cứu các bệnh không lây nhiễm do tỷ lệ bệnh hiếm ở những đối tượng này Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo giới hạn tuổi thấp nhất thích hợp để nghiên cứu là 25 tuổi trở lên, nhưng ở một số nước đang phát triển khi nguồn lực còn hạn chế thì giới hạn tuổi thấp nhất để chọn nghiên cứu có thể là 30 hoặc 35 tuổi; giới hạn tuổi 69 là giới hạn mức cao của tuổi được khuyến cáo để giảm thiểu tác động của chất lượng dịch vụ y tế khác nhau
của mỗi nước và để dễ dàng so sánh tỷ lệ bệnh giữa các vùng
- Tiêu chuẩn loại trừ:
+ Đối tượng không đúng độ tuổi; không thuộc danh sách đã chọn ngẫu nhiên
+ Bệnh nhân đang có biến chứng cấp tính như: Hội chứng nhiễm toan ceton, hội chứng tăng áp lực thẩm thấu, các nhiễm trùng cấp tính
+ Đang sử dụng các thuốc có ảnh hưởng tới chuyển hoá đường như Costicoid, chẹn β giao cảm
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: từ 10/2009 đến 10/2010
- Địa điểm nghiên cứu: các xã, phường, thị trấn của tỉnh Bắc Giang
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được thiết kế bao gồm loại hình nghiên cứu dịch tễ học mô tả: dịch tễ bệnh đái tháo đường và các yếu tố liên quan; nghiên cứu can thiệp dự phòng bệnh đái tháo đường Các loại hình thiết kế nghiên cứu này cho phép xác định và đánh giá:
Trang 24- Tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường tại cộng đồng
- Xác định một số yếu tố liên quan đến bệnh đái tháo đường ở cộng đồng
- Hiệu quả của biện pháp can thiệp dự phòng bệnh đái tháo đường
2.3 2 Cỡ mẫu
* Cỡ mẫu áp dụng cho nghiên cứu mô tả:
2
Z 1-α/2×p(1-p)×DEn=
2dTrong đó: - n là cỡ mẫu
- p là tỷ lệ bệnh ước đoán (số liệu chung của toàn quốc p = 2,7%) [10]
- Z 1- /2 là giá trị giới hạn phụ thuộc vào độ tin cậy (độ tin cạy lấy bằng 95%.;
* Cỡ mẫu can thiệp dự phòng bệnh đái tháo đường
Công thức tính cỡ mẫu so sánh hai tỷ lệ mới mắc bệnh trong nghiên cứu thuần tập với thời gian nghiên cứu 12 tháng (1 năm) cho nghiên cứu như sau:
n1= {Z 1-α/2 √[(1+k)f(λ)] + Z 1-β √[kf(λ1) + f(λ2)}2 /( λ1 + λ2 )2
Để tính được cỡ mẫu chúng tôi xác định các giá trị sau:
- k là biểu thị tỷ số cỡ mẫu nhóm 2 (nhóm chứng) và cỡ mẫu nhóm 1 (nhóm can thiệp), trong nghiên cứu này chúng tôi để k=1
- λ1 , λ2 và λ là tỷ lệ mới mắc đái tháo đường ở những đối tượng RLDNG kèm theo thừa cân, béo phì, tương ứng với nhóm can thiệp, của nhóm chứng
và tỷ lệ mới mắc, trong nghiên cứu này chúng tôi ước đoán λ1 = 20%, λ2 =
Trang 25- Z 1-α/2 , Z 1-β là giá trị tương ứng với các ngưỡng xác suất khác nhau, trong nghiên cứu này chúng tôi xác định độ tin cậy 95% (Z 1-α/2=1,96) và lực mẫu 80% (Z 1-β = 0,84)
Áp dụng công thức trên chúng tôi tính được cỡ mẫu tối thiểu là 332
Trong nghiên cứu chúng tôi chọn phường Thọ Xương và xã Song Mai thuộc thành phố Bắc Giang với 367 đối tượng là nhóm can thiệp và thị trấn Chũ
và xã Tân Sơn huyện Lục Ngạn với 349 đối tượng là nhóm chứng
2.3.3 Phương pháp chọn mẫu
* Chọn mẫu nghiên cứu dịch tễ học đái tháo đường
Áp dụng phương pháp chọn mẫu chùm nhiều bậc để phát hiện tỷ lệ bệnh
và một số yếu tố liên quan
Chọn chủ đích 10 huyện, thị Mỗi huyện, thị chọn 2 xã, phường Mỗi xã, phường chọn 1 cụm dân cư (tổ)
- Bước 1 Chọn xã, phường, thị trấn điều tra từ danh sách toàn bộ các xã, phường, thị trấn trong tỉnh (chọn theo phương pháp chủ đích)
- Bước 2 Chọn cụm (thôn, bản, tổ dân phố hoặc cụm dân cư) điều tra từ danh sách các thôn, bản, tổ dân phố hoặc cụm dân cư của xã, phường, thị trấn
đã chọn tại bước 1 (chọn ngẫu nhiên bằng bốc thăm)
- Bước 3 Chọn đối tượng điều tra từ danh sách đối tượng nghiên cứu ở độ tuổi 30-69 của thôn, bản, tổ dân phố hoặc cụm dân cư đã được chọn Các đối tượng điều tra được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên có hệ thống
Trong nghiên cứu này chúng tôi chọn mỗi cụm là 190 đối tượng từ 30 đến
69 tuổi
* Chọn mẫu nghiên cứu can thiệp dự phòng đái tháo đường
Các đối tượng nghiên cứu được chọn sau khi triển khai các đường huyết bình thường hoặc RLDNG, đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn và không có tiêu chuẩn loại trừ Các đối tượng thuộc phường Thọ Xương và xã Song Mai của Thành phố Bắc Giang, tổng số đối tượng nghiên cứu là 367 người trong đó 21 người mắc bệnh ĐTĐ và 66 người RLDNG; địa điểm này thuộc khu vực của Phòng tư
Trang 26vấn của Trung tâm phòng chống Sốt rét-Nội tiết đảm nhiệm, thuộc nhóm can thiệp
Nhóm đối tượng thuộc thị trấn Chũ và xã Tân Sơn huyện Lục Ngạn được chỉ định làm nhóm đối chứng so sánh, đánh giá: với tổng số đối tượng là 349, trong đó 11 mắc ĐTĐ và 57 người bị RLDNG
So sánh
Nhóm can thiệp thuộc phường
Thọ Xương và xã Song Mai, TP
Bắc Giang
Nhóm chứng thuộc
thị trấn Chũ và xã Tân Sơn, huyện Lục Ngạn
Số liệu ban đầu (trước can thiệp):
-Điều tra tỷ lệ bệnh, các yếu tố
liên quan
Số liệu ban đầu
- Điều tra tỷ lệ bệnh, các yếu tố liên quan
Số liệu sau can thiệp
Điều tra tỷ lệ bệnh, các yếu tố
có liên quan (hiện mắc, mới
mắc)
Số liệu lần 2 Điều tra tỷ lệ bệnh, các yếu
tố có liên quan (hiện mắc,
mới mắc)
Can thiệp bằng các biện pháp:
Truyền thông, tư vấn; tập huấn
kỹ năng phát hiện và các
phương pháp phòng chống,
điều trị bệnh
Không can thiệp
Hướng dẫn gia đình đưa người bệnh đi khám và điều trị tại bệnh viện
Xã phường Tỉnh Bắc Giang
Trang 272.3.4 Các biện pháp can thiệp
- Lập danh sách quản lý, chăm sóc, tư vấn và điều trị cho người bệnh ĐTĐ, đối tượng RLDNG và đối tượng có yếu tố nguy cơ
- Định kỳ tổ chức truyền thông, giáo dục sức khỏe tại cộng đồng về phòng chống bệnh đái tháo đường với các nội dung: phát hiện sớm, quản lý, chăm sóc tại chỗ, ăn uống, luyện tập và kiểm tra chỉ số Glucose máu cho những bệnh nhân ĐTĐ, RLDNG và những người có yếu tố nguy cơ
- Truyền thông đại chúng: làm phóng sự giáo dục người dân về phòng chống bệnh ĐTĐ: chế độ ăn uống (nhiều rau, nhiều chất xơ, ít chất mỡ, chất đường), chế độ làm việc và luyện tập, chế độ nghỉ ngơi
- Tranh, ảnh, viết báo, tạp chí …để tuyên truyền
- Tổ chức tập huấn 3 tháng một lần cho cán bộ, đoàn thể, cán bộ thôn, bản
và y tế thôn, bản, cộng tác viên về kiến thức dinh dưỡng hợp lý, các kiến thức
cở bản về bệnh đái tháo đường và một số biện pháp phòng chống bệnh đái tháo đường
- Cán bộ y tế, cộng tác viên sử dụng các tài liệu được cung cấp và các kiến thức đã được tập huấn về bệnh đái tháo đường để truyền thông cho cộng đồng bằng nhiều hình thức khác nhau như tư vấn trực tiếp, truyền thông qua các buổi họp của thôn, bản, cụm dân phố, tại các gia đình và phát thanh qua hệ thống loa truyền thanh của thôn, bản, cụm dân phố
- Tập huấn cho các bác sỹ, cán bộ y tế sử dụng phác đồ điều trị trước khi tiến hành nghiên cứu; quy định về thời gian thăm khám và các mốc đánh giá chính như thời điểm ban đầu, sau 3 tháng và sau 6 tháng, các chỉ số cần thực hiện tại các mốc đánh giá
2.3.5 Các chỉ số nghiên cứu
- Các chỉ số về nhân lực: Tuổi, giới, học vấn
- Các chỉ số nhân trắc: chiều cao, cân nặng, BMI, vòng bụng, vòng mông,
Trang 28sau khi tiến hành nghiệm pháp tăng đường huyết 2 giờ
- Thông tin về khẩu phần ăn; thói quen ăn uống của người đái tháo đường
- Lao động
- Uống rượu bia; hút thuốc lá
- Tiền sử gia đình có người mắc ĐTĐ
2.4 Kỹ thuật thu thập số liệu
2.4.1 Thu thập thông tin
- Về nhân khẩu học; tiền sử bản thân và gia đình liên quan tới bệnh đái tháo đường; các yếu tố liên quan tới lối sống: ăn uống, hoạt động thể lực, uống rượu bia, ; thông tin về đẻ con to ≥4000gram; các thông tin về bệnh và điều trị bệnh đái tháo đường
- Các số đo nhân trắc: Cân nặng, chiều cao, đo vòng bụng, vòng mông, chỉ số BMI, huyết áp;
- Các chỉ số sinh học: Các xét nghiệm đường máu lúc đói, xét nghiệm sau
2 giờ làm nghiệm pháp dung nạp glucose; xét nghiệm mỡ máu;
2.4.2 Định nghĩa bệnh và phương pháp đánh giá
2.4.2.1.Định nghĩa bệnh:
- Tiêu chuẩn xác định mắc bệnh đái tháo đường, rối loạn dung nạp glucose, rối loạn đường huyết lúc đói: Theo tiêu chuẩn đái tháo đường của WHO năm 1999 [69] Những trường hợp trước đây đã được chuẩn đoán là mắc đái tháo đường và đang sử dụng thuốc hạ đường huyết mà đường huyết hiện tại bình thường thì vẫn xác định là mắc bệnh
- Máy đo đường huyết được sử dụng trong nghiên cứu là máy Accu-Chek của Công ty DKSH Việt Nam đã được khuyến cáo dùng trong nghiên cứu dịch
tễ học; qua xét nghiệm thử trên 50 trường hợp bằng máy Accu-Chek và xét nghiệm đường huyết làm bằng máy tĩnh mạch trên máy xét nghiệm sinh hóa tự động, kết quả cho thấy 2 phương pháp này tương đương nhau là đáng tin cậy
Trang 292.4.2.2 Phương pháp đánh giá
a Đánh giá các số đo nhân chắc và thể trạng
Chỉ số khối lượng cơ thể (BMI) được tính theo công thức: BMI = W/ H2
Trong đó: W: là trọng lượng cơ thể tính bằng kg
H: là chiều cao cơ thể tính bằng mét (m)
Tiêu chuẩn xác định thể trạng dựa vào BMI (kg/m 2
b Chẩn đoán tăng huyết áp
Khi huyết áp tâm thu ≥ 140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương ≥ 90
mmHg hoặc đang sử dụng thuốc tăng huyết áp
Tiêu chuẩn kiểm soát huyết áp ở bệnh nhân ĐTĐ của Châu Á – Thái
Bình Dương năm 2002 [10]:
Huyết áp (mmHg) < 130/80 130/80-140/90 ≥140/90
c Chẩn đoán ĐTĐ, phân loại ĐTĐ và rối loạn dung nạp glucose (tiền ĐTĐ)
theo TCYTTG năm 1998:
- Đái tháo đường: Khi đường huyết tĩnh mạch lúc đói ≥7,0mmol/l hoặc
đường huyết tĩnh mạch ≥ 11,1mmol/l sau 2 giờ làm nghiệm pháp tăng đường
huyết
Trang 30- Tiền ĐTĐ: Là tình trạng đường huyết cao nhưng chưa cao đến mức bị
mắc ĐTĐ; Tiền ĐTĐ cũng được biết tới với tên rối loạn đường huyết đói (IFG) hoặc rối loạn dung nạp glucose
- Rối loạn đường máu lúc đói và rối loạn dung nạp glucose: Là khi
đường huyết tĩnh mạch lúc đói 7,8mmol/l≤ glucose ≤11,0 mmol/l sau làm nghiệm pháp 2 giờ hoặc rối loạn dung nạp khi đường huyết lúc đói 5,6mmol/l≤ glucose < 7,0mmol/l
d Đánh giá sự hiểu biết về bệnh ĐTĐ của đối tượng nghiên cứu
- Hiểu đúng về bệnh ĐTĐ: Bệnh ĐTĐ là bệnh không lây nhiễm, là khi nồng độ đường trong máu cao hơn mức bình thường Bệnh ĐTĐ týp 2 có thể phòng tránh được bằng cách có chế độ ăn khoa học, hợp lý, tránh béo phì; Có chế độ luyện tập thể dục thường xuyên, hợp lý; Tránh các trạng thái căng thẳng, stress trong công việc và cuộc sống Đối tượng đánh dẫu x vào ô tương ứng ở bảng kiểm
- Hiểu sai về bệnh ĐTĐ là đối tượng không biết gì về bệnh ĐTĐ cho bệnh ĐTĐ là bệnh nhiễm trùng, do vi khuẩn hoặc vi rút gây nên; không hiểu về các yêu tố nguy cơ ảnh hưởng tới bệnh ĐTĐ và không hiểu về cách thức phòng bệnh ĐTĐ; cho rằng bệnh ĐTĐ không có vấn đề gì nghiêm trọng
e Đánh giá kiểm soát đường máu
Theo tài liệu hướng dẫn của nhóm chính sách ĐTĐ khu vực Châu Á – Thái Bình Dương tái bản lần thứ 3 năm 2002 [10] tiêu chuẩn đánh giá như sau:
Glucose huyết tương lúc đói 4,4-6,1 ≤7,0 >7,0
Trang 31g Đánh giá kiểm soát lipid máu
Theo tài liệu hướng dẫn của nhóm chính sách ĐTĐ khu vực Châu Á – Thái Bình Dương tái bản lần thứ 3 năm 2002 [10] tiêu chuẩn đánh giá như sau:
h Đánh giá hiệu quả
Đánh giá kết quả can thiệp dựa vào chỉ số hiệu quả và hiệu quả can thiệp
+ Chỉ số hiệu quả (CSHQ) % = (p1 – p2)/p1 x 100 Trong đó p1 là tỷ lệ trước can thiệp, p2 là tỷ lệ sau can thiệp
+ Hiệu quả can thiệp (HQCT) % = CSHQ can thiệp – CSHQ chứng
i Xác định một số yếu tố liên quan
- Thói quen uống rượu: Người có thói quen uống rượu bia là người thường xuyên liên tục uống rượu bia mỗi ngày từ 50ml trở lên (tương đương 1 chén nhỏ) hoặc 1 cốc bia Sau khi được tư vấn người bệnh bỏ dần lối sống uống rượu bia theo các mức độ uống nhiều, uống vừa, uống ít, thỉnh thoảng uống, cai hẳn
- Ăn nhiều rau: người ăn nhiều rau là người ăn lượng rau trên 400 gram rau xanh/ngày, ăn liên tục từ 4 - 7 ngày trong tuần; người ăn ít rau là người ăn lượng rau hàng ngày < 400 gr rau xanh và ăn không liên tục các ngày trong tuần
< 4 ngày trong tuần
- Ăn đồ ngọt: người ăn ít đồ ngọt là người ăn ngọt < 4 ngày trong tuần
- Ăn chất béo: Là người thường xuyên ăn ít chất béo động vật <4 ngày trong tuần, thường xuyên ăn chất béo thực vật
Trang 32Người có thói quen ăn rau, mỡ, ăn ngọt thường xuyên là người thích ăn nhiều rau, mỡ, đồ ngọt liên tục từ 4- 7 ngày trong tuần
- Người có thói quen hút thuốc lá là người hút thường xuyên liên tục mỗi ngày trên 10 điếu
- Người ít hoạt động thể lực là những người lao động trí óc, người làm việc nhẹ, người làm công việc hành chính, nghỉ hưu, thất nghiệp
- Người lao động trung bình là những người làm công việc lao động chân tay nhẹ nhàng, lao động vừa phải suốt ngày, không tham gia các hoạt động thể lực thêm
- Người có hoạt động thể lực nặng gồm các đối tượng lao động nặng nhọc suốt ngày, các nghề thổ mộc, các vận động viên thể thao…
- Mối liên quan tiền sử gia đình: Những đối tượng có ông bà cha mẹ, anh chị em ruột, cô gì chú bác ruột được coi là những đối tượng có liên quan đến bệnh đái tháo đường
2.5 Phương pháp khống chế sai số
- Cán bộ điều tra là nhóm nghiên cứu (Các bác sỹ của Sở Y tế Bắc Giang,
Bệnh viện Nội tiết Trung ương) Cán bộ nghiên cứu được tập huấn và thống nhất về phương pháp trước khi tiến hành điều tra
- Phiếu điều tra: Các phiếu điều tra được nhóm nghiên cứu được xây dựng theo đúng qui trình xây dựng với bộ câu hỏi đóng, mở
2.6 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu được sự đồng ý của Sở Y tế Bắc Giang Bệnh nhân và người nhà bệnh nhân được giải thích rõ ràng, tự nguyện tham gia và có quyền từ chối không tham gia; các thông tin được giữ kín
2.7 Xử lý số liệu
Số liệu được nhập, phân tích và xử lý trên chương trình EPI INFO 6.04
vàSPSS bằng các phương pháp thống kê y học Trong nghiên cứu sử dụng tỷ lệ
phần trăm và dùng thuật toán so sánh χ2
, test so sánh
Trang 33Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Thực trạng bệnh đái tháo đường và yếu tố liên quan tại cộng đồng
3.1.1 Những đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Những thông tin chung của đối tượng
Biết đọc, chưa biết viết 39 1,1
Trang 34Nhận xét: - Tổng số đối tượng nghiên cứu là 3702 người thuộc 20 xã,
phường, thị trấn, trong đó khu vực Miền núi chiếm 39,9%; khu vực Trung du chiếm 41,6% và khu vực Đồng bằng chiếm 18,5%
- Đối tượng nam giới chiếm 68,3% và đối tượng nữ giới chiếm 31,7%
- Các đối tượng có trình độ Trung học cơ sở chiếm tỷ lệ cao nhất 47,8%, Tiểu học chiếm 18,3%, Trung học phổ thông chiếm 23%; Đại học, Cao đẳng chiếm 4,8%; biết đọc, chưa biết viết chiếm 1,1%, mù chữ chiếm tỷ lệ 1,0%
- Đối tượng lao động trung bình chiếm tỷ lệ cao nhất 58,2%; lao động lao động trí óc/nhẹ chiếm tỷ lệ 31,9% và lao động nặng chiếm tỷ lệ 9,9%
- Nhóm đối tượng nghiên cứu thuộc dân tộc kinh chiếm 92,8 % và các dân tộc còn lại chiếm tỷ lệ 7,2%, tỷ lệ này phù hợp với tỷ lệ chung của tỉnh Bắc Giang
- Nhóm đối tượng nghiên cứu đã lập gia đình chiếm tỷ lệ 98,2%, chưa có gia đình chiếm tỷ lệ 1,4%, ly hôn và các đối tượng khác cùng tỷ lệ là 0,2%
- Tỷ lệ nhóm đối tượng lao động nhẹ/lao động trí óc chiếm 31,9%, nhóm lao động trung bình chiếm 58,2%, thấp nhất là nhóm lao động nặng chiếm 9,9%
Bảng 3.2 Đặc điểm về tuổi trung bình của đối tượng theo khu vực và toàn tỉnh
Trang 353.1.2 Tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường ở các khu vực và của toàn tỉnh
Bảng 3.3.Tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường theo khu vực và toàn tỉnh
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ bệnh đái đường theo khu vực và toàn tỉnh
Nhận xét: Tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường của khu vực miền núi chiếm
3,4%, khu vực trung du chiếm 5,1%, khu vực Đồng bằng chiếm 5,6% và tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường của toàn tỉnh chiếm 4,5%
Trang 363.1.3 Tỷ lệ rối loạn dung nạp glucose của các khu vực và toàn tỉnh
Bảng 3.4 Tỷ lệ rối loạn dung nạp glucose theo khu vực và toàn tỉnh
Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ rối loạn dung nạp glucose theo khu vực và toàn tỉnh
Nhận xét: Tỷ lệ rối loạn dung nạp glucose cao nhất ở khu vực Đồng bằng
chiếm 4,1%, tiếp đến khu vực Miền núi chiếm 3,0% và khu vực Trung du chiếm 2,7% Tỷ lệ rối loạn dung nạp glucose của toàn tỉnh chiếm 3,1%
Trang 373.1.4 Tỷ lệ rối loạn đường máu lúc đói ở khu vực và toàn tỉnh
Bảng 3.5 Tỷ lệ rối loạn đường máu lúc đói theo khu vực và toàn tỉnh
Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ rối loạn đường máu lúc đói theo khu vực và toàn tỉnh
Nhận xét: Tỷ lệ rối loạn đường máu lúc đói của khu vực Miền núi chiếm
8,7%, khu vực Trung du chiếm 7,7%, khu vực Đồng bằng chiếm 9,1% và tỷ lệ rối loạn đường máu lúc đói của toàn tỉnh chiếm 8,3%
Trang 383.1.5 Tỷ lệ một số yếu tố nguy cơ khác của bệnh ĐTĐ ở khu vực và toàn tỉnh Bảng 3.6 Tỷ lệ đối tượng có yếu tố nguy cơ đái tháo đường theo BMI
42,6 44,2
Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ đối tượng có chỉ số BMI ≥23 theo khu vực và toàn tỉnh
Nhận xét: Tỷ lệ đối tượng có chỉ số cơ thể BMI ≥ 23 cao nhất ở khu vực Đồng bằng chiếm 50,4%, khu vực miền núi là 44,2%, khu vực Trung du là 42,6%; Tỷ lệ chỉ số cơ thể của nhóm đối tương nghiên cứu toàn tỉnh có chỉ số
Trang 39Bảng 3.7 Tỷ lệ đối tượng có tăng huyết áp theo khu vực
Tỷ lệ %
Miền núi Trung du Đồng bằng Toàn tỉnh
Khu vực
Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ đối tượng có tăng HA theo khu vực và toàn tỉnh
Nhận xét: Tỷ lệ tăng huyết áp cao nhất ở khu vực Trung du chiếm 30,1%,
tiếp đến là khu vực Đồng bằng chiếm 22,1%, khu vực Miền núi chiếm tỷ lệ rất thấp là 2,1% Tỷ lệ có cao huyết áp của toàn tỉnh là 17,4%
Trang 40Bảng 3.8 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có tiền sử gia đình liên quan tới bệnh đái tháo đường
Nhận xét: Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có tiền sử gia đình mắc bệnh đái
tháo đường ở khu vực Đồng bằng chiếm tỷ lệ cao nhất là 8,5%, tiếp đến là khu vực Miền núi chiếm 6,7%, khu vực Trung du chiếm 6,2% Tỷ lệ đối tượng