Tôi chọn nghiên cứu " Giáo dục môi trường qua môn Địa lí lớp 11 "nhằm nâng cao nhận thức của học sinh về vai trò của môi trường.. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Thực tế, trong năm học trước với v
Trang 1SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
“TÍCH HỢP GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG TRONG TIẾT HỌC ĐỊA
LÝ THPT”
Trang 2PHẦN THỨ NHẤT: MỞ ĐẦU
I.TÍNH CẤP THIẾT:
Để bảo vệ môi trường, cái nôi sinh thành của mình, con người đã thực hiện nhiều
biện pháp khác nhau, trong đó có biện pháp giáo dục môi trường (GDMT ) GDMT đựơc
xem là một biện pháp có hiệu quả cao, bởi vì nó giúp con người có được biện pháp đúng
đắn trong việc khai thác, sử dụng hợp lí các nguồn tài nguyên và có ý thức trong việc
thực hiện các nhiệm vụ bảo vệ môi trường
Hiện nay, việc giáo dục môi trường qua giảng dạy trong các trường học, nhất là
các trường THPT có ý nghĩa và chiếm vị trí đặc biệt Nhà trường là nơi đào tạo thế hệ trẻ,
những người chủ tương lai đất nước, những người sẽ thực hiện khai thác, sử dụng, cải tạo
và bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên (TNTN) và môi trường đất nước mình Nếu
họ có nhận thức đầy đủ các vấn đề về môi trường, thì khi ra đời, dù bất cứ lĩnh vực nào,
hoạt động nào họ đều có thể thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường một cách có hiệu quả
Xuất phát từ tình hình thực tế của địa phương và những vấn đề xã hội đã được đề cập ở
trên Tôi chọn nghiên cứu " Giáo dục môi trường qua môn Địa lí lớp 11 "nhằm nâng
cao nhận thức của học sinh về vai trò của môi trường
II TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Thực tế, trong năm học trước với việc lồng ghép các kiến thức về môi trường vào
chương trình giảng dạy Địa lí 10, học sinh đã có được cái nhìn đúng đắn và toàn diện về
vấn đề môi trường Song vần cần tiếp tục khắc sâu nội dung kiến thức này cho học sinh ở
lớp 11 và 12 để nâng cao nhận thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành thái độ và hành vi
đúng đắn cho học sinh trong việc BVMT
Việc lống ghép kiến thức về môi trường vào giảng dạy địa lý 11 chỉ thể hiện lồng ghép và một số mục nhỏ mang tính chất liên hệ chứ không thể hiện rộng trong toàn bài và
cũng chỉ lồng ghép vào một số bài dạy không dàn trải toàn bộ chương trình địa lí lớp
11,nên hiệu quả giáo dục môi trường chưa cao và chưa được thường xuyên
III MỤC ĐÍCH , NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
1 Mục đích:
Trang 3Giáo dục HS nhận thức được vai trò của môi trường thông qua giảng dạy Địa lí lớp
11 một cách có hiệu quả
Hướng dẫn học sinh nhận biết :Loại bài kiến thức môi trường được lồng ghép thành
một mục, một ý trong bài học và được tích hợp vào kiến thức địa lí
Góp phần giáo dục HS nâng cao nhận thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành thái độ
và hành vi đúng đắn trong việc BVMT
2 Nhiệm vụ
Phân loại và xác định các loại bài tích hợp và lồng ghép kiến thức về môi trường qua môn địa lí 11
Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường thông qua giảng dạy và học tập môn Địa lí 11 Liên hệ thực tế việc bảo vệ môi trường ở địa phương tỉnh nhà
IV ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CƯU:
1 Đối tượng:
Giáo viên tham gia giảng dạy Địa lí THPT Học sinh THPT trong việc bồi dưỡng kiến thức về môi trường thông qua môn Địa lí
2 Phạm vi nghiên cưu:
Áp dụng cho việc giáo dục môi trường qua môn Địa lí Phạm vi tích hợp giáo dục môi trương trong giảng dạy Địa lí
V.PHƯƠNG PHÁP VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU:
1 Thời gian nghiên cứu:
Năm học 2011-212
2 Phương pháp nghiên cứu:
a Phương pháp thu thập tài liệu: Tìm hiểu, thu thập tài liệu từ sách giáo khoa,
sách giáo viên, giáo dục môi trường trong môn Địa lí
Trang 4b Phương pháp thực nghiệm: Soạn giáo án và giảng dạy thực nghiệm ở một số
lớp , đồng thời kiểm tra học sinh lấy kết quả làm căn cứ Trong quá trình giảng dạy phải
tổ chức được lồng ghép giáo dục môi trường
c Phương pháp tổng hợp: Tổng hợp mọi vấn đề có liên quan để hình thành lý luận
của đề tài , vân dụng đề tài và rút ra những kết luận cần thiết
Trang 5PHẦN THỨ HAI: NỘI DUNG
I- Thuận lợi, khó khăn:
1- Thuận lợi:
- Học sinh có đầy đủ sách giáo khoa Địa lí 11, tập bản đồ địa lí 11
- Ban giám hiệu nhà trường tạo mọi điều kiện về trang thiết bị vật chất và học sinh
giúp đỡ tôi thu thập tranh ảnh để tôi có điều kiện thực hiện đề tài
- Sở giáo dục đào tạo Lào Cai tổ chức cho giáo viên giảng dạy đi tập huấn tích hợp
giáo dục bảo vệ môi trường trong môn Địa lí ,ngoài ra có hướng dẫn cụ thể tích hợp bảo
vệ môi trường trong từng mục ,trong từng bài dạy
- Phòng đồ dùng dạy học có nhiều tranh ảnh, bản đồ
- Học sinh thông minh, hăng hái, nhiệt tình, ham học hỏi nhất là các tiết dạy có giáo
dục bảo vệ môi trường
2- Khó khăn:
- Một số em còn chưa chú ý học môn Địa lý nên học bài không kĩ, trong lớp không
chú ý nghe giảng, không phát biểu xây dựng bài
- Sách tham khảo về gi¸o dôc bảo vệ môi trường không nhiều
- Trình độ học sinh không đều
II- Cơ sở lý luận:
1- Khái niệm về môi trường:
Từ khi xuất hiện trên trái đất, con người có nhiều mối quan hệ chặt chẽ với tự nhiên
Trước hết, con người là một bộ phận của tự nhiên Con người lấy bề mặt Trái Đất làm nơi
sinh sống, tồn tại và phát triển - Đó chính là môi trường Có nhiều khái niệm về môi
trường, nhưng tôi thấy khái niệm của Allaby năm 1994 là đầy đủ hơn cả: “Môi trường
bao gồm tất cả những yếu tố tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến đời sống sinh vật tồn
tại trong đó Môi trường của con người bao gồm cả lĩnh vực tự nhiên, xã hội, công nghệ,
kinh tế, chính trị, đạo đức, văn hoá, lịch sử và mĩ học”
Tóm lại: Môi trường là thể thống nhất bao gồm các thành phần tự nhiên như: Địa
hình, địa chất, khí hậu, thuỷ văn, động thực vật và các công trình văn hoá kĩ thuật do con
người tạo ra Vì môi trường là một thể thống nhất nên bất cứ một thay đổi nào của một
Trang 6thành phần trong môi trường đều làm thay đổi các thành phần khác và có thể làm thay đổi
sâu sắc toàn bộ môi trường
2- Khái niệm về bảo vệ môi trường và tình hình môi trường của nước ta và thế
giới:
a- Khái niệm:
- Bảo vệ môi trường (theo nghĩa chung) đó là bảo vệ môi trường tự nhiên và môi
trường nhân tạo của con người (Gerasimov)
- Bảo vệ môi trường (theo nghĩa cụ thể) đó là việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên
nhiên và chống ô nhiễm môi trường
b- Tình hình môi trường nước ta và thế giới:
- Hiện nay, các thành phần của môi trường ngày càng xấu đi và đe doạ trực tiếp đến
sự sống của con người trong hiện tại và ảnh hưởng đến tương lai
- Nguồn tài nguyên khoáng sản ngày càng cạn kiệt:
Dầu mỏ: Năm 1990 trữ lượng toàn cầu là 137.249 tỉ tấn, nay đã khai thác hơn 60%
trữ lượng
Khí đốt đã khai thác hơn 60% trữ lượng
Ở Việt Nam, nguồn khoáng sản phong phú có 5.000 mỏ quặng Tuy nhiên, khai thác
khoáng sản bừa bãi, chưa hợp lí, còn để sót lại trong lòng đất rất nhiều như mỏ thiếc mất
21- 27%, mỏ sắt mất 16- 34%
- Nguồn tài nguyên đất bị giảm chất lượng: Trên thế giới có khoảng 1,43 tỉ ha đất
trồng lương thực và thực phẩm Bình quân đầu người thấp chưa được 0,3ha đất trồng
Trong khi đó, đất chuyên dùng tăng (xây dựng thêm các thành phố, các nhà máy, xí
nghiệp, nhà ở…)
ở Việt Nam, diện tích đất nông nghiệp ngày càng giảm, bình quân dưới 0,1ha/ người
Chất lượng đất bị giảm, bị xói mòn, bạc mầu, rửa trôi
- Nguồn nước bị ô nhiễm trầm trọng do việc sử dụng nước không hợp lý, không có
các biện pháp bảo vệ và do các chất thải của công nghiệp, nông nghiệp (thuốc trừ sâu,
thuốc diệt cỏ, phân hoá học), nước thải sinh hoạt, sự cố tàu chở dầu… Nguồn nước bị cạn
kiệt cả về số lượng và chất lượng
Hiện nay, trên thế giới có khoảng 50 quốc gia thiếu nước dùng, nhất là Đức, Hoa
Kì…
Ở Việt Nam, hiện nay nguồn nước đang bị ô nhiễm
Trang 7Ví dụ: ở khu gang thép Thái nguyên, nước sông cầu bị nhiễm bẩn khá nặng ở khu
công nghiệp hoá chất Việt Trì, nước sông Hồng bị nhiễm bẩn nặng do nước thải của hoá
chất ở Hà Nội nước sông Tô Lịch bị nhiễm bẩn nặng do nước thải sinh hoạt, công nghiệp
của nội thành Hà Nội
- Không khí và tài nguyên rừng bị ô nhiễm…
Tóm lại: Nguồn tài nguyên thiên nhiên bị cạn kiện và ô nhiễm môi trường sống lan
rộng trên khắp thế giới Do đó, bảo vệ tài nguyên môi trường đã trở thành nhiệm vụ cấp
bách của cả loài người
3- Giáo dục bảo vệ môi trường qua môn Địa lí trong nhà trường phổ thông
trung học cơ sở:
a- Mục đích, nội dung của việc giáo dục môi trường :
- Về nhận thức: Cung cấp cho học sinh những kiến thức nhất định về môi trường để
học sinh thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường Giúp học sinh:
+ Có nhận thức đúng đắn về mối quan hệ khăng khít và tác động qua lại giữa các
thành phần tự nhiên cũng như tự nhiên với xã hội
+ Có những hiểu biết tương đối đầy đủ về tự nhiên và môi trường sống của nước
mình
+ Hiểu và nắm vững những chủ trương và luật lệ cơ bản của Nhà nước về vấn đề môi
trừng
- Về thái độ, hành vi: Từng bước xây dựng cho học sinh tình cảm yêu mến thiên
nhiên, có ý thức giữ gìn, bảo vệ những danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, văn hoá của
dân tộc Phải làm cho việc BVMT trở thành phong cách sống của các em và phải có thái
độ chống các hoạt động phá hoại môi trường
- Về kĩ năng và biện pháp: Trang bị cho học sinh những kiến thức và khái niệm về
môi trường, các thành phần của môi trường tự nhiên
Những kiến thức về sử dụng tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý, tránh khai thác,
sử dụng bừa bãi làm cạn kiệt nguồn tài nguyên
Những biện pháp bảo vệ, phục hồi và làm giàu thêm môi trường tự nhiên, hạn chế
tác động phá hoại sự cân bằng sinh thái trong môi trường, chống những hành động làm ô
nhiễm môi trường
b- Nhiệm vụ của việc giáo dục môi trường trong nhà trường phổ thông.
Trang 8Mỗi giáo viên cần phải trang bị cho mình đầy đủ các kiến thức, kĩ năng và chuẩn bị
tốt các phương pháp giảng dạy kết hợp nội dung giáo dục môi trường Đồng thời giáo
viên phải luôn là tấm gương về hoạt động môi trường để học sinh noi theo, biết tổ chức,
lãnh đạo học sinh thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ môi trường Vậy nhiệm vụ chính của
giáo dục môi trường trong nhà trường phổ thông là: Giáo dục cho học sinh có ý thức, thái
độ, hành vi đúng đắn đối với môi trường và bảo vệ môi trường
c- Nguyên tắc giáo dục môi trường qua môn Địa lí trong nhà trường:
- Phải tôn trọng tính đặc thù của môn học Nội dung giáo dục môi trường phải lồng
ghép vào bộ môn một cách tự nhiên, không gượng ép
- Những kiến thức môi trường đưa vào nội dung bài giảng Địa lí phải tránh trùng lặp,
vừa sức học sinh
- Kiến thức môi trường đưa vào môn học phải phản ánh được thực tiễn về môi
trường của địa phương cũng như đất nước
Tóm lại: Đó là 3 nguyên tắc cần thiết và quan trọng khi đưa nội dung giáo dục môi
trường qua môn Địa lí lớp 11 trong nhà trường
III: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Giáo dục môi trường qua môn Địa lí lớp 11 có hai hình thức:
- Hình thức ngoài lớp và ngoại khoá
- Hình thức trên lớp
1- Hình thức ngoài lớp và ngoại khoá:
Đây không phải là hình thức phổ biến trong giảng dạy bộ môn Địa lí lớp 11
Thông qua bài thực hành, giáo viên có thể gaio bài tập cho các em về nhà sưu tầm
tranh ảnh, bài viết về những phong cảnh đẹp của đất nước, các tranh ảnh ô nhiễm môi
trường nước, không khí …
Tổ chức cho các em chơi trò chơi bảo vệ môi trường như: thi những bài hát, bài thơ
nói về môi trường, hái hoa dân chủ trả lời các câu hỏi về môi trường
Tổ chức cho các em tham gia lao động: vệ sinh trường lớp, chăm sóc, tưới cây ở bồn
hoa Qua đó giáo dục cho các em có ý thức, hành vi xây dựng môi trường xanh – sạch
-đẹp và có trách nhiệm bảo vệ môi trường
Các em học sinh còn tham gia làm sạch đường làng, ngõ xóm vào sáng chủ nhật
hàng tuần, vào ngày quốc tế lao động, trong dịp Tết Nguyên Đán để góp phần xây dựng
làng văn hoá
Trang 9Qua các buổi lao động này giúp các em có ý thức không vứt rác bừa bãi ra đường, ra
trường học, ra ao hồ, biết bảo vệ môi trường
2- Hình thức giáo dục môi trường ở trên lớp:
Đây là hình thức chủ yếu trong quá trình giảng dạy và học tập.Để giáo dục môi
trường qua môn Địa lí lớp 11giáo viên cần xác định được:
a Loại bài kiến thức môi trường được lồng ghép thành một mục, một ý trong bài
học.
Trong chương trình Địa lí 11 không có loại bài kiến thức địa lí đồng thời là kiến
thức môi trường như trong chương trình địa lí 10 Và loại bài kiến thức môi trường được
lồng ghép thành một mục, một ý trong bài học cũng không nhiều Nên việc giáo viên tìm
ra và xác định đúng để có ý thức hướng dẫn, truyền đạt kiến thức môi trường, đảm bảo
hiệu quả cao cũng không đơn giản Điều cần thiết là giáo viên phải có ý thức làm rõ kiến
thức về môi trường, chuẩn bị những nội dung, phương pháp để thể hiện ý đồ, tư tưởng
của tác giả sách giáo khoa, để học sinh hiểu và có hành vi, thái độ về những vấn đề môi
trường mà những mục đích đó, những ý đó cần thể hiện
Tính chất đặc biệt thể hiện ở chỗ, ngay trong mục tiêu bài giảng cũng nên đề cập
đến kiến thức này Trong quá trình dạy học phải đạt được mục tiêu đề ra Muốn vậy phải
chuẩn bị tài liệu, phương tiện, phương pháp hợp lí và có hiệu quả để thực hiện mục tiêu
đề ra Ta có thể lám sáng tỏ vấn đề trên bằng việc soạn giáo án bài 3 : Một số vấn đề
mang tính toàn cầu (Địa lí 11 - Cơ bản)
Bài 3 : Một số vấn đề mang tính toàn cầu
I MỤC TIÊU:
Sau bài học , HS cần:
1.Kiến thức
- Biết và giải thích được bùng nổ dân số ở các nước đang phát triển và già hoá dân
số ở các nước phát triển và hậu quả của nó
- Trình bày được một số biểu hiện ,nguyên nhân của ô nhiễm môi trường;phân tích được ô nhiễm và hậu quả của ô nhiêm từng loại môi trường; nhận thức được sự cần thiết
phải bảo vệ môi trường
- Hiểu được sự cần thiết phải bảo vệ hoà bình và chống nguy cơ chiến tranh
2 Kĩ năng
Phân tích được các bảng số liệu ,liên hệ thực tế,so sánh và nhận xét
Trang 103 Thái độ.
Nhận thức được: Tác động của con người tới biến đổi khí hậu,ô nhiễm nước,suy giảm
đa dạng sinh vật
II THIẾT BỊ DẠY HỌC :
- Một số hình ảnh về ô nhiễm môi trường trên thế giới và Việt Nam
- Bảng số liệu phóng to theo SGK
III TIẾN TRÌNH BÀI GIẢNG:
1 Ổn định lớp :
2 Kiểm tra bài cũ :
3 Bài mới :
Mở bài : GV kể một số sự kiện mới nhất về sự già hoá dân số và sự bìng nổ dân
số của mộ vài quốc gia trên thế giới, một số sự cố về môi trường ( chất thải, sự cố tràn
dầu trên biển, ), một số tin mới nhất về chiến tranh khu vực và khủng bố trên thế giới
Sau đó khái quát lại thành các vấn đề GV hỏi : Đó là những vấn đề riêng của một quốc
gia hay của toàn nhân loại ?
Hoạt động của GV và HS Nội dung cần đạt
HĐ 1 : Tìm hiểu vấn đề dân
số(Nhóm)
Chia lớp làm 6 nhóm, đánh số TT từ
1-> 6
Bước 1 :
- Các nhóm 1, 2, 3 thực hiện nhiệm vụ :
Tham khảo thông tin ở mục 1 và phân
tích bảng 3.1, trả lời câu hỏi kèm theo
bảng
- Các nhóm 3, 4, 5 thực hiện nhiệm vụ:
Tham khảo thông tin ở mục 2 và phân
tích bảng 3.2, trả lời câu hỏi kèm theo
bảng
I Dân số :
1 Bùng nổ dân số
- Dân số trên thế giới tăng nhanh, 6477 triệu người năm 2005
- Sự bùng nổ dân số trên thế giới hiện nay chủ yếu ở những nước đang phát triển
- Tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên qua các thời kì giảm nhanh ở nhóm nước phát triển và giảm chậm ở nhóm nước đang phát triển
- Chênh lệch về tỉ lệ gia tăng tự nhiên giữa 2 nhóm nước ngày càng lớn
- Dân số nhóm đang phát triển vẫn tiếp
Trang 11Bước 2 : Đại diện các nhóm lên trình
bày Các nhóm còn lại theo dõi, trao
đổi, chất vấn, bổ sung
Bước 3 : GV kết luận về đặc điểm của
bùng nổ dân số, già hoá dân số và hệ
quả của chúng, kết hợp liên hệ với
chính sách dân số ở Việt Nam
Chuyển ý : Sự bùng nố dân số, sự phát
triển kinh tế vượt bậc lại gây ra vấn đề
toàn cầu thứ hai Chúng ta cùng tìm
hiểu phần II
HĐ 2 : Tìm hiểu môi trường(Cá
nhân/ Cả lớp)
- Yêu cầu HS ghi vào mảnh giấy tên các
vấn đề môi trường toàn cầu mà các em
biết Sau đó một số em đọc cho cả lớp
nghe, đồng thời GV ghi lên bảng.Khi
thấy danh mục vừa phù hợp với các vấn
đề môi trường trong SGK, Gv dừng lại
và yêu cầu HS sắp xếp các vấn đề theo
nhóm
HĐ 3 : Cặp
Bước 1 : Từng cặp HS nghiên cứu
tục tăng nhanh, nhóm nước phát triển đang có xu hướng chững lại
- Dân số tăng nhanh gây sức ép nặng nề đối với tài nguyên môi trường, phát triển kinh tế và chất lượng cuộc sống
2 Già hoá dân số
Dân số thế giới ngày càng già đi
a Biểu hiện :
- Tỉ lệ trên 15 tuổi ngày càng thấp, tỉ lệ trên 65 tuổi ngày càng cao, tuổi thọ ngày càng tăng
- Nhóm nước phát triển có cơ cấu dân
số già
- Nhóm nước đang phát triển có cơ cấu dân số trẻ
b Hậu quả :
- Thiếu lao động
- Chi phí phúc lợi cho người già lớn
II Môi trường :
( Thông tin phản hồi phiếu học tập )
1 Biến đổi khí hậu toàn cầu và suy giảm tầng ô dôn.