1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tráng SKKN sử dụng hiệu quả một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực trong giảng dạy môn địa lý thpt 2020

76 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 4,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tíchcực và qua việc dự giờ các đồng nghiệp trong trường, trong huyện tôi thấy cònnhiều giáo viên chưa hiểu rõ ưu nh

Trang 1

DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

Trang 2

DANH MỤC BẢNG, HÌNH ẢNH

Trang 6

Các nhóm đang tích cực làm việc

Học sinh trình bày sản phẩm của nhóm trước lớp

Trang 7

Bảng đối chiếu kết quả giảng dạy với cùng 1 lớp học trước và sau khi sử

dụng PP, KT dạy học tích cực với 2 bài học khác nhau

12A1 43 5 (11,6%) 28 (65,1%) 10(23,3%) 18 (41,9%) 25 (58,1%)

12A4 40 3 (7,5%) 22 (55,0%) 15(37,5%) 12 (30,0%) 26 (65,0%) 2 (5,0%) 11A5 41 2 (4,9%) 23 (56,1%) 16(39,0%) 14 (34,1%) 22 (53,7%) 5(15,2%) 11A7 42 33 (78,6%) 19(21,4%) 10 (23,8%) 27 (64,3%) 5(11,9%) 10A3 46 3 (6,5%) 31 (67,4%) 12(26,1%) 14 (30,4%) 30 (65,2%) 2 (4,4%) 10A8 45 24 (53,3%) 21(46,7%) 8 (17,8%) 29 (64,4%) 8(17,8%)

Bảng đối chiếu kết quả giảng dạy với 2 lớp học có trình độ nhận thức tương đương nhau, được dạy cùng 1 bài học nhưng với 2 PP dạy học khác nhau là

truyền thống và tích cực

Lớp Sĩ số GiỏiDạy học truyền thốngKhá Trb Giỏi Dạy học tích cựcKhá Trb12A3 44 7 (15,9%) 19 (43,2%) 18(40,9%) 18(40,9%) 23 (52,3%) 3(6,8%) 12A4 40 6 (15,0%) 20 (50,0%) 14(35,0%) 16(40,0%) 19 (47,5%) 5(12,5%) 11A6 44 4 (9,0%) 21 (47,7%) 19(43,3%) 11(25,0%) 28 (63,6%) 5(11,4%) 11A7 42 3 (7,1%) 17 (40,5%) 22(52,4%) 11(26,2%) 25 (59,5%) 6(14,3%) 10A9 45 1 (2,2%) 18 (40,0%) 26(57,8%) 9(20,0%) 26 (57,8%) 10(22,2%

) 10A8 45 1 (2,2%) 20 (44,4%) 24(53,4%) 11(24,4%) 25 (55,6%) 9(20,0%)

MỤC LỤC

Học sinh trình bày sản phẩm của nhóm trước lớp

Trang 8

1 Đặt vấn đề:

3

2 Nội dung sáng kiến:

4 2.2 Các giải pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề 17

5 2.3 Một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực 19

7 4 Đánh giá phạm vi ảnh hưởng của sáng kiến 43

Tên sáng kiến: Sử dụng hiệu quả một số phương pháp, kĩ thuật dạy học

tích cực trong giảng dạy môn Địa lí Trung học phổ thông.

Tác giả: Phan Đức Tráng

Chức vụ: Tổ trưởng chuyên môn

Đơn vị: Trường THPT Lạng Giang số 3

1 Đặt vấn đề:

Trang 9

1.1 Lý do chọn sáng kiến kinh nghiệm

Hiện nay thế giới đang diễn ra xu hướng toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng,các nước trên thế giới ngày càng phụ thuộc chặt chẽ vào nhau để cùng phát triển,điều đó đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với người lao động của các nước Yêucầu hiện nay đối với người lao động là trình độ, năng lực hành động, khả năngsáng tạo, sự linh hoạt, tính trách nhiệm, năng lực cộng tác làm việc, khả nănggiải quyết các vấn đề phức hợp trong những tình huống thay đổi, khả năng họctập suốt đời và các kỹ năng mềm khác Điều đó đã đặt áp lực lớn đối với nềngiáo dục nhân loại là đào tạo ra những thế hệ người lao động đáp ứng được yêucầu ngày càng cao của xã hộ hiện đại

Nền giáo dục nước ta cũng không nằm ngoài quy luật của sự phát triển đó.Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trong Nghịquyết Trung ương 4 khoá VII (1/1993), Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII(12/1996), đuợc thể chế hoá trong Luật Giáo dục (12 - 1990), được cụ thể hoátrong các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đặc biệt là Chỉ thị số 15 (4/1999)

Điều 24.2 của Luật Giáo dục đã ghi: "Phương pháp giáo dục phổ thôngphải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợpvới đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rènluyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lạiniềm vui, hứng thú học tập cho học sinh"

Gần đây nhất việc đổi mới nền giáo dục, được thể hiện ở Nghị quyết NQ/TW năm 2013 đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêucầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thời kì mới Giáo dục đã chuyển từ việcngười thầy là trung tâm sang người học là trung tâm, chuyển từ chương trìnhgiáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, từ chỗ quantâm tới việc học sinh học được gì đến chỗ quan tâm tới việc học sinh học đượccái gì qua việc học… Để thực hiện thắng lợi Nghị quyết này thì cần phải làmnhiều việc như thay đổi sách giáo khoa, chuẩn bị các đồ dùng dạy học…và 1trong những việc quan trọng là sử dụng những phương pháp dạy học tích cựctrong các giờ dạy để thay đổi phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ một

Trang 10

29-chiều” sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hìnhthành năng lực và phẩm chất, đồng thời phải chuyển cách đánh giá kết quả giáodục từ nặng về kiểm tra trí nhớ sang kiểm tra, đánh giá năng lực vận dụng kiếnthức giải quyết vấn đề, coi trọng kiểm tra đánh giá kết quả học tập với kiểm tra,đánh giá trong quá trình học tập để có tác động kịp thời nhằm nâng cao chấtlượng của hoạt động dạy học và giáo dục

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước rất quyết tâm để tiến hành đổimới căn bản, toàn diện nền giáo dục Toàn thể giáo viên cả nước đã thực hiệnnhiều công việc trong đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá và đã đạtđược những thành công bước đầu Đây là những tiền đề vô cùng quan trọng đểchúng ta áp dụng rộng rãi và phổ biến các phương pháp, kĩ thuật dạy học tíchcực vào các giờ dạy nhằm tạo được hứng thú và hiệu quả trong giảng dạy

Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tíchcực và qua việc dự giờ các đồng nghiệp trong trường, trong huyện tôi thấy cònnhiều giáo viên chưa hiểu rõ ưu nhược điểm và cách sử dụng của từng phươngpháp, kĩ thuật một cách rõ ràng, nhuần nhuyễn và hiệu quả Việc sử dụng cònchưa được linh hoạt, lúng túng trong quá trình tổ chức các hoạt động học tập củahọc sinh Chưa biết lựa chọn phương pháp, kĩ thuật dạy học phù hợp với mỗiđơn vị kiến thức nên chưa đem lại hiệu quả cao nhất đối với đơn vị kiến thức đónếu sử dụng phương pháp và kĩ thuật khác

Với những lý do trên, tôi đã lựa chọn viết sáng kiến kinh nghiệm “Sử dụng

hiệu quả một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực trong giảng dạy

môn Địa lí THPT” Sáng kiến này nói về ưu nhược điểm và cách thức sử dụng

hiệu quả một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực được tôi sử dụng trongnăm học 2018-2019 và 2019-2020 và mong muốn sáng kiến sẽ trở thành tài liệutham khảo của giáo viên Địa lí nói riêng và giáo viên các môn học khác nóichung, nhằm góp phần nhỏ bé của mình để thực hiện thắng lợi Nghị quyết 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo

1.2 Tính mới, tính sáng tạo của sáng kiến

Trang 11

Hiện nay, việc áp dụng các kỹ thuật dạy học tích cực vào giảng dạy cònhạn chế Nguyên nhân là do một số giáo viên vẫn còn có quan điểm cho rằngnhững kỹ thuật dạy học tích cực rất khó áp dụng vào giảng dạy trong thời gian

45 phút trên lớp nên cũng rất ít sử dụng các kỹ thuật này Ngoài ra còn do cơ sởvật chất phục vụ cho việc dạy học còn hạn chế Đời sống một bộ phận cán bộgiáo viên còn nhiều khó khăn nên chưa đầu tư thỏa đáng vào việc đổi mớiphương pháp kỹ thuật dạy học

Việc giáo viên sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực mặc dùkhông còn là điều xa lạ nhưng việc sử dụng mới dừng lại ở việc có sử dụng đểcho thấy là có thực hiện việc đổi mới phương pháp giảng dạy

Chủ đề của sáng kiến này cũng đã có nhiều GV khác thực hiện nhưng tôithấy vẫn chưa đầy đủ, cụ thể, chưa có hướng dẫn rõ ràng, chưa có những ví dụ

cụ thể cho người xem dễ dàng học tập và thực hiện Sáng kiến kinh nghiệm “Sử

dụng hiệu quả một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực trong giảng dạy môn Địa lí THPT” của tôi đưa ra cụ thể những ưu nhược điểm, cách thức

sử dụng và những lưu ý khi sử dụng của từng phương pháp, kĩ thuật dạy học tíchcực; có những ví dụ cụ thể cho mỗi đơn vị kiến thức và cho toàn bộ bài giảng để

sử dụng sao cho hiệu quả

Sáng kiến còn có những bài soạn minh họa, trong đó có ghi rõ cách thức

sử dụng phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực gồm có cả thời lượng dạy, cáchthức tổ chức và áp dụng, cách xử lý những tình huống sư phạm có thể xảy ra vàcách giải quyết Có kết quả đối chiếu giữa những khối lớp sử dụng phươngpháp, kĩ thuật dạy học tích cực và sử dụng phương pháp dạy học truyền thống đểđưa ra những kết luận chính xác nhất Có những khái quát lại cho mỗi phươngpháp, kĩ thuật dạy học này phù hợp với đơn vị kiến thức nào (Khởi động, tìmkiến thức mới, củng cố hay mở rộng), loại bài học nào (bài mới, bài thực hànhhay bài ôn tập) Có những lưu ý trong việc sử dụng các phương pháp, kĩ thuậtdạy học tích cực cho giáo viên Địa lí nói riêng và các giáo viên khác nói chungthực hiện giảng dạy một cách hiệu quả

2 Nội dung sáng kiến:

Trang 12

2.1 Thực trạng tình hình vấn đề

Mặc dù ngành giáo dục đang tiến hành đổi mới nhưng phần đông giáoviên vẫn ngại thay đổi, vẫn chưa tìm hiểu sâu về các phương pháp, kĩ thuật dạyhọc tích cực để sử dụng, nên việc sử dụng vẫn chưa đem lại hiệu quả cao, mặc

dù các giáo viên đều biết dạy học tích cực tốt hơn dạy học truyền thống

Bảng so sánh giữa dạy học truyền thống và dạy học tích cực

DẠY HỌC TRUYỀN THỐNG

Giáo viên là trung tâm

DẠY HỌC TÍCH CỰC Định hướng học sinh/kiến tạo Phương pháp

- Các phương pháp truyền thụ và thông

báo chiếm ưu thế, trong đó bao gồm

định hướng mục đích học tập và kiểm

tra

- Các phương pháp nặng về định

hướng hiệu quả truyền đạt

Giờ học là sự phối hợp hành động củangười dạy và người học và trong việclập kế hoạch, thực hiện, đánh giá giờdạy

Người học

Người học có vai trò bị động, do bên

ngoài điểu khiển và kiểm tra

Người học có vai trò tích cực và tựđiều khiển

Người dạy

Người dạy trình bày và giải thích nội

dung mới cũng như chỉ đạo và kiểm tra

Quá trình dạy

Quá trình dạy là quá trình chuyển tải

tri thức từ người dạy sang người học,

cuối quá trình, người học lĩnh hội nội

dung học tập theo phương thức đã

được lập kế hoạch và xác định trước

Quá trình dạy có thể lặp lại

Việc dạy được tiến hành với ý nghĩagợi ý, hỗ trợ và tư vấn cho người học.Tính lặp lại các phương pháp dạy học

đã sử dụng bị hạn chế

Đánh giá

Kết quả học tập được đo và dự báo với

nhiều phương pháp khác nhau Dạy

học và đánh giá là hai thành phần khác

Quá trình học là đối tượng đánh giánhiều hơn là kết quả học tập Học sinhcần được tham gia vào quá trình đánh

Trang 13

nhau của quá trình dạy học

Chú trọng khả năng tái hiện chính xác

tri thức

giáChú trọng việc ứng dụng tri thức trongcác tình huống hành động

Hiện nay việc sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực chưađược giáo viên sử dụng rộng rãi ở hầu hết các tiết học mà cơ bản mới dừng lại ởcác giờ thao giảng hay dự thi giáo viên giỏi, tất cả giáo viên đều nỗ lực trongviệc đổi mới phương pháp dạy học, kết quả là có người thành công và có ngườichưa thành công như mong muốn Trên thực tế, khảo sát và điều tra xã hội họccho thấy tỷ lệ giáo viên thực hiện được yêu cầu này ở các trường chưa phải lànhiều Vậy thực chất, họ đang gặp những khó khăn gì?

+ Khó khăn trước tiên là tâm lý ngại thay đổi các phương pháp truyềnthống đã có từ trước đối với đa số giáo viên

+ Tâm lý bày vẽ ra thì mất thời gian, công sức trong khi dạy như cũ vẫnkhông sao đối với 1 số lượng lớn giáo viên

+ Chỉ có 45 phút mà làm hết phương pháp này đến phương pháp kia thìsao đủ thời gian cộng thêm lại phải đầu tư tài liệu, phương tiện như tranh ảnh, sơ

đồ, bút dạ, giấy A0…gây tốn kém

+ Cơ sở vật chất trường lớp chưa cho phép, sĩ số lớp đông sẽ khó tổ chức

và quản lý khi học sinh thực hiện các hoạt động nhóm

+ Phải soạn lại giáo án hoặc bài giảng sẽ mất thời gian hoặc có giáo viênmuốn dạy phương pháp tích cực nhưng chưa biết soạn và dạy như thế nào nênxảy ra tình trạng cứ cho thảo luận nhóm lấy 1 phần nào đấy trong bài hoặc dùngmáy chiếu trình chiếu bài giảng lên cho học sinh…trong giờ có người dự đểđược ghi nhận là có đổi mới phương pháp dạy học

+ Giáo viên nói học sinh không thích phương pháp dạy học tích cực củagiáo viên vì phải làm việc nhiều nên học sinh thích giáo viên đọc chép hơn vìkhông phải làm gì trong giờ học

Một thực tế nữa xảy ra đối với cấp quản lý là mặc dù đã thực hiện và cóquy định đổi mới phương pháp dạy học nhưng việc kiểm tra, giám sát thườngxuyên thì không diễn ra một cách liên tục nên làm cho giáo viên cũng không

Trang 14

thực hiện việc đổi mới dạy học liên tục trong các giờ dạy của mình Chỉ khi cónhững cuộc phát động thi đua hội giảng chào mừng những ngày lễ lớn (20/11,22/12, 8/3, 26/3, 30/4) hoặc hội thi giáo viên giỏi thì giáo viên mới đầu tư vàobài soạn vào tư liệu, phương tiện dạy học để thực hiện các phương pháp, kĩ thuậtdạy học tích cực

Để có cái nhìn chính xác về thực trạng sử dụng các phương pháp, kĩ thuậtdạy học tích cực của giáo viên, học sinh nhà trường, tôi đã tiến hành điều trabằng 02 mẫu phiếu sau:

Mẫu phiếu 01: Điều tra việc sử dụng phương pháp, kĩ thuật dạy học tích

cực đối với giáo viên

Họ và tên giáo viên:………Năm sinh………Môn dạy…… ……… Trường:………Thầy/cô đã sử dụng và mức độ sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích

cực nào trong các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực dưới đây, đánh dấu X

vào những ô tương ứng

STT Tên phương pháp (PP), kĩ thuật (KT) dạy học tích cực

Mức độ

Thườngxuyên

Thỉnhthoảng

Chưabao giờ

1 PP gợi mở, vấn đáp

2 PP nêu và giải quyết vấn đề

3 PP hướng dẫn học khai thác lược đồ, bản

Trang 15

số 3, tôi thu được kết quả như sau:

STT Tên phương pháp (PP), kĩ thuật (KT) dạy học tích cực

Mức độ

Thường xuyên

Thỉnh thoảng

Chưa bao giờ

57 (77,0%)

7 PP dạy học bằng bản đồ tư duy 3

(4,1%)

71 (95,9%)

(89,2%)

Trang 16

12 KT hỏi chuyên gia 2 (2,7%) 72

(20,3%)

59 (79,7%)

(4,1%)

71 (95,9%)

(31,1%)

51 (68,9%)Thầy/cô còn sử dụng PP, KT dạy học tích cực nào khác: Kết quả là 74/74 thầy

cô không sử dụng phương pháp, kĩ thuật khác

Thầy/cô có thấy sự cần thiết phải sử dụng phương pháp, kĩ thuật dạy học tíchcực vào bài học không? Vì sao?

Mẫu phiếu 02: Điều tra về sự hứng thú, hiệu quả bài học của học sinh khi tham gia những giờ học có sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực

Họ và tên học sinh: ……… Lớp:……… Môn học:……… Trường:………

Các em hãy đánh dấu X vào những ô tương ứng thể hiện mức độ hứng thú của

mình đối với những giờ học sau:

Rất hứng Hứng Không

Trang 17

thú thú hứng thú

1 Bài giảng điện tử

2 PP gợi mở, vấn đáp

3 PP nêu và giải quyết vấn đề

4 PP hướng dẫn học khai thác lược đồ, bản đồ,

Rất hứng thú Hứng thú Không hứng thú

1 Bài giảng điện tử 215 (71,7%) 56 (18,7%) 29 (9,6%)

2 PP gợi mở, vấn đáp 156 (52%) 110 (36,7%) 34 (11,3%)

3 PP nêu và giải quyết vấn đề 101 (33,7%) 120 (40%) 79 (26,3%)

4 PP hướng dẫn học khai thác lược

Trang 18

Các em đánh giá như thế nào về mức độ hiểu bài của mình sau các giờ dạy có sửdụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực ở trên (Rất hiểu bài, hiểu bài,còn mơ hồ), kết quả là: + Rất hiểu bài: 142/300, tỷ lệ 47,3%

+ Hiểu bài: 135/300, tỷ lệ 45,0%

+ Còn mơ hồ: 23/300, tỷ lệ 7,7%

=> Điều đó cho thấy đa số các em đều rất hứng thú và hứng thú với các bài học

có sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực, thích được hoạt động,được làm việc và đa số các em đều rất hiểu bài do trong quá trình học tập, các

em được làm việc, được tìm ra kiến thức, được trao đổi thảo luận với nhau nênghi nhớ được nhanh hơn, nhiều hơn

2.2 Các giải pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề

Để lựa chọn được chủ đề của sáng kiến kinh nghiệm này, trước tiên tôiphải xác định những nội dung, công việc chính của Ngành trong giai đoạn hiệnnay để sáng kiến có tính mới và tính sáng tạo Việc này là quan trọng vì khi lựachọn được chủ đề của sáng kiến hợp lý sẽ mang tính thời sự và được nhiều thầy

cô giáo cùng quan tâm đóng góp ý kiến cũng như chia sẻ giúp sáng kiến có sứcsống lâu dài hơn

Khi lựa chọn được nội dung của sáng kiến tôi đi tiến hành điều tra khảosát từ giáo viên bằng mẫu phiếu 01 và học sinh bằng mẫu phiếu 02 để thấy đượcnhững khó khăn, vướng mắc, mâu thuẫn, bất hợp lý, bất cập trong quá trình sửdụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực Việc này rất quan trọng vì từkết quả thu được và từ thực tiễn giảng dạy ở trường THPT Lạng Giang số 3 sẽđưa ra những thay đổi, những cải tiến trong việc sử dụng các phương pháp, kĩthuật dạy học tích cực sao cho hiệu quả hơn vào thực tế nhà trường Điều đócũng sẽ giúp cho sáng kiến kinh nghiệm của tôi có ý nghĩa, có tác dụng và cógiá trị sử dụng cao hơn trong thực tiễn, sẽ là tài liệu tham khảo có giá trị đối vớicác thầy cô giáo muốn làm mới mình, muốn đổi mới phương pháp giảng dạytheo hướng tích cực Việc điều tra khảo sát này có ý nghĩa rất quan trọng, nógiúp tôi có cái nhìn tổng quan nhất và thực trạng sử dụng các phương pháp, kĩthuật dạy học tích cực trong nhà trường, nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng của

Trang 19

người dạy và người học, tìm ra những vướng mắc của cả người dạy và ngườihọc từ đó đưa ra những cách giải quyết hoặc những cải tiến giúp người dạy vàngười học xích gần lại nhau hơn.

Khi đã biết được thực trạng sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy họctích cực trong đại đa số giáo viên trong nhà trường, tôi đã tiến hành hội thảo vớigiáo viên tổ Sử - Địa – GDCD, tổ Ngữ Văn để có cái nhìn chính xác hơn, ngheđược những tâm sự, chia sẻ thật lòng hơn từ những đồng nghiệp của mình đốivới việc sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực Tôi đánh giá việcnày rất quan trọng vì khi trao đổi trực tiếp cùng các đồng nghiệp tôi nhận thấyđược những khó khăn họ đang mắc phải, những trở ngại họ đang gặp và cũngđược nhận được những kinh nghiệm rút ra từ chính những giáo viên này sau khi

sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực trong mỗi giờ dạy để nhữnglần sử dụng sau hiệu quả hơn Từ đó tôi đã tổng hợp được những trở ngại, khókhăn chính mà giáo viên mắc phải trong khi sử dụng các phương pháp, kĩ thuậtdạy học tích cực và những giải pháp cơ bản để khắc phục những khó khăn màgiáo viên đang mắc phải

Sau khi hội thảo với giáo viên của 2 tổ Sử - Địa – GDCD và Ngữ văn, tôi

đã tiến hành cùng soạn bài và dạy thử nghiệm với cô giáo Phan Thị Thanh Hà(môn Địa lí), cô Ngô Quỳnh Trang (môn Địa lí) và cô Nguyễn Thị Vân (mônĐịa lí) Sau giờ dạy, chúng tôi lại cùng nhau đánh giá, rút kinh nghiệm xem giáo

án soạn đã hợp lý chưa, phương pháp, kĩ thuật dạy học đã phù hợp chưa, trongtiết học thì học sinh được làm gì, thu được gì và cần thay đổi gì để tiết dạy sausoạn bài, sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực phù hợp và hiệuquả hơn Quá trình dạy thử nghiệm được diễn ra nhiều lần, cứ sau mỗi lần dạylại cùng đánh giá rút kinh nghiệm, đưa ra phương thức soạn bài và sử dụngphương pháp, kĩ thuật dạy học hiệu quả nhất đối với bài học đó thì thôi Việcdạy thử nghiệm này là cực kì quan trọng vì nó giúp cho tôi trực tiếp biết đượcnhững khó khăn của giáo viên khi sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy họctích cực và trực tiếp tìm ra những giải pháp khắc phục những khó khăn đó chosát với thực tiễn giảng dạy và hiệu quả hơn Việc làm này có ý nghĩa quyết định

Trang 20

đến sự thành công hay thất bại của sáng kiến vì nó là quá trình thử nghiệm thực

tế để đưa ra những kết luận mang tính khái quát cao, làm cơ sở vững chắc để ápdụng sáng kiến vào thực tiễn và phổ biến được rộng rãi

Ngoài ra trong suốt quá trình làm sáng kiến kinh nghiệm này tôi còn sửdụng một số phương pháp nghiên cứu khác như: phương pháp phân tích tổnghợp lý thuyết, phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm, phương pháp toánhọc, phương pháp hỏi chuyên gia… Những phương pháp này kết hợp với nhữngphương pháp tôi đã trình bày ở trên đã hỗ trợ cho nhau và cho tôi làm bản sángkiến kinh nghiệm một cách hoàn thiện nhất

2.3 Một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực

2.3.1 Các phương pháp dạy học tích cực

Phương pháp dạy học tích cực, hay phương pháp giáo dục chủ động,phương pháp sư phạm hiện đại … là những cách gọi để chỉ những phương pháp,cách thức đề cao chủ thể nhận thức, chủ yếu phát huy tính tự giác, nhiệt tình chủđộng của người học, làm cho giờ học trở nên sinh động, hấp dẫn, người họcđược tham gia làm việc, được sáng tạo … giải quyết các vấn đề phù hợp với khảnăng hiểu biết của mình, đề xuất ý kiến, tự nguyện trình bày hay tham gia tranhluận trước tập thể và người dạy Thực chất phương pháp dạy học tích cực làhướng tới khả năng chủ động, sáng tạo của người học chứ không phải hướng tớiviệc phát huy tính tích cực của người dạy Người thầy đóng vai trò là ngườihướng dẫn, rèn luyện cho học sinh phương pháp tự học, độc lập suy nghĩ thôngqua việc thảo luận, thí nghiệm, thực hành, thâm nhập thực tế theo mục tiêu, nộidung của bài học, người thầy là người tổng hợp hoạt động, ý kiến của người học

để xây dựng nội dung bài học

a Dạy học nêu và giải quyết vấn đề

* Đặc trưng của phương pháp

Là sự lĩnh hội tri thức diễn ra thông qua việc tổ chức cho học sinh hoạtđộng, đặt ra và giải quyết các vấn đề Hạt nhân của phương pháp này là một(hoặc một chuỗi) bài toán nhận thức, chứa đựng mâu thuẫn giữa cái cho và cái

Trang 21

tìm Khi mâu thuẫn của bài toán nêu vấn đề được học sinh tự giác chấp nhậnnhư một nhu cầu bên trong, bức thiết phải giải quyết bằng được thì lúc đó họcsinh được đặt trong tình huống có vấn đề Sau đó giáo viên hướng dẫn học sinh(hướng dẫn và điều khiển) học sinh tích cực, tự lực giải quyết vấn đề, đi đếnnhững kết luận cần thiết Phương pháp này có hiệu quả hay không trước hết phụthuộc chủ yếu vào việc liệu giáo viên có cấu tạo thành công các bài toán nêu vấn

đề và chuyển học sinh vào tình huống có vấn đề hay không

Sau đây là một số cách thức cơ bản thiết kế mâu thuẫn của bài toán nêu vấn đề:

+ Tình huống nghịch lí: Nghịch lí là cái gì vô lí, trái với lẽ thông thường được mọi người công nhận, một điều gì không bình thường so với cách hiểu cũ của học

sinh và đôi khi ban đầu thoạt nghe, tưởng chừng như vô lí làm học sinh ngạc nhiên

Ví dụ: “Vì sao Đồng bằng sông Cửu Long có nhiều ưu thế hơn Đồng bằng sông

Hồng về sản xuất lúa nhưng năng suất lúa lại đứng sau Đồng bằng sông Hồng”

+ Tình huống khó khăn, bế tắc: Giữa cái đã biết và cái chưa biết cần phảikhám phá, nhận thức, giữa vốn kiến thức khoa học đã có và vốn kiến thức thực

tiễn đa dạng Ví dụ: "Khoảng cách về phát triển kinh tế giữa Việt Nam và các

nước đứng đầu về kinh tế ở ASEAN ngày càng lớn Liệu có thể rút ngắn và và tiến tới xóa bỏ khoảng cách này không?".

+ Tình huống lựa chọn Ví dụ: "Phát triển kinh tế với tốc độ tăng trưởng cao,

thu được nhiều lợi nhuận nhưng môi trường bị ô nhiễm và phát triển kinh tế với tốc độ tăng trưởng chậm, nhưng liên tục và ổn định, môi trường không ô nhiễm và phá hoại Trong hai định hướng trên, lựa chọn nào là thích hợp hơn cả, vì sao?".

+ Tình huống tại sao hay nhân quả Đó là trường hợp đi tìm nguyên nhân

của một kết quả, bản chất của một hiện tượng, nguồn gốc – quy luật của một

hiện tượng, động cơ sâu xa của một hành vi Ví dụ: “Vì sao Đồng bằng sông

Hồng có năng suất lúa lớn nhất nước ta?”

* Tiến trình sử dụng phương pháp

Việc tổ chức cho học sinh nhận thức và giải quyết vấn đề bao gồm các bước

cơ bản sau đây:

Bước 1 Đặt vấn đề và chuyển học sinh vào tình huống có vấn đề

Trang 22

Bước 2 Giải quyết vấn đề

+ Đề xuất các giả thuyết cho vấn đề đặt ra

+ Thu thập và xử lí thông tin theo hướng các giả thuyết đã đề xuất

đề lớn đến nêu và giải quyết các vấn đề nhỏ hơn trong đó

b Phương pháp hướng dẫn học sinh khai thác bản đồ, lược đồ, Atlat Địa líBản đồ là một phương tiện dạy học đặc trưng của môn Địa lí Bản đồ vớingôn ngữ đặc biệt của mình được coi như một hệ thống truyền đạt thông tinbằng cách mã hoá những thông tin cần truyền tải trong các hệ thống kí hiệu, màusắc, chữ viết, con số Với dạng mã hóa thông tin này, bản đồ có rất nhiều khảnăng trong dạy học và được coi là cuốn sách giáo khoa thứ 2, được dùng để dạy

và để học, để trả lời hầu hết các câu hỏi Địa lí

Kĩ năng khai thác bản đồ nói chung và Atlat Địa lí Việt Nam nói riêng là

kĩ năng cơ bản của môn Địa lí Nếu không nắm vững kĩ năng này thì khó có thểhiểu và giải thích được các sự vật, hiện tượng địa lí, đồng thời cũng rất khó tựmình tìm tòi các kiến thức Địa lí khác Do vậy, việc rèn luyện kĩ năng làm việcvới bản đồ, lược đồ, Atlat là không thể thiếu khi học môn Địa lí

- Khi làm việc với bản đồ, Atlat Địa lí, cần phải:

+ Hiểu hệ thống kí hiệu bản đồ

+ Nhận biết, chỉ và đọc được tên các đối tượng địa lí trên bản đồ

+ Xác định phương hướng, khoảng cách, vĩ độ, kinh độ, kích thước, hìnhthái và vị trí các đối tượng địa lí trên lãnh thổ

+ Mô tả đặc điểm đối tượng trên bản đồ

+ Xác định các mối liên hệ không gian trên bản đồ

+ Xác định các mối quan hệ tương hỗ và nhân - quả thể hiện trên bản đồ

Trang 23

+ Mô tả tổng hợp một khu vực, một bộ phận lãnh thổ (vị trí địa lí, địa hình,khí hậu, thuỷ văn, đất đai, thực vật, động vật, dân cư, kinh tế)

Phương pháp này được dùng cho rất nhiều bài học từ dạy bài mới cho đến

ôn tập nếu có sử dụng đến bản đồ, Atlat và chỉ trừ những bài không có bản đồ,Atlat để sử dụng thì sẽ không dùng được

Ví dụ: Dạy bài 16 - Địa lí 12 Đặt câu hỏi là dựa vào Atlat Địa lí Việt Namtrang 15, em hãy nhận xát sự phân bố dân cư nước ta và giải thích?

c Phương pháp dạy học dự án

* Khái niệm dự án và dạy học theo dự án

Dạy học theo dự án (DHDA) là một hình thức dạy học, trong đó ngườihọc thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lí thuyết vàthực hành, phải tạo ra các sản phẩm để thể giới thiệu, trình bày Nhiệm vụ nàyđược người học thực hiện với tính tự lực cao trong toàn bộ quá trình học tập, từviệc xác định mục đích, lập kế hoạch đến việc thực hiện dự án, kiểm tra, điềuchỉnh, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện Làm việc nhóm là hình thức cơbản của dạy học dự án

* Công việc của giáo viên (GV) và học sinh (HS) trong tiến trình thực

hiện một dự án

Giai đoạn 1: Chuẩn bị

(Trước khi thực hiện dự án Thời gian chuẩn bị có thể từ 1 - 2 tuần)

- Xác định đối tượng tiến hành dự án

+ Số lượng, năng lực HS

+ Điều kiện CSVC tại trường

+ Nội dung bài học sẽ tiến hành DA

+ Biết được DHDA là gì?

+ Em sẽ làm những công việc gì khi học tập theo Phương pháp này?

- Tự xác định nhu cầu, khả năng và sở thích của bản thân.

+ Em có những năng lực nền tảng nào? + Em có những kỹ năng làm việc nhóm nào? + Em muốn là ai trong xã hội?

+ Em muốn được đánh giá kết quả học

Trang 24

+ Từ khả năng và nhu cầu HS

- Xây dựng bộ câu hỏi định hướng của dự án

+ Câu hỏi khái quát

+ Câu hỏi bài học

+ Câu hỏi nội dung

- Xây dựng lịch trình đánh giá

+ Đánh giá thành phần, xuyên suốt dự án

+ Đánh giá tổng thể cuối dự án

- Xây dựng kế hoạch triển khai dự án (thời

gian, công việc của GV, HS, phối hợp với ai,

những công cụ hỗ trợ, )

+ Trước khi bắt đầu dự án

+ Trong quá trình thực hiện dự án

+ Lấy thông tin liên lạc của HS

+ Trao đổi ý kiến và chia sẻ với HS qua

Zalo, Mail,…chung của nhóm, lớp.

Giai đoạn 2: Tiến hành

(Bắt đầu dự án Tiết 1: Giới thiệu dự án)

- Tìm hiểu nhu cầu học sinh (bảng khảo sát)

+ HS đã có những kiến thức gì liên quan

đến vấn đề bài học sẽ làm dự án?

+ HS có những kỹ năng gì về làm việc

nhóm và CNTT?

+ HS có ý tưởng gì cho dự án?

- Triển khai dự án đến học sinh

+ Giới thiệu dự án: kịch, bài trình chiếu,

một đoạn phim… nhằm kích thích các em qua

một tình huống có vấn đề.

+ Phân vai và giao nhiệm vụ cho HS (HS

xung phong hoặc chỉ định dựa trên năng lực

- Thực hiện bảng khảo sát nhu cầu

- Đưa ra ý tưởng cho dự án

- Tham gia vào các vai diễn nếu GV yêu cầu

để giới thiệu dự án

- Nhận nhiệm vụ và hình thành ý tưởng cho sản phẩm.

Trang 25

mỗi nhóm)

- Ra các bài tập nhỏ nhằm hỗ trợ cho việc

thực hiện dự án.

- Giải quyết từ từ bộ câu hỏi định hướng

(nên đi từ câu hỏi nội dung - bài học - khái

quát)

- Hỗ trợ học sinh làm sản phẩm (tiêu chí

đánh giá, bảng kiểm mục cho từng SP…)

- Theo dõi và đánh giá tiến độ làm việc của

học sinh.

- Thu các bài tập nhỏ, các bài tập cá nhân

- Thu thập sản phẩm của HS để lên kế hoạch

cho buổi báo cáo sản phẩm.

- Xây dựng kế hoạch làm sản phẩm, phân công nhiệm vụ cho từng thành viên trong nhóm.

- Làm bài tập và tìm hiểu thông tin từ nhiều nguồn để giải quyết các câu hỏi trong Bộ câu hỏi định hướng.

- Thường xuyên thông báo và trao đổi tiến độ công việc với GV thông qua zalo, email…

- Nộp các bài tập, biên bản hợp nhóm, kế hoạch làm sản phẩm của nhóm

- Nộp sản phẩm cuối cùng.

Giai đoạn 3: Đánh giá

(Tiết 2-3 Thời gian có thể linh động tùy vào số lượng sản phẩm của học sinh)

- Tổ chức kiểm tra kiến thức

+ Phát bài kiểm tra trắc nghiệm đã chuẩn

- Làm bài kiểm tra

- Làm phiếu khảo sát ý kiến

Dạy học dự án thường dùng cho những chuyên đề, chủ đề học tập lớn cầnthời gian dài (giải quyết trong khoảng 3 tiết học trở lên)

Ví dụ như chủ đề địa lí dân cư Việt Nam - Địa lí 12, gồm có 3 bài với thờilượng 3 tiết GV sẽ dùng dạy học dự án để có đủ thời gian từ giao nhiệm vụ, tiếnhành dự án và đánh giá dự án của HS HS cũng có đủ thời gian để chuẩn bị,

Trang 26

d Phương pháp dạy học nhóm

* Khái niệm:

Dạy học nhóm là một hình thức xã hội của dạy học, trong đó học sinh củamột lớp học được chia thành các nhóm nhỏ trong khoảng thời gian giới hạn, mỗinhóm tự lực hoàn thành các nhiệm vụ học tập trên cơ sở phân công và hợp tác làmviệc Kết quả làm việc của nhóm sau đó được trình bày và đánh giá trước cả lớp

Dạy học nhóm còn được gọi bằng những tên gọi khác nhau như dạy họchợp tác, dạy học theo nhóm nhỏ Dạy học nhóm không phải một phương phápdạy học cụ thể mà là một hình thức xã hội, hay là hình thức hợp tác của dạy học

Số lượng HS trong một nhóm thường khoảng 4 -6 học sinh Nhiệm vụ củacác nhóm có thể giống nhau hoặc mỗi nhóm nhận một nhiệm vụ khác nhau, làcác phần trong một chủ đề chung

Dạy học nhóm thường được áp dụng để đi sâu, vận dụng, luyện tập, củng

cố một chủ đề đã học, nhưng cũng có thể để tìm hiểu một chủ đề mới Ở mức độcao, có thể đề ra những nhiệm vụ cho các nhóm HS hoàn toàn độc lập xử lý các lĩnhvực đề tài và trình bày kết quả của mình cho những học sinh khác ở dạng bài giảng

* Các cách thành lập nhóm

Có rất nhiều cách để thành lập nhóm theo các tiêu chí khác nhau, khôngnên áp dụng một tiêu chí duy nhất trong cả năm học Dưới đây là 10 cách thànhlập nhóm theo các tiêu chí khác nhau:

- Các nhóm gồm những người tự nguyện, cùng chung mối quan tâm

+ Thực hiện phân nhóm bằng cách GV cho HS tự nguyện lập nhóm theo ý thíchcủa mình

+ Ưu điểm: Đối với HS thì đây là cách dễ chịu nhất để thành lập nhóm, đảm bảocông việc thành công nhanh nhất

+ Nhược điểm: Dễ tạo ra sự tách biệt giữa các nhóm trong lớp, vì vậy cách tạolập nhóm như thế này không nên là khả năng duy nhất

- Các nhóm ngẫu nhiên

+ Thực hiện phân nhóm bằng cách GV cho HS đếm số, phát thẻ, gắp thăm, sắpxếp theo màu sắc, những HS giống nhau sẽ vào 1 nhóm

Trang 27

+ Ưu điểm: Các nhóm luôn luôn mới sẽ đảm bảo là tất cả các HS đều có thể họctập chung nhóm với tất cả các HS khác.

+ Nhược điểm: Nguy cơ có trục trặc sẽ tăng cao HS phải sớm làm quen với việc

đó để thấy rằng cách lập nhóm như vậy là bình thường

- Nhóm ghép hình

+ Thực hiện phân nhóm bằng cách GV xé nhỏ một bức tranh hoặc các tờ tài liệucần xử lý HS được phát các mẩu xé nhỏ, những HS ghép thành bức tranh hoặc tờtài liệu đó sẽ tạo thành nhóm

+ Ưu điểm: Cách tạo lập nhóm kiểu vui chơi, không gây ra sự đối địch

+ Nhược điểm: Cần một ít chi phí để chuẩn bị và cần nhiều thời gian hơn để tạolập nhóm

- Các nhóm với những đặc điểm chung

+ Thực hiện phân nhóm bằng cách GV đưa ra 1 đặc điểm chung, những HS nào

có đặc điểm đó thì vào 1 nhóm Ví dụ tất cả những HS cùng sinh ra trong mùađông, mùa xuân, mùa hè hoặc mùa thu sẽ tạo thành nhóm

+ Ưu điểm: Tạo lập nhóm một cách độc đáo, tạo ra niềm vui và HS có thể biết nhau rõ hơn.+ Nhược điểm: Cách làm này mất đi tính độc đáo nếu được sử dụng thường xuyên

- Các nhóm cố định trong một thời gian dài

+ Thực hiện phân nhóm bằng cách GV chia các nhóm được duy trì trong một sốtuần hoặc một số tháng Các nhóm này thậm chí có thể được đặt tên riêng

+ Ưu điểm: Cách làm này đã được chứng tỏ tốt trong những nhóm học tập cónhiều vấn đề

+ Nhược điểm: Sau khi đã quen nhau một thời gian dài thì việc lập các nhóm mới

sẽ khó khăn

- Nhóm có HS khá để hỗ trợ HS yếu

+ Thực hiện phân nhóm bằng cách GV cho những HS khá giỏi trong lớp cùngluyện tập với các HS yếu hơn và đảm nhận trách nhiệm của người hướng dẫn.+ Ưu điểm: Tất cả HS đều được lợi Những HS giỏi đảm nhận trách nhiệm làngười hướng dẫn, những HS yếu được giúp đỡ để tiến bộ

Trang 28

+ Nhược điểm: Ngoài việc mất nhiều thời gian thì chỉ có ít nhược điểm, trừ khinhững HS giỏi hướng dẫn sai.

- Nhóm theo năng lực học tập khác nhau

+ Thực hiện phân nhóm bằng cách GV cho những HS yếu hơn sẽ xử lý các bàitập cơ bản, những HS đặc biệt giỏi sẽ nhận được thêm những bài tập nâng cao.+ Ưu điểm: HS có thể tự xác định mục đích học tập của mình Ví dụ những HSyếu thì chỉ tập trung làm những bài tập cơ bản còn những HS khá giỏi thì tậptrung làm những bài tập nâng cao

+ Nhược điểm: Cách làm này dẫn đến kết quả là nhóm học tập cảm thấy bị chiathành những HS thông minh và những HS kém

- Nhóm theo các dạng học tập

+ Được áp dụng thường xuyên khi học tập theo tình huống Những HS thích học tậpvới hình ảnh, âm thanh hoặc biểu tượng sẽ nhận được những bài tập tương ứng.+ Ưu điểm: HS sẽ biết các em thuộc dạng học tập như thế nào?

+ Nhược điểm: HS chỉ học những gì mình thích và bỏ qua những nội dung khác

- Nhóm với các bài tập khác nhau

+ Thực hiện phân nhóm bằng cách GV chia việc cho từng nhóm cụ thể Ví dụ,trong khuôn khổ một dự án, một số HS sẽ khảo sát một xí nghiệp, một số kháckhảo sát một cơ sở chăm sóc xã hội…

+ Ưu điểm: Tạo điều kiện học tập theo kinh nghiệm đối với những gì đặc biệt quan tâm.+ Nhược điểm: Thường chỉ có thể được áp dụng trong khuôn khổ một dự án lớn

- Nhóm HS nam và nữ

+ Thực hiện phân nhóm bằng cách GV xếp những HS nam vào 1 nhóm, nữ vào 1 nhóm.+ Ưu điểm: Có thể thích hợp nếu học về những chủ đề đặc trưng cho con trai và congái Ví dụ trong giảng dạy về dân số, giới tính, tình dục, chủ đề lựa chọn nghề nghiệp, + Nhược điểm: Nếu bị lạm dụng sẽ dẫn đến mất bình đẳng nam nữ

* Tiến trình dạy học nhóm

Bước 1: Nhập đề và giao nhiệm vụ gồm: Giới thiệu chủ đề, Xác địnhnhiệm vụ các nhóm và thành lập các nhóm

Trang 29

Bước 2: Làm việc nhóm gồm: Chuẩn bị chỗ làm việc, Lập kế hoạch làmviệc, Thỏa thuận quy tắc làm việc, Tiến hành giải quyết nhiệm vụ và chuẩn bịbáo cáo kết quả.

Bước 3: Trình bày kết quả và đánh giá: Các nhóm trình bày, nhóm khác

và giáo viên đánh giá

Phương pháp này được dùng cho tất cả các bài học và hay dùng cho cácbài học mới, thảo luận nhóm cùng thống nhất để tìm ra kiến thức mới

Ví dụ: Địa 10 – Bài 9: Tác động của ngoại lực đến địa hình bề mặt Tráiđất, GV chia lớp làm 6 nhóm tìm hiểu quá trình phong hóa: Nhóm 1, 2 tìm hiểuquá trình phong hóa lí học; Nhóm 3, 4 tìm hiểu quá trình phong hóa hóa học;Nhóm 5, 6 tìm hiểu quá trình phong hóa sinh học

e P

hương pháp đóng vai

* Đặc điểm của phương pháp đóng vai

Đóng vai là phương pháp giáo viên tổ chức cho học sinh thực hành làmthử một số cách ứng xử trong một tình huống đạo đức hoặc pháp luật giả định

Phương pháp đóng vai có thể thực hiện dưới dạng hoạt cảnh tình huống

để giới thiệu bài Phương pháp đóng vai cũng có thể xây dựng thành tiểu phẩm

để củng cố bài học Nghĩa là ở mỗi phần của bài học chúng ta đều có thể sửdụng phương pháp đóng vai tuỳ theo nội dung và mục đích của bài dạy

* Tác dụng của phương pháp đóng vai

Khi sử dụng phương pháp đóng vai trong bộ môn sẽ có những tác dụng sau:

- Phương pháp đóng vai gây được hứng thú và sự chú ý cho người học.

- Rèn cho học sinh tính mạnh dạn, tự tin khi đứng trước đông người.

- Đóng vai giúp học sinh thực hành những kĩ năng trong môi trường an

toàn, được giám sát trước khi xảy ra các tình huống thực

Trang 30

- Đóng vai khích lệ thay đổi thái độ, hành vi của người học theo hướng

định trước HS có thể thấy ngay tác động và hiệu quả của lời nói hoặc việc làmcủa các vai diễn

- Phương pháp đóng vai buộc giáo viên và học sinh phải dành thời gian để

chuẩn bị bài trên lớp, điều đó sẽ nâng cao được hiệu quả giờ dạy, học bộ môn

* Các bước tiến hành:

Để phương pháp đóng vai thực sự có hiệu quả GV cần tiến hành theo các bước:

Bước 1 Giáo viên giới thiệu tình huống vào cuối tiết học tuần trước để học

sinh các tổ nhóm xây dựng kịch bản và phân công sắm vai

Bước 2 Thể hiện kịch bản (tình huống)

Bước 3 Học sinh nhận xét rút ra bài học.

Bước 4: Giáo viên nhận xét đánh giá

Ví dụ: Địa 12 – Bài 31: Vấn đề phát triển thương mại, du lịch Mục 2 Dulịch, GV cho HS đóng vai người hướng dẫn viên du lịch để giới thiệu về tàinguyên du lịch, các điểm, trung tâm du lịch của nước ta, sự phát triển của ngành

du lịch nước ta trong thời gian qua

g Phương pháp Bản đồ Tư duy

Xuất phát từ thực tế của bản thân khi còn là một học sinh trung học, họcgiả người Anh, Tony Buzan đã nghiên cứu và giới thiệu Bản đồ Tư duy (Mindmap) vào cuối thập niên 60 của thế kỷ XX Đây không chỉ đơn thuần là mộtcông cụ ghi chép hoàn chỉnh mà là một phương pháp tư duy nhằm nâng cao khảnăng tiếp nhận, ghi nhớ thông tin và kích thích khả năng sáng tạo của con người.Bản đồ Tư duy là một sơ đồ mở, không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết chặt chẽ như bản đồđịa lí, có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh, khai thác “sức mạnh” của màu sắc,

Trang 31

hình ảnh, ngôn từ chắt lọc, súc tích, nhằm kích thích khả năng sáng tạo vô tậncủa con người thông qua mạng lưới ý tưởng có mối liên hệ hữu cơ với nhau.

Để thành lập Bản đồ Tư duy, chúng ta cần một tờ giấy, một số cây bút vàmột bộ não chịu hoạt động Bản đồ Tư duy hoạt động theo cơ chế liên tưởng của bộnão Nếu não lười biếng không chịu suy nghĩ thì Bản đồ tư duy cũng không đượchình thành Dưới đây là 7 bước thành lập Bản đồ Tư duy do Tony Buzan giới thiệu

Bước 1: Bắt đầu từ trung tâm của tờ giấy

Bước 2: Dùng một hình ảnh hay bức tranh cho ý tưởng trung tâm

Bước 3: Luôn sử dụng màu sắc.

Bước 4: Nối các nhánh chính đến hình ảnh trung tâm và nối các nhánh

cấp 2, cấp 3 với nhánh cấp 1, cấp 2 để tạo ra sự liên kết

Bước 5: Vẽ nhiều nhánh cong hơn đường thẳng

Bước 6: Sử dụng một từ khoá trong mỗi dòng

Bước 7: Dùng những hình ảnh xuyên suốt

Trang 32

Bản đồ tư duy về khu vực Tây Nam Á – Bài 5 – Địa lí 11

Sử dụng Bản đồ Tư duy góp phần rèn luyện phương pháp học tập hiệuquả cho học sinh Bởi Bản đồ Tư duy chính là công cụ tư duy, là phương phápkhai thác tối đa năng lực của não bộ, đặc biệt là năng lực sáng tạo, từ đó xóa bỏdần lối học gạo, học vẹt

Bản đồ Tư duy giúp học sinh học tập tích cực, chủ động Trong quá trìnhthành lập thành lập Bản đồ Tư duy, học sinh phải độc lập suy nghĩ, rà soát kiếnthức, liên tưởng, phân tích, khái quát hóa để phát hiện mối liên hệ bản chất của

sự vật, hiện tượng và phản ánh mối liên hệ đó lên bản đồ thông qua hệ thống ký

tự, hình ảnh, màu sắc của cá nhân mà không chịu sự gò ép theo khuôn mẫu củagiáo viên

Trang 33

Phương pháp này còn phát huy tối đa tính sáng tạo và phản ánh đậmnét cá tính của học sinh thông qua trí tưởng tượng, óc thẩm mỹ, năng khiếu hộihọa cũng như góp phần cá thể hóa quá trình đào tạo.

Bản đồ Tư duy giúp học sinh ghi chép và ghi nhớ thông tin hiệu quả hơn.Bản đồ Tư duy với hình ảnh, màu sắc sinh động đã xóa đi sự nhàm chán, đơnđiệu và buồn tẻ của phương pháp ghi bài truyền thống theo dòng kẻ như nhữnghình chữ nhật làm đóng khung tư duy và sự sáng tạo của bạn

Với những hiệu quả trên, phương pháp Bản đồ tư duy đã và sẽ góp phầnquan trọng trong việc đổi mới phương pháp dạy học, hướng tới dạy học lấy họcsinh làm trung tâm và quá trình cá thể hóa người học Đồng thời, Bản đồ tư duycòn là phương pháp giúp học sinh tăng cường khả năng tự học, nhằm thực hiệnmục tiêu biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo và học tập suốt đờicủa con người

Bản đồ tư duy có thể được sử dụng trong học tập môn địa lí như sau:

- Sử dụng Bản đồ Tư duy trong phương pháp thảo luận nhóm.

Đối với phương pháp thảo luận nhóm, thay vì phát phiếu học tập và hoànthành phiếu học tập như thông thường, giáo viên có thể yêu cầu các nhóm trìnhbày kết quả thảo luận nhóm với nội dung giáo viên đã giao thông qua các Bản

đồ Tư duy Hiển nhiên, mỗi bản đồ tư duy đó không chỉ phản ánh thái độnghiêm túc, tích cực của cả nhóm trong việc khai thác, lĩnh hội kiến thức giốngnhư một phiếu học tập mà còn in đậm tinh thần đoàn kết cũng như sự hợp tác ăn

ý giữa các thành viên trong nhóm đồng thời vẫn thể hiện được màu sắc cá nhâncủa mỗi học sinh Học sinh không chỉ được khám phá kiến thức mới mà cònđược sáng tạo và khẳng định bản thân, được thuyết trình, học hỏi những cách thểhiện vấn đề theo những góc cạnh khác nhau và được bảo vệ ý tưởng, chính kiếncủa mình

Trang 34

- Sử dụng Bản đồ Tư duy trong phương pháp động não

Ở một góc độ nào đó, bản chất của phương pháp động não chính là bản đồ

tư duy cả về nội dung và hình thức Phương pháp động não được sử dụng kháphổ biến trong dạy học Địa lý nhằm phát huy tính sáng tạo, tập trung cao độ vàrèn luyện khả năng phản ứng nhanh nhạy của người học Giáo viên đưa ra mộtvấn đề có tính tình huống và yêu cầu học sinh giải quyết trong thời gian ngắn vàtheo hình thức “tiếp sức” Các học sinh sẽ lần lượt “bật” ra ý tưởng càng nhanhcàng tốt, cho đến khi thời gian kết thúc Khi đó, vấn đề có tính tình huống giáoviên tung ra được thể hiện ở trung tâm của Bản đồ Tư duy thông qua một bứctranh hay hình ảnh đồ họa Mỗi ý tưởng của học sinh là một phân nhánh cấp 1.Kết thúc cuộc chơi, ta sẽ có một Bản đồ Tư duy đồ sộ là tập hợp sức mạnh tưduy của cả tập thể, đồng thời kích thích sự tham gia, hứng thú và nhiệt tình củatất cả người học trên tinh thần tôn trọng và học hỏi

- Sử dụng bản đồ tư duy trong củng cố kiến thức, ôn tập

Việc sử dụng Bản đồ tư duy để hệ thống hóa kiến thức về bản chất cũnggiống như việc xây dựng sơ đồ, đều phát triển các nhánh theo cấu trúc của vấn

đề Tuy nhiên, ở Bản đồ tư duy hệ thống kênh chữ sẽ được súc tích hơn nữa,màu sắc cũng được sử dụng linh hoạt và phát huy hiệu quả hơn Bên cạnh đó,Bản đồ Tư duy còn sử dụng hệ thống các hình ảnh xuyên suốt để gây ấn tượng

và tăng cường khả năng ghi nhớ của học sinh

- Ứng dụng bản đồ tư duy trong kiểm tra, đánh giá.

Việc kiểm tra bằng bản đồ tư duy là một hình thức kiểm tra toàn diện.Thông qua đó, giáo viên không chỉ đánh giá được kiến thức của học sinh, khảnăng ghi nhớ, sự chuyên cần học tập Hơn thế nữa, nó còn cho phép giáo viênđánh giá được năng lực tư duy khoa học, tính logic, trí tưởng tượng, óc thẩm mỹ

và sáng tạo của học sinh Chính vì điều đó, sự phản hồi của học sinh thông qua

Trang 35

bản đồ tư duy có giá trị hơn rất nhiều so với phương pháp kiểm tra tự luận vàtrắc nghiệm khách quan.

Như vậy, bản đồ tư duy có thể được ứng dụng rộng rãi trong dạy học Địa

lý tại Trường THPT nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo, chủ động của họcsinh, hướng tới dạy học lấy người học làm trung tâm Trên hết, bản đồ tư duyrèn luyện cho học sinh phương pháp tư duy tích cực, một nhân tố quan trọnggiúp học sinh hoàn thiện phương pháp tự học nhằm biến quá trình đào tạo thànhquá trình tự đào tạo và học tập suốt đời

Phương pháp này rất phù hợp và hiệu quả cho những bài ôn tập nhằm mụcđích khái quát, tái hiện lại những kiến thức đã được học một cách có trật tự

Ví dụ: Địa 12 – Bài 11, 12: Thiên nhiên phân hóa đa dạng Sau khi HShọc xong bài này, GV yêu cầu HS củng cố lại bài bằng bản đồ tư duy để giờ sau

GV kiểm tra

Ngoài các phương pháp dạy học tích cực ở trên thì còn rất nhiều cácphương pháp dạy học tích cực khác như: Phương pháp dạy học hợp tác, dạy họctheo góc, bàn tay nặn bột…Tùy theo kiến thức bài học, cơ sở vật chất trường lớp

và năng lực của GV mà GV lựa chọn cho mình phương pháp dạy học phù hợp,hiệu quả nhất Điều quan trọng là GV phải nắm rõ được bản chất, cách thức sửdụng của mỗi phương pháp dạy học

2.3.2 Các kĩ thuật dạy học tích cực

Kỹ thuật dạy học là những biện pháp, cách thức hành động của của giáoviên và học sinh trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điềukhiển quá trình dạy học Các kỹ thuật dạy học là những đơn vị nhỏ nhất củaphương pháp dạy học Các kỹ thuật dạy học tích cực là những kỹ thuật dạy học

có ý nghĩa đặc biệt trong việc phát huy sự tham gia tích cực của HS vào quátrình dạy học, kích thích tư duy, sự sáng tạo và sự cộng tác làm việc của HS

Trang 36

tờ giấy Nhóm trưởng và thư ký tổng hợp các ý kiến, đánh giá và lựa chọn những

ý kiến quan trọng viết vào giữa tờ giấy

Kĩ thuật này được dùng cho tất cả các bài học, rất phù hợp cho những bàihọc mới với những đơn vị kiến thức nhỏ, cần có sự trao đổi giữa các cá nhân vớinhau để đưa ra kiến thức chuẩn

Trang 37

Ví dụ: Địa 11 – Bài 6: Hợp chúng quốc Hoa Kì Mục II Tìm hiểu điềukiện tự nhiên của Hoa Kì GV chia lớp làm 6 nhóm: Nhóm 1, 2 tìm hiểu và vùngphía Tây; Nhóm 3, 4 tìm hiểu về vùng phía Đông; Nhóm 5, 6 tìm hiểu về vùngTrung tâm GV yêu cầu HS sử dụng kĩ thuật khăn trải bàn để hoàn thiện nội

dung kiến thức của nhóm

b

Kĩ thuật mảnh ghép

* Khái niệm

Là kĩ thuật tổ chức hoạt động học tập hợp tác kết hợp giữa cá nhân, nhóm

và liên kết giữa các nhóm nhằm giải quyết một nhiệm vụ phức hợp, kích thích

sự tham gia tích cực của học sinh, nâng cao vai trò của cá nhân trong quá trìnhhợp tác (Không chỉ nhận thức hoàn thành nhiệm vụ ở Vòng 1 mà còn phảitruyền đạt kết quả và hoàn thành nhiệm vụ ở Vòng 2)

* Thực hiện:

Giáo viên giao việc cho từng nhóm

Các nhóm tiến hành thảo luận và rút ra kết quả, đảm bảo từng thành viêncủa nhóm đều có khả năng trình bày kết quả của nhóm

Mỗi nhóm được tách ra và hình thành nhóm mới, sao cho mỗi nhóm mới sẽ

có ít nhất 1 thành viên của các nhóm cũ, nhóm mới được thành lập theo sơ đồ

Từng thành viên của nhóm mới lần lượt trình bày kết quả thảo luận của mình

* Lưu ý:

Đảm bảo ở bước thảo luận đầu tiên, mọi thành viên đều có khả năng trìnhbày kết quả thảo luận của nhóm trước khi tiến hành tách nhóm

Trang 38

Các chủ đề thảo luận cần được chọn lọc kỹ lưỡng, có tính độc lập với nhau.

* Ưu điểm:

Đào sâu kiến thức trong từng lĩnh vực

Phát huy hiểu biết của học sinh và giải quyết những hiểu sai

Phát triển tinh thần làm việc theo nhóm

Phát huy trách nhiệm của từng cá nhân

và mới có thể trình bày lại cho nhau nghe được

Ví dụ: Địa 11 – Bài 9: Các ngành kinh tế và các vùng kinh tế của NhậtBản GV sử dụng kĩ thuật mảnh ghép để tìm hiểu các ngành kinh tế của Nhật

GV chia lớp làm 6 nhóm, mỗi nhóm 6 người: Nhóm 1, 2 tìm hiểu ngành côngnghiệp; Nhóm 3, 4 tìm hiểu ngành nông nghiệp; Nhóm 5, 6 tìm hiểu ngànhDịch vụ Sau khi các nhóm tìm hiểu xong thì GV hình thành 6 nhóm mới vớiđiều kiện là mỗi nhóm mới sẽ có 6 HS, trong đó có 2 em tìm hiểu được ngànhcông nghiệp, 2 em tìm hiểu được ngành nông nghiệp và 2 em tìm hiểu đượcngành dịch vụ ở nhóm cũ để các em hỗ trợ nhau hoàn thiện việc tìm hiểu vềcác ngành kinh tế cho nhau

Ngày đăng: 19/03/2021, 10:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w