1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nhóm 3 chứng khoán phái sinh

37 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chiến lược Chart Patterns
Tác giả Nguyễn Thị Thu Huyền, Phạm Thị Đông Linh, Nguyễn Thị Hoàng Oanh, Nguyễn Thị Thanh Phương, Phạm Phương Thảo, Nguyễn Thị Việt Hương, Trần Việt Thủy, Lê Diệu Hoài Thương, Lê Thị Kiều Diễm
Người hướng dẫn Thầy Ngô Phú Thanh
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế TP.Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Chứng khoán phái sinh
Thể loại Báo cáo môn học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 6,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHIẾN LƯỢC CHART PATTERNS Đỉnh vai trái – xuất hiện khi giá chứng khoán tăng đạt tới đỉnh của nó, theo sau là sự sụt giảm. Đỉnh đầu – xảy ra khi giá chứng khoán tăng lên đến một đỉnh cao mới cao hơn đỉnh của vai trái rồi sau đó lại giảm xuống. Đỉnh vai phải – một sự suy giảm xảy ra một lần nữa, sau đó là sự gia tăng hình thành một đỉnh vai phải tương đối thấp hơn đầu, rồi lại giảm xuống sau khi đã đạt được đỉnh của nó. Đường viền cổ – Các đáy thấp của 3 đỉnh tạo thành đường viền cổ (Neckline). Khối lượng: khối lượng tại đầu nê thấp hơn vai trái, đó là cảnh báo sớm cho sụt giảm áp lực mua. Khối lượng tại vai phải cũng cần thấp hơn hải đỉnh kia nhiều và gia tăng khi đường viền cổ bị phá vỡ. Mục tiêu giá: bằng chiều cao từ đỉnh đầu xuống đường vòng cổ. Đặc điểm: • Được hình thành từ ba đỉnh nhọn liền nhau, cả ba đỉnh có độ cao gần bằng nhau • Đường kháng cự: nằm ngang nối 3 đỉnh với nhau. • Đường cổ: nằm ngang nối hai đáy tạm thời, ban đầu là đường hỗ trợ của mô hình, nhưng sau khi giá bứt phá qua thì nó trở thành đường kháng cự của giá. • Phá vỡ vùng hỗ trợ: mô hình 3 đỉnh vẫn chưa thể hoàn thành cho đến khi nó xuất hiện một sự phá vỡ vùng hỗ trợ sau đỉnh thứ 3. • Vùng kháng cự thành vùng hỗ trợ: vùng hỗ trợ bị phá vỡ sẽ trở thành vùng kháng cự tiềm năng và đôi khi giá sẽ test lại vùng kháng cự mới hình thành này bằng một đợt tăng giá phản ứng sau đó. • Khối lượng: ở xu hướng lên ban đầu khối lượng cao nhưng sau khi giao động tạo ba đỉnh khối lượng cần cạn kiệt dần và chỉ tăng mạnh trở lại khi giá tạo điểm bứt phá dưới đường viền cổ. • Mục tiêu giá: là khoảng cách từ đường nối ba đỉnh với đường viền cổ

Trang 1

GVHD: Thầy Ngô Phú Thanh

Nguyễn Thị Việt Hương Trần Việt Thuỷ

Lê Diệu Hoài Thương

Lê Thị Kiều Diễm

MSSV

K174040340 K174040350 K174040382 K174040385 K174040397 K174040341 K174040406 K174040410 K174040318

Trang 2

Khái niệm 1

Tại sao sử dụng Chart Patterns? 2

Điểm mạnh & Điểm yếu 3

Phân loại 4

Thực hành 5

OUTLINES

Trang 3

Hình mẫu kỹ thuật (Chart Patterns) hay còn gọi là các mô hình giá hoặc hình mẫu giá Đây là các mô hình biến động của giá xuất hiện nhiều lần, có hiện tượng lặp đi lặp lại trên biểu đồ giá thị trường.

1 Chart patterns là gì?

Trang 4

2 Tại sao lại sử dụng Chart Patterns?

Trang 5

ĐIỂM MẠNH ĐIỂM YẾU

• Không cần tốn quá nhiều

thời gian để nghiên cứu

• Kiên nhẫn khi sử dụng

• Người sử dụng phải hiểu rõ mô hình hoạt động trên nguyên lý nào

• Hầu hết các mẫu biểu đồ chỉ hiệu quả trong ngắn hạn.

3

• Các mẫu biểu đồ đôi khi có thể mất nhiều thời gian để hình thành hoặc đưa ra tín hiệu sai

Trang 6

4.1 Mô hình đảo chiều

1 Hình mẫu vai đầu vai

2 Hình mẫu ba đỉnh

3 Hình mẫu ba đáy

4 Hình mẫu hai đỉnh

5 Hình mẫu hai đáy

6 Hình mẫu cái nêm

4 PHÂN LOẠI

Trang 7

4.1.1 Mẫu hình vai đầu vai

Vai đầu vai là hình mẫu

kĩ thuật đảo ngược xu thế của thị trường Được mô phỏng theo hình dáng đầu vai của con người.

Trang 8

• Đỉnh vai trái – xuất hiện khi giá chứng khoán tăng đạt tới

đỉnh của nó, theo sau là sự sụt giảm

• Đỉnh đầu – xảy ra khi giá chứng khoán tăng lên đến một

đỉnh cao mới cao hơn đỉnh của vai trái rồi sau đó lại giảm xuống

• Đỉnh vai phải – một sự suy giảm xảy ra một lần nữa, sau

đó là sự gia tăng hình thành một đỉnh vai phải tương đối thấp hơn đầu, rồi lại giảm xuống sau khi đã đạt được đỉnh của nó

• Đường viền cổ – Các đáy thấp của 3 đỉnh tạo

thành đường viền cổ (Neckline)

• Khối lượng: khối lượng tại đầu nê thấp hơn vai trái, đó

là cảnh báo sớm cho sụt giảm áp lực mua Khối lượng tại vai phải cũng cần thấp hơn hải đỉnh kia nhiều và gia tăng khi đường viền cổ bị phá vỡ

• Mục tiêu giá: bằng chiều cao từ đỉnh đầu xuống đường

vòng cổ

Trang 9

Đặc điểm:

• Được hình thành từ ba đỉnh nhọn liền nhau, cả ba đỉnh có độ cao gần bằng nhau

• Đường kháng cự: nằm ngang nối 3 đỉnh với nhau.

• Đường cổ: nằm ngang nối hai đáy tạm thời, ban đầu là đường

hỗ trợ của mô hình, nhưng sau khi giá bứt phá qua thì nó trở thành đường kháng cự của giá

• Phá vỡ vùng hỗ trợ: mô hình 3 đỉnh vẫn chưa thể hoàn thành

cho đến khi nó xuất hiện một sự phá vỡ vùng hỗ trợ sau đỉnh thứ 3

• Vùng kháng cự thành vùng hỗ trợ: vùng hỗ trợ bị phá vỡ sẽ

trở thành vùng kháng cự tiềm năng và đôi khi giá sẽ test lại vùng kháng cự mới hình thành này bằng một đợt tăng giá phản ứng sau đó

• Khối lượng: ở xu hướng lên ban đầu khối lượng cao nhưng

sau khi giao động tạo ba đỉnh khối lượng cần cạn kiệt dần và chỉ tăng mạnh trở lại khi giá tạo điểm bứt phá dưới đường viền cổ

• Mục tiêu giá: là khoảng cách từ đường nối ba đỉnh với đường

viền cổ

(Triple Top)

Trang 10

Đặc điểm:

• 3 đáy của mô hình: cả 3 phần đáy cần tương đối thấp

bằng nhau và đánh dấu những bước ngoặt quan trọng

• Sự phá vỡ vùng kháng cự: mô hình vẫn chưa hoàn

thành cho đến khi xuất hiện sự phá vỡ vùng kháng cự sau đáy thứ 3 Điểm giá cao nhất trong 2 phần đỉnh (peak) giữa 3 đáy (low) đánh dấu mức kháng cự quan trọng

• Vùng kháng cự thành vùng hỗ trợ: vùng kháng cự bị phá

vỡ sẽ trở thành vùng hỗ trợ tiềm năng và đôi khi giá sẽ test lại vùng hỗ trợ mới hình thành này bằng một đợt điều chỉnh đầu tiên Vì mô hình ba đáy là mô hình dài hạn nên việc test vùng hỗ trợ mới có thể xảy ra nhiều tháng sau đó

• Khối lượng giao dịch: các mức khối lượng giao dịch

thường giảm dần

• Mục tiêu giá tối thiểu của mô hình chính là khoảng cách

từ đường nối ba đáy với đường viền cổ

4.1.3 Hình mẫu ba đáy (Triple Bottom)

Trang 11

Mô hình thể hiện sự đảo ngược của xu hướng tăng giá chứng khoán, được hình thành khi đường giá hình thành hai đỉnh trên biểu đồ, chỉ hoàn thiện khi giá chứng khoán rơi xuống dưới mức đáy

4.1.4 Hình mẫu hai

đỉnh ( Double Top)

Trang 12

Đặc điểm:

• Hai đỉnh: có thể nằm ngang nhau hoặc cao

hơn hoặc thấp hơn nhau một chút

• Đáy: Ở giữa 2 đỉnh có một đáy tạm thời Đây

là mức điều chỉnh tự nhiên trong một xu hướng tăng khi giá di chuyển được một đoạn.

• Đường cổ: Một đường nằm ngang đi qua đáy

tạm thời gọi là đường cổ (neckline) và đóng vai trò là một đường hỗ trợ

• Đường viền cổ: ban đầu là đường hỗ trợ

nhưng sau khi xuất hiện điểm phá vỡ, giá đã vượt xuống thì sau đó sẽ trở thành đường

kháng cự.

• Sự phá vỡ: giá đóng cửa phiên phá vỡ cần

vượt xuống dưới đường hỗ trợ thay vì một sự phá vỡ giá trong ngày

Trang 13

4.1.5 Hình mẫu hai đáy ( Double Bottom)

Mang tính chất

đảo chiều , là thời kì chuyển đổi xu thế giảm giá thành xu thế tăng giá.

Trang 14

• Đường viền cổ ban đầu là đường

kháng cự nhưng sau khi xuất hiện điểm breakout, giá đã vượt qua thì sau đó sẽ trở thành hỗ trợ.

• Giá có thể quay lại retest ngưỡng hỗ

trợ

• Chiều cao của mô hình càng lớn thì

khả năng đảo chiều càng lớn.

• Khối lượng giao dịch thường tăng

mạnh vào giai đoạn cuối.

Trang 15

Đây là mô hình tiếp diễn, báo hiệu một sự tạm dừng xu hướng hiện tại

4.1.6 Mô hình cái nêm (Wedge)

Trang 16

Mô hình nêm hướng lên Mô hình nêm hướng xuống

Một nêm tăng được hình thành khi giá

“hội tụ” giữa một đường trend line hỗ

trợ dốc lên và một đường trend line

kháng cự.

Một nêm giảm được hình thành khi giá

“hội tụ” giữa một đường trend line hỗ trợ

dốc xuống và một đường trend line kháng cự.

Trang 17

Đặc điểm:

• Độ dốc: dùng để phân biệt của mô hình nêm

Hình mẫu nêm có độ dốc tương phản so với xu hướng chính trước đó.

• Cạnh nêm: cạnh trên hoặc cạnh dưới của hình

nêm là đường kháng cự Sau khi xuất hiện điểm phá vỡ, giá đã vượt ra khỏi đường kháng cự thì sau đó sẽ trở thành đường hỗ trợ.

• Sự phá vỡ: Để tăng độ chính xác của hình

mẫu, NĐT cần chú ý đến đặc điểm của sự phá

vỡ Giá đóng cửa phiên phá vỡ cần ở bên ngoài đường kháng cự thay vì một sự phá vỡ giá trong ngày.

• Khối lượng giao dịch: khối lượng sẽ giảm dần

khi nêm hình thành và càng về đỉnh nêm càng ít

đi Sau đó khối lượng sẽ tăng ở điểm phá vỡ.

Trang 18

6 Hình mẫu cốc và tay cầm

4.2 Mô hình

tiếp diễn

Trang 19

triangle)

Trang 20

• Giá sẽ phá vỡ theo hướng của xu hướng trước đó trong khoảng từ

2/3 đến 3/4 bề ngang của tam giác

• Khoảng cách ở đáy tam giác tạo ra

mục tiêu giá của mô hình

• Khối lượng giao dịch: sẽ giảm bớt khi giá dao động biên độ hẹp trong phạm

vi tam giác Đặc điểm này xuất hiện trong mọi mô hình củng cố

Đặc điểm

Trang 22

Đường chéo đi lên ở phía dưới: Cần ít nhất hai

đáy tăng dần để tạo một đường chéo đi lên ở phía dưới Những đáy sau phải liên tiếp cao hơn những đáy trước Thể hiện sức mạnh bên mua đang tăng dần và vượt trội hoàn toàn ở điểm phá vỡ.

Điểm phá vỡ (Breakout): điểm mà giá vượt khỏi đường kháng cự, sẽ xuất hiện ở khoảng giữa điểm 2/3 và 3/4 chiều ngang của mô hình.

Giá mục tiêu: Xác định mức giá của điểm giao nhau

dự kiến của hai đường kháng cự và hỗ trợ kéo dài Tiếp đó ta đo chiều cao của mô hình tam giác tức là khoảng cách (đo theo chiều thẳng đứng) giữa điểm cao nhất của đường kháng cự và điểm thấp nhất của đường hỗ trợ Sau đó cộng khoảng này vào mức giá của giao điểm vừa đo nếu là “breakout” hướng lên.

Trang 23

• Xuất hiện trong thị trường giá giảm.

• Nó có hai đường kháng cự và hỗ trợ có xu hướng hội tụ, đường kháng cự hướng xuống còn đường

hỗ trợ nằm ngang Khi kéo dài hai đường kháng cự

và hỗ trợ chúng sẽ cắt nhau ở đỉnh tam giác ở phía phải đồ thị

• Đường kháng cự hướng xuống mức giá thấp có xu thế giữ nguyên.

• Khối lượng giao dịch: thường giảm dần trong quá trình

phát triển tam giác Khi giá tiếp cận điểm đột phá, nó thường trở nên khá thấp, và sau đó bùng nổ lên trong thời gian đột phá

• Sự phá vỡ: Giá có thể phá vỡ theo bất kỳ hướng nào,

nhưng trong hầu hết các trường hợp giá sẽ phá vỡ hỗ trợ và tiếp tục giảm Tuy nhiên, trong một số trường hợp, đường hỗ trợ trở thành một cản cứng, giá sẽ bật lên tạo thành hướng tăng mới

4.2.3 Hình mẫu tam giác hướng xuống (Descending Triangles)

Trang 24

4.2.4 Hình mẫu kỹ thuật cờ và cờ đuôi nheo(Flags & Pennants)

Đặc điểm quan trọng của hai mẫu hình này

là có một biến động theo đường thẳng rõ

Trang 25

Đặc điểm

• Hai mô hình có khối lượng giao dịch và giá mục tiêu

đo lường như nhau.

• Đều tương đối ngắn hạn và được hoàn thành trong vòng 1 đến 3 tuần

• Có một biến động theo đường thẳng rõ rệt: trước

khi có hình mẫu, giá sẽ tăng hay giảm rõ ràng, mạnh, tạo thành cán cờ thẳng lên hay quay xuống Tương ứng với biến động mạnh đó là khối lượng giao dịch lớn => Hai hình mẫu này là hình mẫu rất đáng tin cậy và hiếm khi tạo ra sự đảo chiều xu hướng.

• Sự phá vỡ: Tiêu chí tối thiểu là giá phải đóng cửa bên

ngoài đường cạnh trên hay cạnh dưới của cờ và không phải là một cú phá vỡ giá trong ngày

• Khối lượng giao dịch: giảm trong giai đoạn hình

thành cờ và tăng lại ở điểm phá vỡ.

• Mục tiêu giá: hai mô hình này đều có mục tiêu giá

giống nhau là khoảng cách của biến động giá trước đó tức là số điểm tăng hay giảm trước khi hình thành mô hình

Trang 26

Mô hình tiếp diễn xu thế của thị trường, rất dễ nhận biết bởi giá biến động đi ngang giữa hai đường nằm ngang song song với nhau Hình thành dựa trên hai đường nối các đỉnh và các đáy Hình chữ nhật được xem như một khung giao dịch , khu vực củng cố về giá chứng khoán.

4.2.5 Hình mẫu chữ

nhật (Rectangle)

Trang 27

Đặc điểm

Điểm phá vỡ (breakout) : khi giá

vượt ra khỏi đường biên trên hoặc

dưới một cách dứt khoát và chỉ ra

hướng phát triển của xu hướng.

Mục tiêu giá : dựa trên chiều cao của biên độ dao động

giá, là độ cao của cạnh ngắn của hình chữ nhật.

Khối lượng giao dịch: Nếu sự hồi phục có khối lượng lớn

và suy giảm có khối lượng nhỏ thì khả năng sẽ là sự tiếp diễn xu hướng tăng Nếu khối lượng tăng trong xu hướng giảm thì được xem là tín hiệu cảnh báo xu hướng giảm sẽ tiếp tục.

Trang 28

Đây là mẫu hình xuất hiện khi thị trường đang trong xu thế lên giá và nó củng cố xu thế đó của thị trường.

4.2.6 Hình mẫu cốc và tay cầm (Cup and handle)

Trang 29

• Xu hướng: khu vực bên trái cốc

cần phải có một đợt tăng giá.

• Độ sâu: độ sâu của nó hoàn lại

khoảng 1/3 hoặc ít hơn mức tăng

giá trước đó

• Đáy cốc: hình chữ” U” sẽ tin cậy

hơn hình chữ “V”.

• Đỉnh cốc: bên phải và đỉnh cốc bên

trái không nhất thiết phải bằng

nhau.

• Vị trí: Phần tay cầm nằm ở

nửa trên của chiếc cốc và nằm trên MA200

• Độ sâu: Toàn bộ chiều cao

của khung thường đạt mức 1/3 chiều cao cốc (đoạn số 4 đạt mức 1/3 đoạn số 2).

Phần tay cầm Phần cốc

Trang 30

Nếu mô hình có sau một xu hướng tăng thì khối lượng giao dịch trong đợt tăng giá này cần cao Sau đó càng về đáy cốc khối lượng càng cạn Khối lượng tăng dần thể hiện lực cầu mua ở cạnh phải cốc Sau đó phần tay cầm khối lượng sẽ giảm thể hiện lực bán yếu, thị trường tạm nghỉ Khối lượng giao dịch tăng mạnh vào điểm bùng nổ giá bứt phá khỏi đường viền cổ và tay cầm.

Đặc điểm

Trang 31

1 Mẫu hình 2 đáy

2 Mẫu hình 2 đỉnh

3 Mẫu hình tam giác cân

4 Mẫu hình cái nêm

5 Mẫu hình cờ

5 Thực hành

Trang 32

Giai đoạn 1 : Điều kiện đầu tiên

của mô hình đó là phải được bắt đầu bằng một xu thế tăng giá

Giai đoạn 2 - Giá tăng đến một mức

kháng cự nhất định thì giảm xuống, sau đó lại tăng lên, chạm mức cản một lần nữa rồi lại giảm lần thứ hai và cuối cùng tăng đến mức cản lần thứ 3 trước khi giảm.

Giai đoạn 3 - Giảm giá lần thứ

ba có thể là báo hiệu cho sự bắt đầu của một giai đoạn thị trường đi xuống.

Giai đoạn 1 của hình mẫu:

Giá diễn biến từ khoảng ngày 13/11/2019 - 05/12/2019, giai đoạn này hình thành xu hướng giảm giá.

Giai đoạn 2: Khi giá tiếp tục đi xuống theo xu hướng cũ, thị trường

đã đi đến vùng đáy hỗ trợ thứ nhất, lực bán đã không thắng nổi lực mua, đây mới chính là mấu chốt để bắt đầu tạo nên mô hình 2 đáy

Giai đoạn 3: Tại 16/1/2020,

đường giá phá vỡ vùng kháng

cự tại điểm break-out

5.1 Hình mẫu 2 đáy (VN30F1M, 1D, 13.11.2019 – 22.01.2020)

Trang 33

Giai đoạn tiếp theo:Giá tăng chạm

đến mức kháng cự tạo nên đỉnh thứ nhất, khi không đủ sức kháng cự thì giảm xuống chạm đáy rồi tiếp tục tăng mức giá tạo đỉnh thứ hai.

Giai đoạn cuối cùng:Giảm giá

lần thứ hai có thể là báo hiệu cho sự bắt đầu của một giai đoạn thị trường đi xuống.

Trang 34

5.3 Mô hình tam giác cân (VN30F2009, 1D, 01/04-12/05/2020)

độ tăng của giá.

Giai đoạn tiếp theo: giá điều chỉnh lên - xuống quanh biên độ 659 -

715 điểm biên độ dao động giá lớn hơn

ở đoạn đầu tức phần đáy của tam giác

và giảm dần về phía đỉnh

Giai đoạn cuối cùng: : giai

đoạn bứt phá ra khỏi điểm phá vỡ (điểm break out

Trang 35

5.4 Mẫu hình cái nêm (VN30F1M, 1D, 18.12.2017 – 10.04.2018)

01

Giai đoạn 1:tồn tại một xu hướng

tăng hoặc giảm giá trước đó để tiếp diễn tăng hoặc giảm tiếp tục sau khi hình thành mẫu hình

02

Giai đoạn tiếp theo:Giá tiếp

tục tăng nhưng bị kháng cự ở mức xấp xỉ 1170 điểm với hướng của Cái nêm

03

Giai đoạn cuối cùng: giai

đoạn bứt phá ra khỏi điểm phá vỡ (điểm break out).

Trang 36

Giai đoạn hình thành mẫu hình: giai đoạn điều chỉnh quanh biên độ giảm dần Từ 21.5.2020 – 21.8.2020 đang hình thành lá cờ, giá

có tín hiệu suy, kèm với giá giảm dần từ 863 điểm còn 784 điểm

03

Giai đoạn cuối cùng là giai

đoạn bứt phá ra khỏi điểm break out.

Trang 37

THANK

YOU FOR

LISTENING

Ngày đăng: 28/02/2023, 08:38

w