Trong quá trình giảng dạy theo mô hình lớp học đảo ngược LHĐN, việc sử dụng các loại bản đồ, tranh ảnh, đặc biệt là tranh biếm họa TBH được đánh giá là một công cụ quan trọng và có hiệu
TÍNH MỚI, TÍNH KHÁC BIỆT CỦA SÁNG KIẾN
Để đƣa tranh biếm họa vào giảng dạy theo mô hình lớp học đảo ngƣợc, tác giả đã xác định một số nội dung chủ yếu của sáng kiến nhƣ sau:
- Tranh biếm họa là gì?
+ Khái niệm về tranh biếm họa
+ Phân loại tranh biếm họa
+ Lợi ích của việc sử dụng tranh biếm họa trong dạy học Địa lí
+ Nguyên tắc lựa chọn tranh biếm họa
- Mô hình lớp học đảo ngƣợc:
+ Khái niệm về lớp học đảo ngƣợc
+ So sánh mô hình lớp học truyền thống và lớp học đảo ngƣợc
+ Những ƣu điểm của lớp học đảo ngƣợc
+ Ứng dụng mô hình lớp học đảo ngược trong việc giảng Địa lí 10 tại trường THPT Lương Thế Vinh
- Xây dựng bộ tƣ liệu tranh biếm họa để giảng dạy chuyên đề Địa lí 10 theo mô hình lớp học đảo ngƣợc:
+ Xác định rõ những nội dung có thể sử dụng tranh biếm họa trong chuyên đề Địa lí 10 ( Bộ sách Cánh Diều)
+ Chủ động thu thập tƣ liệu tranh biếm họa để giảng dạy chuyên đề Địa lí 10 + Một số công cụ hỗ trợ dạy học theo mô hình lớp học đảo ngƣợc
+ Kết hợp một số phương pháp dạy học tích cực trong mô hình lớp học đảo ngƣợc
+ Quy trình dạy học theo mô hình lớp học đảo ngƣợc
- Bảng tổng hợp bộ tƣ liệu tranh biếm họa để giảng dạy chuyên đề Địa lí 10 (sách Cánh Diều) theo mô hình lớp học đảo ngƣợc
- Kế hoạch bài dạy minh họa: sử dụng TBH vào giảng dạy chuyên đề “Biến đổi khí hậu” theo mô hình LHĐN
- Bài giảng E-lerning minh họa sử dụng TBH vào giảng dạy chuyên đề “Biến đổi khí hậu” theo mô hình LHĐN.
PHẠM VI VÀ ĐỐI TƢỢNG ÁP DỤNG SÁNG KIẾN
Năm học 2020 – 2021, 2021 – 2022, chúng tôi đã sử dụng tranh biếm họa để giảng dạy vào khối lớp 10 (chương trình Địa lí THPT 2006) theo mô hình LHĐN và đã thu đƣợc những hiệu quả tích cực Năm học 2022 – 2023, sách giáo khoa Địa lí 10 theo chương trình GDPT 2018 được áp dụng ở khối lớp 10, trên cơ sở những kinh nghiệm đã có, chúng tôi đã xây dựng bộ tƣ liệu TBH để áp dụng sáng kiến này vào giảng dạy chuyên đề Địa lí 10 bộ sách Cánh Diều
- Học sinh các lớp 10 của trường
- Sáng kiến này cùng với bộ tƣ liệu tranh biếm họa và bài giảng E – learning có thể góp một phần vào nguồn học liệu số thêm phong phú, làm tài liệu tham khảo cho giáo viên và học sinh.
NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN TRONG VIỆC ÁP DỤNG SÁNG KIẾN VÀO DẠY HỌC ĐỊA LÍ LỚP 10 THPT -
Lợi ích của việc sử dụng TBH trong dạy học Địa lí
Bản thân TBH cũng là một loại kênh hình vì vậy nó có tính trực quan cao Bên cạnh đó, TBH lại có yếu tố cường điệu, sự hài hước, lạ lẫm thu hút học sinh mà tranh minh họa đơn thuần không có đƣợc Vì vậy, với TBH học sinh không đơn thuần chỉ quan sát tranh và liên hệ đến nội dung kiến thức mà còn phải lý giải, phân tích, giải thích, đánh giá những nội dung kiến thức đƣợc “cường điệu” trong tranh Mặt khác, TBH cũng không “nặng nề”, không khô khan nhƣ bản đồ, lƣợc đồ Mặc dù ít nhiều TBH mang tính chủ quan của tác giả nhƣng nó cũng có có ý nghĩa sƣ phạm to lớn, đặc biệt trong việc dạy học Địa lí trên cả ba mặt: kiến thức, thái độ và kỹ năng
Về mặt kiến thức, HS khi xem xét một bức TBH, muốn hiểu đƣợc những biểu hiện trong đó nói lên điều gì, buộc HS phải đặt nó trong tổng thể kiến thức Bên cạnh việc phải phân tích, HS phải thiết lập các mối liên hệ, các giả thuyết giữa hình ảnh và nội dung bài học để phán đoán và kết luận Nhƣ vậy, khi sử dụng TBH, HS đƣợc tái hiện một lần nữa những kiến thức liên quan đến hình ảnh và qua quá trình suy luận, kiến thức dễ khắc sâu hơn rất nhiều so với việc sử dụng các kênh hình thông thường
Ví dụ: Khi học chuyên đề Biến đổi khí hậu ( SGK chuyên đề Địa lí 10 –
Cánh diều), nếu HS đƣợc xem hình ảnh thì chắc chắn các em tự đặt ra những câu hỏi suy luận và tìm cách giải thích: Băng tan và ngập lụt là do nguyên nhân nào? Hậu quả của nó là gì?
Nguồn: https://dantri.com.vn/van-hoa/hoa-si-biem-hoa-viet-nam
Về mặt thái độ, TBH mang đến sự hấp dẫn và cuốn hút HS bởi chính đặc thù của TBH HS dễ bị lôi cuốn vào yếu tố hài hước, trào phúng hay sự thể hiện biếm họa độc đáo trong bức tranh HS từ chỗ tò mò, hiếu kỳ về những yếu tố đặc biệt trong tranh, đi đến muốn tìm hiểu nội dung ẩn giấu trong bức tranh đó là gì?
Có một số TBH, khi mới nhìn HS có thể bật cười vì sự trào phúng của nó, nhưng sau tiếng cười sảng khoái đó, các em sẽ phân tích, tổng hợp kiến thức, liên hệ để giải thích sự ẩn dụ trong đó Sau cùng HS sẽ bày tỏ đƣợc quan điểm và thái độ của mình đồng tình hay phản đối với vấn đề đƣợc đề cập
Về kỹ năng, việc sử dụng thích hợp các TBH đã thúc đẩy HS không thể làm việc đơn giản thông qua việc phân tích văn bản (kênh chữ) hay nghe giảng một cách đơn thuần mà nó đòi hỏi tổng hợp các kỹ năng: phân tích hình ảnh, đọc văn bản, liên hệ kênh chữ và kênh hình, phán đoán, liên hệ, suy xét và kết luận Các nhà giáo dục học gọi chung quá trình phân tích một bức TBH là “sự giải mã”, bởi bức TBH càng đơn giản thì nó lại là sự mã hóa nội dung bằng hình ảnh ở mức cao nhất Khi giải mã bức tranh, tức là HS đƣợc lần lƣợt thực hiện các kỹ năng nói trên, và khi lặp lại nhiều lần, các kỹ năng của HS sẽ trở nên thành thục Mặt khác, tƣ duy độc lập, sáng tạo của HS đƣợc phát triển trong việc đánh giá TBH Các hình ảnh mang yếu tố trực quan đánh thức tƣ duy, đƣa HS đi từ biết đến hiểu sâu sắc kiến thức
Với những thế mạnh của TBH thiết nghĩ việc đƣa TBH vào SGK và các chuyên đề Địa lí là thực sự cần thiết, nhƣ một luồng gió mới làm phong phú thêm các thiết bị dạy học và học liệu truyền thống.
Nguyên tắc lựa chọn tranh biếm họa
1.4.1 Cần đảm bảo phù hợp với nội dung bài học Lựa chọn TBH phù hợp với mục tiêu của từng hoạt động
Ví dụ: Khi dạy chuyên đề “ Biến đổi khí hậu” hoạt động : “Tìm hiểu biểu hiện của biến đổi khí hậu”
* Mục tiêu hoạt động: Trình bày đƣợc biểu hiện của biến đổi khí hậu
* Sản phẩm: Biểu hiện của biến đổi khí hậu
- Nhiệt độ Trái Đất tăng
- Gia tăng các hiện tƣợng thời tiết cực đoan
Bước 1: GV tổ chức trò chơi: Đặt tên cho tranh GV đƣa ra 4 bức tranh
Hình 1: Nguồn//http://songngoc.com/ Hình 2: Nguồn: https://psa.vn
Hình 3: Nguồn: https://dantri.com.vn Hình 4: Nguồn: https://images.app.goo.gl
Bước 2: Hs trao đổi, thảo luận, phân tích
- Hình 1: Trái Đất đang ốm và cần đƣợc chăm sóc vì nhiệt độ quá cao Hình ảnh cho thấy nhiệt độ Trái Đất tăng
- Hình 2: Trái Đất ở hai thái cực, nơi thì mƣa nhiều, nơi thì hạn hán, chứng tỏ lƣợng mƣa phân bố không đều và có sự khác biệt ở các địa điểm trên Trái Đất
- Hình 3: Hai tảng băng đang nói chuyện với nhau, tảng băng lớn hỏi tảng băng bé sao gầy thế? Hình ảnh muốn nói về hiện tượng băng tan ở hai cực, nước biển dâng
- Hình 4: Thời tiết quá nóng, một bắp ngô đã không còn hình dạng nhƣ ban đầu vì không đƣợc che chắn Cho thấy thời tiết nắng nóng cực đoan
Bước 3: Đặt tên cho tranh
Hình 1: Trái Đất ốm rồi
Hình 2: Kẻ ăn không hết, người lần chẳng ra
Hình 3: Giảm cân bất đắc dĩ
Hình 4: Hot: nhan sắc tàn phai
Bước 4: GV: kết luận, chuẩn xác kiến thức về những biểu hiện của biến đổi khí hậu
1.4.2 Cần đảm bảo tính vừa sức Vì TBH có yếu tố cường điệu, phóng đại và có cả sự khó hiểu nên khi lựa chọn cần chú ý đến đối tƣợng HS Sử dụng một bức TBH quá phức tạp có thể đƣa đến sự kích thích tìm hiểu, nhƣng có thể là một “gánh nặng” khi nó quá sức HS, từ đó dẫn đến việc không đạt mục tiêu dạy học dự kiến cho nội dung đó Đồng thời cũng không nên sử dụng quá ba TBH cho một nội dung kiến thức hoặc quá năm tranh trong một tiết học
Hình 5: Nguồn:https://dantri.com.vn/ Hình 6: Nguồn: https://vneconomy.vn
Ví dụ: Khi dạy về chuyên đề “ Biến đổi khí hậu”, phần tác động và hậu quả của biến đổi khí hậu, thay vì sử dụng hình 5 khiến HS khó hình dung, GV nên sử dụng hình 6, HS sẽ thấy ngay được tình trạng hạn hán, thiếu nước cho sinh hoạt và sản xuất
1.4.3 Cần đảm bảo được độ tin cậy Độ tin cậy của TBH thể hiện tính chân thực của nhân vật, sự kiện, hiện tƣợng đƣợc phản ánh trong tranh, giúp HS có đánh giá thấu đáo TBH thường phản ánh thực tế cuộc sống nên nếu nguồn tranh đƣợc sử dụng không đáng tin cậy sẽ tạo nên những thông tin sai lệch cho người học TBH thường mang tính chủ quan của người vẽ, nên khi sử dụng tranh vào bài học, GV cần tìm hiểu dụng ý của người vẽ, trích dẫn rõ nguồn trang, giúp HS tiếp cận tranh không chỉ trên lớp mà cả bên ngoài lớp học
1.4.4 Cần đảm bảo nguyên tắc hài hòa với các loại kênh hình khác nhƣ: tranh, ảnh, bản đồ, lƣợc đồ, sơ đồ, bảng thống kê TBH có thế mạnh lớn trong việc hấp dẫn, cuốn hút học sinh, có thể sử dụng trong tất cả các khâu của quá trình dạy học nhƣ khởi động, hình thành kiến thức mới hay củng cố Tuy nhiên nó chỉ có thể phản ánh một khía cạnh nhất định của bài học, do đó sử dụng TBH cần kết hợp với các kênh hình khác để đạt đƣợc hiệu quả tối đa
Ví dụ: khi dạy chuyên đề “ Biến đổi khí hậu” hoạt động: Tìm hiểu nguyên nhân của biến đổi khí hậu GV sử dụng hình 6 thì HS sẽ chỉ thấy đƣợc một số nguyên nhân gây biến đổi khí hậu đó là hoạt động công nghiệp, giao thông vận tải, còn các hoạt động phát thải khí nhà kính khác nhƣ năng lƣợng, nông nghiệp, công trình xây dựng và nhà ở, chất thải thì HS vẫn cần phải nghiên cứu dựa vào bảng kiến thức và biểu đồ trong SGK Nên trong trường hợp này, hình 7 được sử dụng nhƣ một ví dụ minh họa cho một trong những nguyên nhân của biến đổi khí hậu là phù hợp
Hình 7: Nguồn: https://cuoi.tuoitre.vn/
Mô hình lớp học đảo ngƣợc: 1 Khái niệm về mô hình lớp học đảo ngƣợc: ………………… 15 So sánh mô hình lớp học đảo ngƣợc với mô hình lớp học truyền thống …………………………… 16 3 Những ƣu điểm của mô hình lớp học đảo ngƣợc ……………… 18 4 Ứng dụng mô hình lớp học đảo ngƣợc trong giảng dạy Địa lí 10
2.1 Khái niệm về mô hình lớp học đảo ngược:
Lớp học lật ngược hay lớp học đảo ngược là một chiến lược hướng dẫn học tập, và là một kiểu học tập kết hợp đảo ngược môi trường học tập truyền thống bằng cách cung cấp nội dung hướng dẫn học tập, thường là trực tuyến, cho
HS học tập ngoài giờ học trên lớp Nó di chuyển các hoạt động, bao gồm cả những hoạt động có thể đƣợc coi là làm bài tập về nhà, vào trong lớp học (trong giờ học) Trong một LHĐN, HS xem các bài giảng trực tuyến, hợp tác trong các cuộc thảo luận trực tuyến hoặc thực hiện nghiên cứu tại nhà, còn tại lớp HS đào sâu và vận dụng kiến thức với sự hướng dẫn của GV "Lớp học đảo ngược là một mô hình truyền đạt trong đó các yếu tố bài giảng điển hình và bài tập về nhà được đảo ngược cho nhau Học sinh (ví dụ như ở nhà) xem các bài giảng video ngắn trước buổi học Trong khi đó, thời gian trên lớp dành cho các bài tập, đồ án, HS hỏi sâu hơn về nội dung bài giảng đã xem và tham gia vào các hoạt động thực hành, đồng thời GV kiểm tra khả năng áp dụng kiến thức của học sinh."
(Nguồn: https://vi.wikipedia.org/)
Mô hình LHĐN đƣợc xây dựng dựa trên cơ sở lý thuyết về học tập tích cực (active learning) Đây là cách tiếp cận trong dạy học theo hướng để người học chủ động khám phá, tiếp cận kiến thức thông qua quá trình tương tác Phương thức dạy học này tạo ra môi trường khuyến khích tính tự chủ trong học tập cho người học vì họ có thể tìm hiểu trước các kiến thức cần thiết chuẩn bị cho các bài học cũng như có thể tìm tòi trước các vấn đề liên quan thay vì chờ đợi sự truyền đạt kiến thức của GV trên lớp Thực hiện mô hình LHĐN sẽ góp phần rèn luyện tính tự học, phát triển nhận thức cho HS
Trong mô hình giảng dạy truyền thống trong lớp học, GV thường là trọng tâm chính của một bài học và là người phổ biến chính thông tin trong suốt thời gian học LHĐN chuyển sự hướng dẫn học tập sang mô hình lấy HS làm trung tâm, trong đó thời gian lên lớp đƣợc sử dụng để khám phá sâu hơn các chủ đề và tạo ra cơ hội học tập có ý nghĩa
2.2 So sánh mô hình lớp học đảo ngược với mô hình lớp học truyền thống
Trong quá trình giảng dạy môn Địa lí ở lớp học truyền thống, GV thường phải dành phần lớn thời gian trên lớp để giúp HS nắm đƣợc những kiến thức, kỹ năng mới, sau đó HS làm bài tập, thực hành tại lớp, giao bài tập về nhà để củng cố, hoàn thiện tri thức đã tiếp nhận đƣợc GV cũng chƣa có điều kiện để ứng dụng nhiều công nghệ thông tin trong giảng dạy, GV chủ yếu sử dụng atlat, bản đồ, tranh ảnh trong sách giáo khoa, ít có điều kiện để sưu tầm và sử dụng các nguồn tranh ảnh khác, nhất là tranh biếm họa phục vụ bài giảng Vì vậy, lớp học truyền thống chƣa thực sự tạo cho HS tính chủ động, tích cực và có nhiều hứng thú trong học tập
Hiện nay, cuộc cách mạng công nghệ lần thứ 4 đang diễn ra mạnh mẽ Vì vậy, việc dạy học kết hợp sử dụng phương tiện dạy học như tranh ảnh, bản đồ, kết hợp với công nghệ thông tin nhằm thúc đẩy quá trình học tập bên ngoài lớp học là một xu thế đã và đang ngày càng phổ biến trong giáo dục trên thế giới
Tranh ảnh, đặc biệt là TBH, với sức mạnh riêng của nó, nếu đƣợc sử dụng thường xuyên, kết hợp với mô hình LHĐN, sẽ tạo ra sự thay đổi mạnh mẽ cách dạy và học của HS và GV các trường THPT
Chúng ta đã biết đến thang cấp độ tƣ duy của Bloom (đã đƣợc cải tiến), đi từ thấp đến cao là các mức độ tƣ duy: ghi nhớ, thông hiểu, vận dụng, phân tích, đánh giá, sáng tạo Ở trong lớp học truyền thống do thời gian trên lớp bị giới hạn nên GV chỉ có thể hướng dẫn HS các nội dung ở ba mức độ đầu của nhận thức là ghi nhớ, thông hiểu và vận dụng Để đạt đến các mức độ cao hơn, HS phải nỗ lực tự học tập và nghiên cứu ở nhà Nhƣng đó là một trở ngại lớn với đa số các em Còn với mô hình LHĐN, ba mức độ đầu đƣợc HS thực hiện ở nhà nhờ những clip, tài liệu, bài giảng được đưa trước để đọc dưới sự hướng dẫn của GV Thời gian ở lớp, dành tối đa cho GV và HS cùng làm việc để giúp cho HS đạt đƣợc tƣ duy bậc cao (ba bậc sau của thang đo nhận thức là phân tích, đánh giá, sáng tạo), đây là một yêu cầu khó khăn nhƣng họ có thể đạt đƣợc khi có GV và HS cùng chia sẻ, hỗ trợ
Hình minh họa lớp học đảo ngƣợc và lớp học truyền thống gắn với thang cấp độ tƣ duy của Bloom
( Nguồn: tapchikhoahoc.hvu.edu.vn)
Trên cơ sở nghiên cứu vai trò của GV, nhiệm vụ của HS trong mô hình lớp học truyền thống và mô hình LHĐN, chúng ta có bảng so sánh sau:
So sánh tổ chức lớp học truyền thống và lớp học đảo ngược
Lớp học truyền thống Lớp học đảo ngƣợc
- GV là trung tâm của quá trình dạy và học
- GV chia sẻ bài giảng, tài liệu, sách, video, trang web, cho HS tìm hiểu trước tại nhà
- Thời gian trên lớp, GV hướng dẫn, tổ chức thảo luận, và chốt các nội dung bài học
-Trên lớp, HS ghi chép
- HS làm theo hướng dẫn
- Về nhà, HS làm bài tập
- Ở nhà, HS xem video bài giảng, tài liệu, sách trước khi đến lớp
-Trên lớp, HS cùng nhau thảo luận, hiểu sâu hơn các khái niệm, vận dụng kiến thức, tìm tòi, sáng tạo với sự hướng dẫn của GV
- HS làm trung tâm của quá trình dạy và học
2.3 Những ưu điểm của mô hình lớp học đảo ngược
Mô hình LHĐN là phương thức tổ chức dạy học đã và đang chứng tỏ sự phù hợp, có nhiều ưu thế trong tổ chức dạy học ở các nhà trường hiện nay Trong quá trình áp dụng mô hình LHĐN trong giảng dạy môn Địa lí tại trường
THPT Lương Thế Vinh, chúng tôi nhận thấy một số ưu điểm chính của phương thức tổ chức dạy học này là:
- Giúp HS sử dụng hiệu quả thời gian học tập tại nhà và trên lớp học
- Góp phần hình thành và phát triển những năng lực chung cho HS nhƣ: năng lực tự chủ, tự học, giao tiếp và hợp tác, sáng tạo thông qua các nội dung và hoạt động cụ thể Đồng thời rèn luyện các kỹ năng cho HS (kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin, thuyết trình, đọc, nghiên cứu tài liệu, )
- GV có thể khai thác đƣợc thế mạnh của mô hình LHĐN để tổ chức hoạt động dạy học hiệu quả
- Tăng thời gian giao tiếp, làm việc với HS (không chỉ bó hẹp trong không gian lớp học), từ đó GV có thể nắm được lực học của từng HS để có các phương pháp dạy học hiệu quả với từng em, đồng thời qua giao tiếp cũng góp phần gắn bó thêm tình cảm Thầy – trò
- Hệ thống bài giảng, học liệu dùng trong quá trình giảng dạy ở lớp học đảo ngƣợc đƣợc sử dụng, khai thác khoa học, hiệu quả hơn, có thể sử dụng làm học liệu dùng chung, học liệu mở cho các môn học
- Việc kiểm tra đánh giá không còn bó hẹp trong việc kiểm tra viết, mà thay đổi dần việc kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển năng lực, GV có thể đánh giá HS qua nhiều hoạt động mở, nhƣ đánh giá khả năng làm việc nhóm, thuyết trình, các hoạt động trải nghiệm sáng tạo khác
2.4 Ứng dụng mô hình lớp học đảo ngược trong giảng dạy Địa lí 10 tại trường THPT Lương Thế Vinh
Khái niệm Giáo dục trực tuyến là một khái niệm không mới Mô hình Online learning hay E-Learning lần đầu xuất hiện tại Mỹ vào năm 1999 Mô hình này đã mở ra một môi trường và phương thức học tập mới giúp người học có thể tương tác thông qua Internet với sự hỗ trợ của các phương tiện truyền thông điện tử Trong xu thế chung đó, Việt Nam là một trong những nước châu Á bắt kịp và có những phát triển mạnh trong lĩnh vực này với hàng loạt các trang web học trực tuyến nhƣ Violet.vn, Hocmai vn, Topica, Onluyen.vn,
Hướng phổ biến, áp dụng
- Sáng kiến đã tạo ra một bộ tƣ liệu TBH hữu ích, dễ dàng sử dụng Những bức tranh biếm họa đã đƣợc đƣa vào nội dung từng bài học trong chuyên đề Địa lí 10 ( sách Cánh Diều) nên thuận lợi cho GV và HS tham khảo, tra cứu; góp phần thiết thực đổi mới hình thức dạy học, nâng cao chất lƣợng giáo dục
- Đối với HS: bộ tƣ liệu TBH đƣợc tập hợp chủ yếu theo các bảng biểu rõ ràng nên mọi đối tƣợng HS, không phân biệt trình độ nhận thức, không phân biệt loại hình trường lớp đều dễ dàng sử dụng, tra cứu
- Đối với GV: là nguồn tư liệu tham khảo hữu ích, có thể sử dụng thường xuyên vào giảng dạy nhằm nâng cao chất lƣợng đại trà; hoàn thiện nhân cách cho HS
- Mọi đối tƣợng khác quan tâm tới bộ tƣ liệu TBH đều dễ dàng sử dụng, tra cứu
Sáng kiến này tôi đã áp dụng trong 2 năm học là năm 2020 – 2021, 2021 – 2022 đối với chương trình sách giáo khoa Địa lí 2006 và đã thấy được những hiệu quả tích cực Vì vậy năm học 2022 – 2023, tôi tiếp tục áp dụng sáng kiến này với đối tƣợng HS lớp 10 với sách chuyên đề Địa lí 10 ( sách Cánh Diều) nhằm góp phần phát triển một số phẩm chất và năng lực của HS, đáp ứng yêu cầu của chương trình GDPT 2018
Trong những năm sắp tới, tôi sẽ tiếp tục thực hiện phổ biến và áp dụng trong toàn bộ chương trình Địa lí lớp 10, 11, 12
4 Giải pháp và những kiến nghị:
- Xây dựng kế hoạch dạy học và kế hoạch tổ chức các hoạt động giáo dục của bộ môn Địa lí ( theo cấu trúc hướng dẫn tại các phụ lục 1 và 2 của công văn 5512/BGDĐT – GDTRH) Từng GV bộ môn phải chủ động đóng góp xây dựng kế hoạch giáo dục của tổ chuyên môn, từ đó xây dựng kế hoạch giáo dục của GV Trong kế hoạch cần đánh giá đầy đủ đặc điểm tình hình HS, GV, thiết bị dạy học, phòng học bộ môn để có thể tổ chức cho GV và HS có thể dạy – học theo mô hình LHĐN một cách thuận tiện nhất
- Thay đổi hình thức và nội dung các buổi sinh hoạt chuyên môn tại trường thực sự hiệu quả và thiết thực Trong các buổi sinh hoạt chuyên môn, có thể lồng ghép việc thực hiện kế hoạch tự học và hỗ trợ đồng nghiệp nâng cao năng lực ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học, giáo dục và quản lí HS, giúp cho GV nâng cao đƣợc trình độ chuyên môn của bản thân, hình thành các mối quan hệ đồng nghiệp tốt đẹp, xây dựng môi trường học tập và tự học suốt đời Từ đó góp phần không nhỏ vào việc nâng cao chất lƣợng giáo dục của nhà trường
- GV cần chủ động, tích cực trong việc giảng dạy và đổi mới phương pháp dạy học, đƣa các hình thức dạy học mới vào lớp học Tích cực ứng dụng
CNTT vào các giảng dạy và kiểm tra đánh giá, dần chuyển đổi việc kiểm tra đánh giá trên giấy sang môi trường số hóa Sử dụng nguồn học liệu số phong phú vào các giờ dạy theo mô hình lớp học đảo ngƣợc, đáp ứng yêu cầu của chương trình GDPT mới
- Tiếp tục tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ GV về đổi mới, nâng cao chất lƣợng dạy học, thay đổi hình thức dạy học từ “lớp học truyền thống” sang “lớp học đảo ngược”, để dần dần tiến lên xây dựng “trường học hiện đại” trong bối cảnh cuộc cách mạng 4.0 đang diễn ra nhƣ vũ bão cả trong nước và trên thế giới
- GV hướng dẫn HS chủ động trong việc học và thi, phối hợp với các đoàn thể trong nhà trường xây dựng phong cách, động cơ, thái độ học tập đúng đắn cho HS Giúp HS chủ động trong việc tìm tòi kiến thức mới dưới vai trò
Người dẫn đường của GV và chinh phục các kiến thức độc lập sáng tạo, để HS nhận thức đúng đắn về vấn đề học tập theo phương pháp mới, từ đó HS có thêm niềm đam mê, hứng thú với môn Địa lí
- Về phía phụ huynh học sinh: Kiểm tra đôn đốc việc chuẩn bị bài, học bài của học sinh ở nhà Tạo điều kiện và khuyến khích học sinh tích cực, tự giác trong học tập
- Đối với tổ, nhóm chuyên môn:
Tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn hàng tuần để các GV trong tổ, nhóm chuyên môn cùng nhau trao đổi, thảo luận chuyên môn Đối với mỗi bài học có sử dụng tranh biếm họa vào giảng dạy theo mô hình LHĐN, GV nghiên cứu mục tiêu, nội dung bài học, phương pháp dạy học, tìm nguồn tranh phù hợp đồng thời chuẩn bị đầy đủ phòng học và các phương tiện hỗ trợ việc dạy và học của GV và HS
Thay đổi các hình thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh theo hướng tiếp cận năng lực, khuyến khích HS tự đánh giá và đánh giá chéo nhau, chú trọng đến năng lực cá nhân, khuyến khích học sinh thể hiện cá tính và năng lực bản thân GV cũng cần tăng cường sử dụng công nghệ thông tin trong kiểm tra, đánh giá, sử dụng các phần mềm hỗ trợ và các mô hình thống kê vào xử lý phân tích, lý giải kết quả đánh giá
- Đối với nhà trường: tiếp tục đẩy mạnh việc đổi mới trong phương pháp giảng dạy, tạo điều kiện về cơ sở vật chất cho giáo viên trong việc dạy học, kiểm tra đánh giá theo tinh thần đổi mới
Kết luận
Mục tiêu dạy học của môn Địa lí là giúp HS có hiểu biết về đặc điểm, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, thực trạng, tình hình kinh tế - xã hội trong nước và thế giới Bên cạnh đó còn rèn luyện cho HS những kỹ năng cơ bản để các em có thể tự tin trong học tập và cuộc sống Vì vậy việc đƣa một số TBH vào giảng dạy chuyên đề Địa lí 10 theo mô hình LHĐN không chỉ giúp các em có cách nhìn mới mẻ về bộ môn Địa lí, mà còn hướng cho các em sử dụng công nghệ thông tin và mạng internet một cách thiết thực và hiệu quả Từ đó giúp các em có thể chủ động, tự giác trong quá trình học tập, tìm tòi tri thức mới, không thụ động trông chờ vào GV Đồng thời các em sẽ thấy học Địa lí không hề nhàm chán nếu biết tự học, tự khám phá, cả một chân trời tri thức rất rộng mở đang chờ các em ở phía trước
Xin chân thành cảm ơn!
1 Nguyễn Minh Tuệ, (2010), Dạy và học theo chuẩn kiến thức kĩ năng môn Địa lí 10, NXB Đại học sƣ phạm
2 Lê Thông, (2019), Hướng dẫn dạy học môn Địa lí THPT theo chương trình
GDPT mới, NXB Đại học sƣ phạm
3 Bernd Meier – Nguyễn Văn Cường, (2018), Lí luận dạy học hiện đại - cơ sở đổi mới mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học, NXB Đại học sƣ phạm
4 Các website: https://dantri.com.vn/van-hoa; https://cuoi.tuoitre.vn; https://www.moitruongvadothi.vn; https://diamoitruong.com https://hoangthinga.wordpress.com/ https://giaoducthoidai.vn/ http://vanviet.info/biem-hoa/moi-tuan-mot-trang- https://blog.id.com.au/2017/population/ https://www.alamy.com/stock-photo http://www.china.org.cn/opinion/2010 https://addisfortune.net/columns/inclusive- https://www.dreamstime.com/illustration/megacities.html https://www.chinadaily.com.cn/opinion/ http://www.chinadaily.com.cn/a/ https://cartoonmovement.com/ https://cuoi.tuoitre.vn/ https://timesofindia.indiatimes.com/ https://cartoonmovement.com/cartoon/ https://www.istockphoto.com https://twitter.com/royaards/status/ https://vvc.vn/tranh-biem-hoa-ve-moi-truong https://dothi.net/chinh-sach-quy-hoach/chon-loc-biem-hoa-giao-thong https://cartoonmovement.com/cartoon/urban-ecosystem https://nld.com.vn/van-hoa-van-nghe/ https://suckhoedoisong.vn/mat-toi-giao-thong-qua- https://vnexpress.net/giao-thong-viet-nam-qua-tranh-biem-hoa- http://vanviet.info/biem-hoa/moi-tuan-mot-trang-biem-hoa- https://www.ohay.tv/list/21-hinh-anh-biem-hoa-canh-bao-con-nguoi- https://www.moitruongvadothi.vn/tranh-biem-hoa
1 Đường link và file đính kèm của bài giảng E – learning minh họa: sử dụng
TBH vào giảng dạy chuyên đề “Biến đổi khí hậu” nội dung: “khái niệm, biểu hiện và nguyên nhân của biến đổi khí hậu” theo mô hình LHĐN
- Đường link bài giảng E – learning ( đã chuyển cho HS): https://cjjjupjmvofsprfpx9gt9a.on.drv.tw/C%C4%90%201%20Bi%E1%BA%B Fn%20%C4%91%E1%BB%95i%20kh%C3%AD%20h%E1%BA%ADu_%20el earning/C%C4%90%201_BIEN%20DOI%20KHI%20HAU_elearning%20(Publ ished)/index.html
(Link bài giảng trong bản word đính kèm)
2 Một số hình ảnh của HS trong giờ học Địa lí theo mô hình LHĐN Ứng dụng công nghệ thông tin trong các giờ học “đảo ngược”
Các “cô giáo trẻ ” của lớp 10a6 tự tin khi đứng thuyết trình trước lớp!