Thứ nhất, Tesco đang tìm thị trường ngách, tránh cạnh tranh trực diện với các thương hiệu lớn. Tại các khu vực phát triển kinh tế như Bắc Mỹ và Tây Âu sẽ không thể tránh khỏi sự bành chướng thị trường của các đối thủ cạnh tranh mạnh có tiềm lực của địa phương. Khi các thương hiệu như Walmart của Mỹ hay Carrefour của Pháp đã xây dựng được uy tín thương hiệu với độ phủ thị phần rộng rãi tại khu vực, Tesco chọn chiến lược kinh doanh dựa trên khe hở trên thị trường. Những năm cuối thập kỷ 90 khi nhiều nhà phân phối lớn thờ ơ với sức mua yếu ớt của người tiêu dùng Đông Âu thì Tesco đã nhìn thấy tiềm năng tăng trưởng tại các khu vực nhỏ và tìm đến Hungary, Slovakia và Poland, bắt tay với các nhà phân phối địa phương. Sự hợp tác đó đã giúp Tesco tận dụng được sự hiểu biết về thị hiếu cũng như văn hóa xã hội của người tiêu dùng địa phương và giảm nhẹ được những chi phí mở rộng hoạt động kinh doanh dựa trên các nền tảng thương hiệu có sẵn như Golbal, Stavia... Như vậy, Tesco đã rất khôn ngoan khi trách đối đầu trực diện với những ông lớn ngành bán lẻ như Walmart hay Carrefour tại các khu vực phát triển, Tesco đã chủ động chọn cho mình những thị trường tiềm năng để tránh được xung đột của những người bán đã có sẵn tại địa phương.
Trang 1Câu 1: Trình bày những nhân tố chủ yếu tác động đến chiến lược kinh doanh quốc tế
của công ty?
Những nhân tố chủ yếu tác động đến chiến lược kinh doanh quốc tế của công
ty bao gồm:
1 Các điều kiện kinh tế
Để duy trì và phát triển các hoạt động kinh doanh nói chung và kinh doanh quốc tế nói riêng thì điều kiện kinh tế hay nói cách khác là tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia trong nền kinh tế toàn cầu là vô cùng quan trọng Điều kiện kinh tế có tác động mạnh mẽ đến khối lượng giao dịch giữa các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế Đặc biệt, sự gia tăng thương mại và đầu tư luôn có xu hướng biến đổi nhanh hơn
so với sự thay đổi của nền kinh tế Hay nói cách khác, sự gia tăng thương mại và đầu
tư dẫn đến sự thay đổi của nền kinh tế
Nếu thu nhập của dân cư ngày càng tăng lên thì điều kiện sinh hoạt của họ sẽ tăng lên, phát sinh nhiều nhu cầu cho sản xuất và tiêu dùng sản phẩm Trong khi đó, thị trường nội địa khó có thể thích ứng nhanh và thỏa mãn được những nhu cầu đó, nên buộc phải mở rộng hoạt động kinh doanh ra phạm vi quốc tế Chính vì vậy, tỷ lệ mậu dịch quốc tế đang có xu hương tăng nhanh hơn tỷ lệ tổng sản phẩm quốc tế trong dài hạn…Điều này có nghĩa là sự tương quan so sánh giữa kinh doanh và sản xuất không cố định mà luôn thay đổi qua các thời kì
Chính điều kiện kinh tế của mỗi quốc gia sẽ quyết định gia tăng tỉ lệ trao đổi các sản phẩm đã chế biến và giảm tỉ lệ buôn bán các sản phẩm chưa sơ chế hay nguyên liệu sản phẩm Bởi thông thường, các quốc gia phát triển muốn được sử dụng thành phẩm hoàn thiện nhất chứ không muốn phải bỏ thêm tư liệu sản xuất vào sản phẩm đó nữa, tránh làm tăng chi phí sản xuất sản phẩm Hơn nữa, mức độ gia tăng khối lượng và giá trị hàng hóa trong kinh doanh tùy thuộc rất lớn vào mức độ can thiệp của chính phủ bởi mỗi quốc gia đều muốn bảo vệ và phát triển lợi thế so sánh của nước mình Các chính sách, công cụ kinh tế vĩ mô mà các quốc gia có thể sử dụng để điều tiết giao thương hàng hóa giữa các quốc gia là: Thuế xuất – nhập khẩu, Hạn ngạch xuất – nhập khẩu, chính sách hỗ trợ xuất nhập khẩu… để đảm bảo lợi thế
so sánh quốc gia
Trang 2Như vậy, muốn gia tăng lợi nhuận cho công ty, doanh nghiệp cần quan tâm và biết về điều kiện kinh tế các quốc gia, lợi thế so sánh về sản phẩm gì để có thể đưa ra những chính sách kinh doanh phù hợp, hiệu quả hơn
2 Sự phát triển của khoa học – công nghệ
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ 4.0 hiện nay đang diễn ra trên toàn thế giới Sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện nay đang thúc đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế ở từng quốc gia, làm cho nhiều quốc gia có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo từ công nghiệp hóa sang hiện đại hóa Những mặt hàng nguyên liệu chưa qua sơ chế, lắp ráp nay được hạn chế dần mà thay vào đó là phát triển những mặt hàng đã ra được thành phẩm hoàn thiện với khoa học – kỹ thuật – công nghệ hiện đại nhất Điều này dẫn đến tình trạng cạnh chậm phát triển tại một số quốc gia nghèo và các doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh kém hơn do không theo kịp và không có điều kiện về khoa học công nghệ
Chính sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ đã làm xuất hiện sản phẩm mới, những ngành nghề mới thay thế những sản phẩm cũ và thay đổi vị trí của từng quốc gia, từng doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh quốc tế Chính vì vậy, để không bị lạc hậu hay đào thải khỏi thị trường kinh doanh quốc tế buộc các công ty, doanh nghiệp phải nâng cao ưu thế cạnh tranh về mảng khoa học – kỹ thuật – công nghệ của mình
3 Điều kiện chính trị, xã hội và quân sự
Sự ổn định hay bất ổn về chính trị, xã hội là một trong những nhân tố ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh nói chung và kinh doanh quốc tế nói riêng của các doanh nghiệp Hệ thống chính trị và các quan điểm về chính trị, tác động trực tiếp đến mối quan hệ giao thương giữa các quốc gia, ảnh hưởng đến phạm vi, lĩnh vực, mặt hàng, đối tác kinh doanh,…
Mới đây, với riêng Việt Nam, việc hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng với các quốc gia thông qua việc ký kết các Hiệp định kinh tế FTA thế hệ mới như EVFTA, UKVFTA hay CPTPP đã mở ra cơ hội giao thương hàng hóa giữa các quốc gia, tạo điều kiện thuận lợi cho kinh doanh quốc tế của các doanh nghiệp Ngược lại, nếu chính trị căng thẳng như cuộc chiến tranh thương mại Mỹ – Trung vừa qua khi hai
Trang 3quốc gia này gia tăng những đòn trừng phạt thì mối giao thương hàng hóa, kinh doanh quốc tế cũng gặp nhiều biến động lớn
Những xung đột về quân sự dù ở quy mô lớn hay nhỏ, dù là trong nội bộ quốc gia (nội chiến) hay giữa các quốc gia với nhau đều dẫn đến làm thay đổi lớn về sản phẩm được sản xuất Điều kiện chính trị – xã hội và pháp luật có thể làm phá vỡ những quan hệ kinh doanh truyền thống, thay đổi hệ thống hoặc làm tăng chi phí vận tải, làm thay đổi khối lượng mậu dịch và đầu tư quốc tế, hoặc gây ra chuyển hướng kinh doanh khiến cho kinh doanh thay đổi, đầu tư bị gián đoạn, quan hệ giữa các quốc gia bị xấu đi và xây nên những hàng rào ngăn cản hoạt động kinh doanh quốc tế
4 Sự hình thành các liên minh, liên kết về chính trị hoặc quân sự
Việc hình thành các khối liên kết về kinh tế, chính trị, quân sự đã góp phần làm tăng hoạt động kinh doanh, buôn bán và đầu tư giữa các quốc gia thành viên (trong khối), làm giảm tỷ lệ mậu dịch với các nước không phải thành viên Để khắc phục hạn chế này, các quốc gia thành viên trong khối thường tiến hành ký kết với các quốc gia ngoài khối những hiệp định, thỏa ước để từng bước nới lỏng hàng rào vô hình tạo điều kiện cho hoạt động kinh doanh quốc tế phát triển
Bên cạnh các hiệp định song phương, đa phương giữa các quốc gia đã và đang được ký kết, các tổ chức kinh tế quốc tế, đặc biệt là Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) có vai trò cực kỳ quan trọng đối với kinh doanh quốc tế Chính những tổ chức này đã cung cấp vốn cho những chương trình xã hội và phát triển cơ sở hạ tâng như đường giao thông, cầu cảnh, nhà ở… Việc cho vay của những
tổ chức này đã kích thích mậu dịch và đầu tư trực tiếp của các doanh nghiệp Thông qua đó, các quốc gia, các doanh nghiệp kinh doanh có thể mua được những máy móc thiết bị cần thiết từ nước ngoài, xây dựng mới hoặc nâng cấp cơ sở hạ tầng và do đó thúc đẩy hoạt động kinh doanh quốc tế có hiệu quả
Việc hình thành và phát triển của Liên minh châu Âu (EU) với 25 quốc gia thành viên, với đỉnh cao là đưa đồng tiên chung EURO vào lưu hành chính thức (01/01/2002), làm cho vị thế của EURO được nâng cao đồng thời thúc đẩy kinh doanh quốc tế phát triển mạnh hơn Tuy nhiên, đến năm 2020 khi Prexit diễn ra,
Trang 4nước Anh cũng gặp những vấn đề mới và cấp thiết về tự do mậu dịch hàng hóa tại
EU và việc đồng bảng Anh mất giá
Như vậy, việc hình thành các khối liên kết về kinh tế, chính trị, quân sự có tác động không nhỏ đến kinh doanh và thương mại quốc tế Các tổ chức, doanh nghiệp cần nắm rõ về các quốc gia nội tại hay đối tác tham gia liên kết chính trị, kinh tế nào để có thể điều chỉnh được sản lượng và kim ngạch cũng như tỷ lệ mậu dịch phù hợp hơn
Câu 2: Có bảng số liệu
1 Xác định cơ sở mậu dịch giữa hai quốc gia
Đặt trong điều kiện năng suất lao động là duy nhất Ta có: Quốc gia 1 có lợi thế so sánh trong việc sản xuất sản phẩm A Quốc gia 2 có lợi thế so sánh trong việc sản xuất sản phẩm B Vì vậy, cơ sở mậu dịch giữa hai quốc gia là:
- Quốc gia 1 chuyên môn hóa trong việc sản xuất sản phẩm A, xuất khẩu sản phẩm
A và nhập khẩu sản phẩm B
- Quốc gia 2 chuyên môn hóa trong việc sản xuất sản phẩm B, xuất khẩu sản phẩm
B và nhập khẩu sản phẩm A
2 Tính tỷ lệ khung trao đổi giữa hai quốc gia
Đặt giả định tỷ lệ trao đổi giữa các quốc gia là 1:1 thì phần lợi ích của các quốc gia như sau:
- Với quốc gia 1 có lợi thế về sản phẩm A
Vì có lợi thế về sản phẩm A nên quốc gia 1 sẽ dùng thời gian 01 giờ sản xuất toàn bộ sản phẩm A, thu được 8 sản phẩm A thay vì dùng 01 giờ sản xuất thu được 6 sản phẩm B
Nếu theo tỷ lệ trao đổi quốc tế 1 sản phẩm A = 1 sản phẩm B thì quốc gia 1 có lợi trong 1 giờ lao động sản xuất là:
Lợi ích 1 giờ lao động = 8 sản phẩm A – 6 sản phẩm A = 2 sản phẩm A
- Với quốc gia 2 có lợi thế về sản phẩm B
Trang 5Vì có lợi thế về sản phẩm B nên quốc gia 2 sẽ dùng thời gian 01 giờ sản xuất toàn bộ sản phẩm B, thu được 10 sản phẩm B thay vì dùng 01 giờ sản xuất thu được
5 sản phẩm A
Nếu theo tỷ lệ trao đổi quốc tế 1 sản phẩm A = 1 sản phẩm B thì quốc gia 2 có lợi trong 1 giờ lao động sản xuất là:
Lợi ích 1 giờ lao động = 10 sản phẩm B – 5 sản phẩm B = 5 sản phẩm B
3 Tỷ lệ trao đổi để lợi ích hai quốc gia bằng nhau
Tại quốc gia 1, 1 giờ lao động tạo ra được 8 sản phẩm A hoặc 6 sản phẩm B Vậy 1 sản phẩm A = 3/4 sản phẩm B; hoặc 1 sản phẩm B = 4/3 sản phẩm A
Tại quốc gia 2, 1 giờ lao động tạo ra được 5 sản phẩm A hoặc 10 sản phẩm B Vậy 1 sản phẩm A = 2 sản phẩm B; hoặc 1 sản phẩm B = 1/2 sản phẩm A
Vậy điều kiện thương mại để 2 quốc gia cùng có lợi là:
3/4 sản phẩm B < 1 sản phẩm A < 2 sản phẩm B
Hoặc:
1/2 sản phẩm A < 1 sản phẩm B < 4/3 sản phẩm A
Vậy điều kiện thương mại để 2 quốc gia trao đổi với lợi ích bằng nhau là:
3/4 sản phẩm B ở quốc gia 1 = 2 sản phẩm B quốc gia 2
Hoặc:
4/3 sản phẩm A ở quốc gia 1 = 1/2 sản phẩm A quốc gia 2
Câu 3:
1 Mô tả một tình huống khó xử về đạo lý trong kinh doanh quốc tế
Dựa trên một tình huống có thực xảy ra với hãng hàng thời trang H&M của Thụy Điển diễn ra tại Trung Quốc trong những năm gần đây
H&M là một thương hiệu thời trang nổi tiếng với những bộ sưu tập thời thượng, sản phẩm của H&M có giá trị đắt đỏ, thể hiện đẳng cấp người tiêu dùng và được ưa chuộng tại nhiều thị trường, trong đó có Trung Quốc Thương hiệu thời trang này có đặt cơ sở sản xuất tại Trung Quốc để tăng lợi thế cạnh tranh, một là vì nhân công Trung Quốc là những người thợ lành nghề, có công nghệ hiện đại; hai là vì giá nguyên liệu đầu vào rất rẻ Một trong những nguyên liệu mà hãng hàng đã sử dụng trong nhiều năm qua chính là bông vải Tân Cương
Trang 6Sự việc bắt đầu khi H&M ngừng sử dụng bông vải Tân Cương do những cáo buộc phía Trung Quốc đã trói buộc và bóc lột sức lao động của người Duy Ngô Nhĩ Điều này khiến cho người Trung Quốc tẩy chay hãng hàng H&M khiến doanh thu công ty sụt giảm đáng kể Đứng trước nguy cơ bị tẩy chay gay gắt và doanh thu sụt giảm nhiều hơn, ông X - giám đốc kinh doanh của H&M tại chi nhánh Trung Quốc đưa ra quyết định có thể tiếp tục sử dụng bông vải Tân Cương
Tình huống khó xử đặt với nhân viên chính là những nhân viên đều biết việc làm này của ông X nhưng họ đang phân vân, không biết lựa chọn giữa việc tố giác ông X với tổng giám đốc hãng hàng vì đã thay đổi với quyết định ban đầu của hãng hàng, bỏ qua đạo đức kinh doanh và trách nhiệm cộng đồng bóc lột sức lao động của những người Duy Ngô Nhĩ Hay việc sẽ tiếp tục im lặng, trung thành trước ông X, bởi suy cho cùng quyết định của ông X cũng là vì lợi ích của hãng hàng, không muốn mất đi thị phần tiềm năng tại Trung Quốc và việc nhập nguyên liệu là bông vải Tân Cương cũng giảm giá thành chi phí nguyên liệu đầu vào cho hãng hàng này
Hơn nữa, tổng giám đốc hãng hàng là người Thụy Điển Tổng giám đốc tin rằng chỉ khi các hãng hàng đều đồng loạt tẩy chay bông vải Tân Cương thì những người Duy Ngô Nhĩ mới không bị trói buộc Là một hãng hàng thời trang đa quốc gia, ông mong muốn có thể xây dựng được lợi ích cộng đồng và trách nhiệm xã hội Đứng trước việc làm của ông X, tổng giám đốc có hai quyết định khó khăn đều được coi là đúng đắn như sau:
Một là, cắt chức người giám đốc kinh doanh X vì làm trái lại với quyết định của ban quản trị hãng hàng Làm xấu bộ mặt thương hiệu và xâm phạm vào lợi ích cộng đồng mà hãng hàng H&M đã mất công xây dựng
Hai là, đồng lòng với giám đốc kinh doanh X bởi thị trường Trung Quốc rất tiềm năng Có thể khác biệt trong văn hóa Thụy Điển – Trung Quốc sẽ làm khó nếu như H&M muốn chiếm thị trường này Và vì vậy, tổng giám đốc cần ông X để có thể hiểu rõ hơn về thị trường Dù sao, với nguồn nguyên liệu rẻ và không bị tẩy chay thì hãng hàng vẫn có khả năng tăng doanh thu hơn
Như vậy với tình huống đặt ra cho thấy, khi đứng trước cả hai sự lựa chọn đều đúng thì quyết định của nhà quản trị rất khó khăn mà vô cùng quan trọng Đúng quan
điểm của Rushworth Kidder, Chủ tịch Viện đạo lý toàn cầu, cho rằng: “Những lựa
Trang 7chọn khó khăn nhất mà con người phải đối mặt không phải là việc phân biệt giữa cái đúng với cái sai, mà là phân biệt giữa cái đúng với nhau”.
2 Định nghĩa về hành vi đạo lý và tác động
2.1 Định nghĩa về hành vi đạo lý
Từ “đạo đức” có gốc từ la tinh Moralital (luận lý) – bản thân mình cư xử và gốc từ Hy Lạp Ethigos (đạo lý) – người khác muốn ta hành xử và ngược lại ta muốn họ Ở Trung Quốc, “đạo” có nghĩa là đường đi, đường sống của con người, “đức” có nghĩa là đức tính, nhân đức, các nguyên tắc luân lý. Hành vi đạo lý là tập hợp các nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh, đánh giá hành vi của con người đối với bản thân và trong quan hệ với người khác, với xã hội
Theo từ điển Điện tử American Heritage Dictionary định nghĩa: “đạo đức là một bộ môn khoa học nghiên cứu về bản chất tự nhiên của cái đúng – cái sai và phân biệt khi lựa chọn giữa cái đúng – cái sai, triết lý về cái đúng – cái sai, quy tắc hay chuẩn mực chi phối hành vi của các thành viên cùng một nghề nghiệp”.
Trong lĩnh vực kinh doanh, đạo đức kinh doanh là một tập hợp các nguyên tắc, chuẩn mực về cái đúng, cái sai có tác dụng điều chỉnh, đánh giá, hướng dẫn và kiểm soát hành vi của các chủ thể kinh doanh
Như vậy, đạo đức kinh doanh chính là đạo đức được vận dụng vào hoạt động kinh doanh Hay nói cách khác, đạo đức kinh doanh là một dạng đạo đức nghề nghiệp Tuy nhiên, kinh doanh vẫn phải chịu sự chi phối vởi một hệ giá trị và chuẩn mực đạo đức xã hội chung
2.2 Tác động để cư xử hành vi đạo lý
Theo em, con người có bị tác động để hành xử có đạo lý
Hành vi đạo lý khác với luật pháp, không bị ràng buộc bởi những quy định pháp lý, bắt buộc con người phải tuân theo mà hành vi đạo lý cho con người có quyền tự chọn lựa đưa ra hành vi về cái đúng – cái sai và hoàn toàn có thể bị tác động Trong một số trường hợp đặc biệt, có thể cá nhân đã tuân theo hoặc không tuân theo hành vi đạo đức của họ đề ra, nhưng các yếu tố bên ngoài có thể tác động vào khiến họ điều chỉnh hành vi của mình Các yếu tố bên ngoài có thể là:
- Đạo đức cá nhân;
- Quy trình ra quyết định;
Trang 8- Văn hóa tổ chức;
- Những kỳ vọng về những mục tiêu phi thực tế;
- Lãnh đạo;
- Văn hóa xã hội
Ví dụ như những người phải làm việc xa quê hương, họ phải xa rời văn hóa xã hội quen thuộc của họ và gia nhập vào một môi trường mới, có thể họ sẽ phạm vào những hành vi đạo đức cá nhân để thực hiện hành vi đạo lý xã hội Chẳng hạn như việc một người ăn chay không muốn giết hại động vật, súc vật nhưng gia nhập vào một tổ chức có văn hóa ăn mặn thì buộc người ăn chay phải có những điều chỉnh nhất định trong hành vi đạo đức của mình
Hoặc cũng có thể do văn hóa xã hội tác động đến hành vi đạo đức Một người
có những hành động sai trái, phi đạo đức nhưng khi vào trại giáo dưỡng được nghe giảng về đạo đức đã cảnh tỉnh, hiểu được những cái đúng – cái sai và phát huy được những hành vi đạo đức của mình để mang lại lợi ích, giá trị tích cực cho xã hội
Như vậy, hành vi đạo đức của con người hoàn toàn có thể bị tác động bởi các yếu tố bên ngoài Để con người có thể có những hành vi đạo đức tốt đẹp cần tác động theo hướng tích cực đến họ
Câu 4: Phân tích chiến lược kinh doanh của Tesco?
1 Tesco tập trung vào các quốc gia đang phát triển
Thứ nhất, Tesco đang tìm thị trường ngách, tránh cạnh tranh trực diện với các thương hiệu lớn Tại các khu vực phát triển kinh tế như Bắc Mỹ và Tây Âu sẽ không thể tránh khỏi sự bành chướng thị trường của các đối thủ cạnh tranh mạnh có tiềm lực của địa phương Khi các thương hiệu như Walmart của Mỹ hay Carrefour của Pháp đã xây dựng được uy tín thương hiệu với độ phủ thị phần rộng rãi tại khu vực, Tesco chọn chiến lược kinh doanh dựa trên khe hở trên thị trường Những năm cuối thập kỷ 90 khi nhiều nhà phân phối lớn thờ ơ với sức mua yếu ớt của người tiêu dùng Đông Âu thì Tesco đã nhìn thấy tiềm năng tăng trưởng tại các khu vực nhỏ và tìm đến Hungary, Slovakia và Poland, bắt tay với các nhà phân phối địa phương Sự hợp tác đó đã giúp Tesco tận dụng được sự hiểu biết về thị hiếu cũng như văn hóa xã hội của người tiêu dùng địa phương và giảm nhẹ được những chi phí mở rộng hoạt động kinh doanh dựa trên các nền tảng thương hiệu có sẵn như Golbal, Stavia Như vậy,
Trang 9Tesco đã rất khôn ngoan khi trách đối đầu trực diện với những ông lớn ngành bán lẻ như Walmart hay Carrefour tại các khu vực phát triển, Tesco đã chủ động chọn cho mình những thị trường tiềm năng để tránh được xung đột của những người bán đã có sẵn tại địa phương
Thứ hai, Tesco tận dụng quy mô thị trường lớn và tốc độ tăng trưởng nhanh chóng ở Châu Á Tại các thị trường mới nổi ở Đông Âu và Châu Á như: Thái Lan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc… khi có ít đối thủ cạnh tranh và có sức tăng trưởng mạnh mẽ tiềm ẩn Tesco liên tục mở rộng thị phần của mình trên các quốc gia này từ Thái Lan đến Hàn Quốc, Đài Loan và đến Trung Quốc Sau khoảng thời gian dài bành chướng tại thị phần Châu Á, Tesco đã đủ tiềm lực để có thể xâm nhập vào các thị trường phát triển kinh tế mạnh, có những đối thủ cạnh trạnh thương hiệu lớn như tại Mỹ và Anh Tìm kiếm các thị trường ngách có tiềm năng lớn đã giúp Tesco tăng trưởng về kinh tế cũng như thương hiệu và đã giúp Tesco vững bước tiến vào thị trường khó tính là Nhật Bản - nơi mà trước đó ít lâu nhà phân phối lớn thứ 2 thế giới Carrefour của Pháp phải "bỏ của chạy lấy người"
2 Tesco tạo nên các giá trị quốc tế
Thứ nhất, Tesco đã tạo ra các giá trị quốc tế khi chuyển giao giá trị cốt lõi việc phân phối hàng hóa bán lẻ đến các bên liên doanh mới của mình Cùng lúc đó, Tesco chủ động thuê những người quản lý địa phương và giúp đỡ họ tăng thêm khả năng chuyên môn bán lẻ với một vài chuyên gia từ Anh Việc làm này giúp cho nhwunxg người dân địa phương có thể tăng thêm thu nhập của mình và học hỏi được những tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại của các nước phát triển Trong tất cả 2.365 cửa hàng của hãng nằm rải rác ở 13 quốc gia, Tesco luôn chú trọng việc tuyển dụng lao động địa phương Bởi chính lao động địa phương sẽ là cầu nối cho Tesco đến với văn hóa, thị hiếu và xu hướng tiêu dùng khách hàng tiềm năng tại khu vực mà họ mở rộng kinh doanh
Thứ hai, Tesco tin tưởng rằng chiến lược hợp tác tại Châu Á là khai thác một thị trường tiềm năng Tesco đã hợp tác với những đối tác có thương hiệu phủ sóng, kiến thức sâu rộng về thị trường họ đang làm việc nhưng thiếu nguồn lực tài chính cũng như khả năng bán lẻ Như vậy cả Tesco và đối tác của mình đã trao đổi và giúp
Trang 10đỡ nhau về nguồn lực, mang đến lợi ích đôi bên cho sự hợp tác, giúp nâng cao khả năng thành công
Thứ ba, Tesco tập trung vào những thị trường có tiềm năng phát triển nhưng không có nhiều đối thủ bản địa cạnh tranh, tạo nên nền tảng cho sự mở rộng của Tesco Và cũng từ đó, Tesco phân phối những sản phẩm chất lượng với độ phủ sóng
vô cùng rộng lớn tại các khu vực và trên toàn cầu
3 Lợi ích và rủi ro khi hợp tác tại thị trường Asia của Tesco
- Những lợi ích khi Tesco tham gia hợp tác tại thị trường Asia là:
Một là, Tesco được mở rộng thị trường mới đầy tiềm năng với những quốc gia đang phát triển và có nhu cầu tiêu dùng lớn
Hai là, tiết kiệm được chi phí mở rộng tại Asia thay vì các cường quốc phát triển kinh tế với nhiều đối thủ cạnh tranh lớn mạnh trong ngành
Ba là, Tesco thu được lợi nhuận cao nhờ tiếp xúc được lượng lớn khách hàng tiềm năng mới tại khu vực Asia
Bốn là, chia sẻ được rủi ro Sang một thị trường mới và hợp tác với các đối tác sẽ giúp giảm thiểu rủi ro hơn là chỉ tập trung vào một thị trường Ngoài ra, với nhiều môi trường văn hóa khác nhau thì xu hướng tiêu dùng cũng khác nhau nên có thể Tesco sẽ hạn chế được những rủi ro như không đáp ứng đúng nhu cầu khách hàng…
Năm là, Tesco tận dụng được nguồn nguyên liệu và nhân công giá rẻ bởi thị trường Asia có nhiều tài nguyên phong phú, mà nhân công lại khéo tay, phí thuê rẻ
Sáu là, Tesco không cần đội ngũ nhân viên nước ngoài của mình mà thuê các nhà quản lý địa phương phối hợp thực hiện để nghiên cứu và quản lý tốt thị trường mới này
- Bên cạnh đó, Tesco cũng gặp những rủi ro như:
Một là, Tesco không còn độc quyền về quy trình sản xuất công nghệ, cơ sở dữ liệu, cách thức hoat động của công ty
Hai là, Tesco bị gia tăng số lượng đối thủ cạnh tranh khi tham gia thị trường mới
- Để tránh được những rủi ro nêu trên, Tesco có thể thực hiện một số giải pháp sau:
Một là, Tesco cần nghiên cứu thị trường cẩn thận trước khi quyết định đầu tư liên doanh “Biết người biết ta trăm trận trăm thắng”, nếu như Tesco nghiên cứu thị