I.Tổng quan về chứng khoán phái sinh 1.Khái niệm Chứng khoán phái sinh hay còn gọi là công cụ phái sinh: Chứng khoán phái sinh là những tài sản tài chính mà mà giá trị của nó phụ thuộc vào giá trị hoặc tài sản khả năng sinh lời của một tài sản khác. 2.Vai trò a.Chứng khoán phái sinh giúp phòng ngừa rủi ro Nhà đầu tư là nhưng người có tiền thực hiện giao dịch trao đổi mua banschuwngs khoán nhằm mục đích sinh lời. khi nhà đầu tư này nắm giữ chứng khoán gốc cổ phiếu,trái phiếu họ muốn chứng khoán này lên giá.vì vậy họ sẽ được them lời từ khoản chênh lệch giá. Tuy nhiên phần tài sản của họ sẽ bị thiệt hại khi thị trường có nhiều bất lợi khi gia scuar những chứng khoán của họ bị giảm giá. Đó là những lí do gây tổn thất cho nhà đầu tư vì vậy phải phòng ngừa giảm thiểu rủi ro.mỗi loại chứng khoán phái sinh có cách phòng ngừa rủi roc ho nhf đầu tư,bảo vệ tài sản và cả phần lợi nhuận của nhà đầu tư.ví dụ như chứng quyền bảo vệ quyền lợi cho những cổ đông thường khi công ty phát hành cổ phiếu mới… b.Chứng khoán phái sinh được nhà đầu tư sử dụng để đầu cơ Hoạt động đầu cơ là những hoạt động giao dịch mua bán các hợp đồngcủa nhà đầu tư mà không sử dụng đến chứng khoán gốc.nhà đầu tư mua bán chứng khoán nhằm mục đích kiếm lợi. nhà đầu cơ phải phân tích biến động,khả năng tang trưởng phát trieenrcuar chứng khoán gốc trên thị trường tiền mặt,từ những nhận định đó nhà đầu tư quyêt định có mua hay bán chứng khoán phái sinh.nhà đầu co sẽ hi vọng kiếm được lợi nhuận cao nhờ việc chênh lệch giá . 3.Phân loại Theo chuẩn mực Quốc tế, bao gồm nhiều loại. Nhưng có thể liệt kê 5 loại chứng khoán phái sinh chủ yếu sau: quyền mua cổ phần; chứng quyền; hợp đồng kỳ hạn; hợp đồng tương lai; và quyền lựa chọn.
Trang 1I.Tổng quan về chứng khoán phái sinh
1.Khái niệm
Chứng khoán phái sinh hay còn gọi là công cụ phái sinh: Chứng khoán phái sinh là những tài sản tài chính mà mà giá trị của nó phụ thuộc vào giá trị hoặc tài sản khả năng sinh lời của một tài sản khác
2.Vai trò
a.Chứng khoán phái sinh giúp phòng ngừa rủi ro
Nhà đầu tư là nhưng người có tiền thực hiện giao dịch trao đổi mua
banschuwngs khoán nhằm mục đích sinh lời khi nhà đầu tư này nắm giữ chứng khoán gốc cổ phiếu,trái phiếu họ muốn chứng khoán này lên giá.vì vậy họ sẽ được them lời từ khoản chênh lệch giá Tuy nhiên phần tài sản của họ sẽ bị thiệt hại khi thị trường có nhiều bất lợi khi gia scuar những chứng khoán của họ bị giảm giá Đó
là những lí do gây tổn thất cho nhà đầu tư vì vậy phải phòng ngừa giảm thiểu rủi ro.mỗi loại chứng khoán phái sinh có cách phòng ngừa rủi roc ho nhf đầu tư,bảo vệ tài sản và cả phần lợi nhuận của nhà đầu tư.ví dụ như chứng quyền bảo vệ quyền lợi cho những cổ đông thường khi công ty phát hành cổ phiếu mới…
b.Chứng khoán phái sinh được nhà đầu tư sử dụng để đầu cơ
Hoạt động đầu cơ là những hoạt động giao dịch mua bán các hợp đồngcủa nhà đầu tư mà không sử dụng đến chứng khoán gốc.nhà đầu tư mua bán chứng khoán nhằm mục đích kiếm lợi nhà đầu cơ phải phân tích biến động,khả năng tang trưởng phát trieenrcuar chứng khoán gốc trên thị trường tiền mặt,từ những nhận định đó nhà đầu tư quyêt định có mua hay bán chứng khoán phái sinh.nhà đầu co
sẽ hi vọng kiếm được lợi nhuận cao nhờ việc chênh lệch giá
3.Phân loại
Theo chuẩn mực Quốc tế, bao gồm nhiều loại Nhưng có thể liệt kê 5 loại chứng khoán phái sinh chủ yếu sau: quyền mua cổ phần; chứng quyền; hợp đồng
kỳ hạn; hợp đồng tương lai; và quyền lựa chọn
a.Quyền mua cổ phần (hay quyền mua trước)
Là quyền ưu tiên mua trước dành cho các cổ đông hiện hữu của một công ty
cổ phần được mua một số lượng cổ phần trong một đợt phát hành CP phổ thông mới tương ứng với tỷ lệ cổ phần hiện có của họ trong công ty, tại mức giá xác định, thấp hơn mức giá chào mời ra công chúng và trong một thời hạn nhất định
Trang 2b.Chứng quyền
Thời điểm phát hành: được phát hành cùng đợt với phát hành trái phiếu, cổ phiếu ưu đãi
Mục đích: Quyền này được phát hành khi tổ chức lại các công ty hoặc khi công ty nhằm mục tiêu khuyến khích các nhà đầu tư tiềm năng mua các trái phiếu hoặc cổ phiếu ưu đãi có những điều kiện kém thuận lợi
Đặc điểm: Là một loại chứng khoán trao cho người nắm giữ nó quyền được mua một số lượng xác định một loại chứng khoán khác, thường là cổ phiếu thường, với một mức giá xác định và trong một thời hạn nhất định Để chấp nhận những điều kiện đó, nhà đầu tư có được một lựa chọn đối với sự lên giá có thể xảy ra của cổ phiếu thường
c.Hợp đồng kỳ hạn
Là một thoả thuận trong đó một người mua và một người bán chấp thuận thực hiện một giao dịch hàng hoá với khối lượng xác định, tại một thời điểm xác định trong tương lai với một mức giá ấn định vào ngày hôm nay
d.Hợp đồng tương lai
Là một thoả thuận đòi hỏi một bên của hợp đồng sẽ mua hoặc bán một hàng hoá nào đó tại một thời hạn xác định trong tương lai theo một mức giá đã định trước Chức năng kinh tế cơ bản của các thị trường hợp đồng tương lai là cung cấp một cơ hội cho những người tham gia thị trường để phòng ngừa rủi ro về những biến động giá bất lợi
e.Hợp đồng quyền chọn:
Một quyền chọn là một hợp đồng cho phép người nắm giữ nó được mua (nếu là quyền chọn mua) hoặc được bán (nếu là quyền chọn bán) một khối lượng nhất định hàng hoá tại một mức giá xác định và trong một thời hạn nhất định Các hàng hoá
cơ sở này có thể là cổ phiếu, chỉ số cổ phiếu, trái phiếu, chỉ số trái phiếu, thương phẩm
II.Thực trạng chứng khoán phái sinh tại việt nam
Trang 31 chứng khoán phái sinh trên thị trường việt nam trước 2009
Những công cụ phái sinh được giới thiệu vào thị trường tiền tệ ở Việt Nam vào cuối những năm 1990 và đến nay xuất hiện nhiều công cụ phái sinh chuẩn và không chuẩn đang được thực hiện Tuy nhiên, việc áp dụng các công cụ phái sinh còn rất hạn chế tại các NHTM của Việt Nam Thống kê của ngân hàng thanh toán quốc tế, tính đến cuối tháng 9/2008, tổng giá trị chứng khoán phái sinh trên thế giới vào khoảng gần 600.000 tỷ USD Tổng giá trị giao dịch của chứng khoán phái sinh toàn cầu là một con số rất lớn nếu so sánh với tổng GDP toàn cầu (khoảng 30.000 tỷ USD) hay tổng giá trị chứng khoán vốn (khoảng 31.000 tỷ USD) và tổng giá trị chứng khoán nợ (khoảng 51.000 tỷ USD)[8] Thế nhưng, con số này đối với giao dịch phái sinh ở Việt Nam rất ít được nhắc tới vì quá khiêm tốn, mặc dù đây là công cụ bảo hiểm rủi ro tài chính phổ biến trên thế giới
Đối với những công cụ phái sinh về lãi suất thì trên thực tế đã có một số hợp đồng giao dịch hoán đổi lãi suất (IRD) của ngân hàng với các đối tác trên thị
trường nhưng phạm vi rất hạn hẹp Ngân hàng ngoại thương thực hiện hoán đổi lãi suất kèm theo điều kiện quyền chọn với các đối tác là tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt Nam và các pháp nhân khác hoạt động ở trong nước và ngoài nước Quyền chọn thuộc về Ngân hàng ngoại thương là quyền kết thúc trước hạn hợp đồng
Swap đối với các khoản vay của đối tác Ngân hàng Citibank Việt Nam thực hiện thí điểm hoán đổi lãi suất giữa hai đồng tiền từ ngày 1/3/2005 đến 2/2006 Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam thực hiện thí điểm giao dịch quyền chọn lãi suất đối với các khoản đi vay và cho vay trung hạn bằng USD hoặc Euro Ngân hàng HSBC thực hiện giao dịch hoán đổi lãi suất cộng dồn, thời hạn của hợp đồng tối đa là 5 năm Theo thỏa thuận của hợp đồng này, khách hàng vay của HSBC sẽ trả theo Sibor cộng với phần chênh lệch cho những ngày lãi suất Sibor giao động trong một khoảng được định trước Ngân hàng Standard Chartered chi nhánh Việt Nam thực hiện hoán đổi chéo giữa hai đồng tiền (Cross Currency Swap) đối với khoản vay ngoại tệ của khách hàng sau khi khách hàng vay ngoại tệ Ngân hàng Calton, ABN – AMRO thực hiện nghiệp vụ hoán đổi lãi suất bắt đầu thực hiện trong tương lai (Forward Start Swap) là thỏa thuận hoán đổi lãi suất vào một ngày
cụ thể trong tương lai theo một mức lãi suất đã được định trước
Bên cạnh công cụ hoán đổi, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho phép thực hiện thí điểm quyền chọn ngoại tệ (option ngoại tệ/VND) tại một số ngân hàng: NHTMCP Quốc Tế, Ngân hàng ngoại thương (8/2005); NHTMCP Á Châu,
NHDDT&PT, NHTMCP Kỹ thương, NHTMCP Quân Đội (12/2005) Tuy nhiên, qua khảo sát tại một số ngân hàng và chi nhánh ngân hàng trên địa bàn Hà Nội, Hải
Trang 4Phòng, Quảng Ninh, những nơi được đánh giá là có điều kiện để triển khai nghiệp
vụ hoán đổi lãi suất đã cho thấy các công cụ này đã hình thành ở Việt Nam, tuy nhiên còn nhỏ bé và chưa phổ biến
Những số liệu phân tích trên cho thấy, thị trường các công cụ phái sinh phát triển khá khiêm tốn tại Việt Nam, đặc biệt một số NHTM Mặc dù chưa có con số thống
kê chính thức nhưng tổng giá trị các công cụ phái sinh được sử dụng phòng hộ rủi
ro không vượt quá 1% tổng giá trị giao dịch ngoại hối trong các NHTM
* Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này có thể là:
- Do mức độ phát triển của thị trường tiền tệ, thị trường vốn còn thấp, trên thị trường còn thiếu vắng các đội ngũ các nhà quản lý, các giao dịch viên chuyên nghiệp Thực tế, có nhiều NHTM được phép thực hiện quyền chọn ngoại hối từ lâu nhưng đến nay vẫn chưa triển khai được
- Do cơ sở pháp lý các nghiệp vụ phái sinh còn chưa đầy đủ, ngoại trừ giao dịch hoán đổi lãi suất đã có quy chế của ngân hàng nhà nước (Quyết định số
1133/2003/QĐ – NHNN, ngày 30/09/2003 ban hành kèm theo quy chế) Mặc dù hiện nay tất cả các NHTM đều được thực hiện nghiệp vụ quyền chọn ngoại tệ, tuy nhiên chỉ được thực hiện quyền chọn giữa ngoại tệ và ngoại tệ, còn quyền chọn giữa ngoại tệ và VND thì phải được sự cho phép từ phía NHNN
- Các NHTM còn e dè trong thực hiện các nghiệp vụ phái sinh do đây là nghiệp
vụ phức tạp, mức độ nhận thức của chuyên gia cũng như các công cụ kỹ thuật hỗ trợ để thực hiện về nghiệp vụ này còn hạn chế
2.thị trường chứng khoán phái sinh trên thế giới và phương thức xây dựng thị
trường của Việt Nam hiện nay
Nhiều minh chứng cho thấy, thị trường phái sinh (TTPS) tồn tại hàng trăm năm với những thỏa thuận liên quan đến giao dịch thương mại, tài chính Tuy nhiên, thị trường này chỉ thực sự đi vào lịch sử với sự ra đời của Sở giao dịch (SGD) phái sinh tập trung đầu tiên – SGD Chicago - Hoa Kỳ năm 1848 Công cụ này được cải tiến nhằm hoàn thiện 3 chức năng quan trọng của thị trường là: huy động vốn, phân
bổ vốn và phân tán rủi ro
Đến nay TTPS này đang phát triển mạnh mẽ và chưa có một công cụ tài chính nào làm được điều tương tự Theo số liệu thống kê của Liên đoàn các Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK) trên thế giới (WFE), số lượng các hợp đồng phái sinh được giao dịch trên SGDCK năm 2011 là 25 tỷhợp đồng, tăng gấp 2,7 lần so với năm
2004 (9 tỷ hợp đồng); Tốc độ tăng trưởng trung bình giai đoạn 2004-2011 là
Trang 515,5% Con số trên còn lớn hơn rất nhiều nếu tính thêm các hợp đồng phái sinh được giao dịch trên thị trường phi tập trung (OTC)
Các công cụ phái sinh trên chỉ số chứng khoán có những đóng góp hết sức quan trọng Tỷtrọng chiếm 50% trên tổng số hợp đồng phái sinh có tài sản cơ sở (TSCS)
là chứng khoán (8,3 tỷhợp đồng/15,3 tỷhợp đồng năm 2011) và chiếm 33% tổng số lượng hợp đồng phái sinh được giao dịch trên tất cả các loại TSCS gồm: tiền tệ, hàng hóa và lãi suất Trong số 52 SGD thành viên của WFE năm 2012, công cụ phái sinh trên chỉ số chứng khoán là loại sản phẩm được các Sở lựa chọn nhiều nhất Bảng 1 đã cho chúng ta thấy rõ điều đó
Số liệu ở bảng 1 cho thấy, các công cụ phái sinh trên chỉ số chứng khoán đã và đang là xu hướng lựa chọn và là xu hướng phát triển của TTPS thế giới Thống kê
từ nhiều quốc gia trên thế giới, công cụ này là một lựa chọn ưu tiên và là sản phẩm nền móng cho công cuộc xây dựng thị trường chứng khoán phái sinh (TTCKPS) tại nhiều quốc gia
*Việt nam có phương án xây dựng phát triển chứng khoán phái sinh như sau
Về tổ chức, TTCK phái sinh được tổ chức theo hình thức là một đơn vị thuộc
Sở Giao dịch chứng khoán Trung tâm thanh toán bù trừ chứng khoán phái sinh theo mô hình bù trừ đối tác trung tâm được tổ chức dưới hình thức là một đơn vị
Trang 6trực thuộc Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam, là tổ chức duy nhất được thực hiện chức năng đăng ký, bù trừ, thanh toán chứng khoán tại Việt Nam
Về mô hình tổ chức giao dịch, với loại chứng khoán phái sinh giao dịch và tài sản cơ sở, trong giai đoạn đầu, các chứng khoán phái sinh được phép giao dịch tại
Sở giao dịch chứng khoán là các hợp đồng tương lai dựa trên chỉ số TTCK và hợp đồng tương lai dựa trên trái phiếu Chính phủ
Về hệ thống giao dịch chứng khoán phái sinh, hệ thống được vận hành độc lập với
hệ thống giao dịch cổ phiếu, trái phiếu trong hệ thống giao dịch của Sở giao dịch chứng khoán
Về mô hình thanh toán, Trung tâm Lưu ký chứng khoán Việt Nam là tổ chức duy nhất thực hiện chức năng thanh toán bù trừ chứng khoán phái sinh theo mô hình đối tác trung tâm thông qua Trung tâm Thanh toán bù trừ chứng khoán
Thành viên trên TTCK phái sinh gồm: Thành viên giao dịch là các công ty chứng khoán, ngân hàng thương mại đáp ứng đủ tiêu chuẩn quy định; Thành viên thanh toán, bù trừ là các công ty chứng khoán, ngân hàng thương mại đáp ứng yêu cầu là thành viên của Trung tâm thanh toán bù trừ chứng khoán phái sinh
Về giám sát, công tác giám sát TTCK phái sinh bao gồm: Công tác giám sát thực hiện tại UBCKNN, công tác giám sát thực hiện tại Sở giao dịch chứng khoán và Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam UBCKNN giám sát toàn bộ hoạt động của TTCK phái sinh
Theo dự thảo của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước để được môi giới chứng khoán phái sinh, các công ty chứng khoán phải có vốn điều lệ hoặc vốn chủ sở hữu từ 700
tỷ đồng trở lên Nếu vậy, sẽ chỉ có 15 công ty "lọt" qua được tiêu chí này
DANH SÁCH 15 CÔNG TY CHỨNG KHOÁN CÓ VỐN ĐIỀU LỆ TRÊN 700 TỶ ĐỒNG
Trang 73 Những cơ hội và thách thức đối với thị trường chứng khoán phái sinh tại việt nam
Với nhà đầu tư đại chúng, công cụ phái sinh có lẽ còn là khái niệm mới mẻ, nhưng đối với các nhà đầu tư chuyên nghiệp, đây là loại công cụ không thể thiếu trong quá trình đầu tư Ở Việt Nam, chứng khoán phái sinh
a.Cơ hội phát triển
+) Nhu cầu quản lý rủi ro biến động hàng hóa cao
Việt Nam là một trong số những quốc gia dẫn đầu thế giới về xuất khẩu nông sản với danh mục sản phẩm đa dạng từ cà phê, cao su, đến hạt điều, đậu tương, Đặc điểm của các mặt hàng nông sản là sản lượng không ổn định, phụ thuộc nhiều vào thời tiết, giá cả biến động nhanh, mạnh Thực tế kinh doanh nông sản Việt Nam trong những năm vừa qua đã chứng kiến nhiều địa phương, doanh nghiệp (DN) do không ổn định đầu ra nên sản xuất còn tự phát, nông dân bị cuốn vào vòng luẩn quẩn “trồng – chặt – trồng” và “được mùa mất giá, mất mùa được giá” khiến việc lập kế hoạch sản xuất kinh doanh, định giá rất bị động, thu nhập người sản xuất và kinh doanh nông sản đều bấp bênh Ngoài ra, do không có SGD hàng hóa đúng nghĩa và liên thông với thị trường quốc tế nên nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam luôn phải bán dưới giá bình quân thế giới.Những bất cập trên đã cho thấy nhu cầu phát triển thị trường PSHH cho các DN để quản lý rủi ro biến động giá hàng hóa, tạo điều kiện cho các DN và người sản xuất tập trung vào hoạt động kinh doanh cốt lõi với chiến lược phát triển dài hạn và tạo sự bình đẳng cho các DN Việt Nam khi tham gia cuộc cạnh tranh gay gắt với các DN nước ngoài trong thị trường hàng hóa liên tục biến động
+) Nhu cầu phát triển tất yếu trong hội nhập kinh tế thế giới
Nhu cầu phát triển thị trường phái sinh háng hóa cho các DN càng được hỗ trợ mạnh trong bối cảnh kinh tế Việt Nam đang hội nhập sâu rộng và đa dạng vào nền kinh tế thế giới
Trên thế giới thị trường phái sinh hàng hóa đã phát triển từ thế kỷ 19 và đang ngày càng tăng trưởng do giới đầu tư chuyển hướng và nâng tỷ trọng của hàng hóa trong danh mục đầu tư khi nhận thấy sự mất cân bằng cung cầu trên thị trường hàng hóa và giao dịch hàng hóa trở nên dễ dàng hơn với mọi đối tượng Về quy
mô, khối lượng hàng hóa giao dịch đã tăng mạnh qua các năm, nhất là giai đoạn từ năm 2008 tới 2010 đã tăng khoảng 50% so với 3 năm trước đó Giá trị giao dịch tương lai hàng hóa cũng tăng gấp đôi từ năm 2008 tới 2010 khi đạt 380 tỷ USD
Trang 8b Thách thức
+) Thiếu hành lang pháp lý về thị trường phái sinh hàng hóa
Hiện nay, hệ thống văn bản pháp luật về thị trường PSHH còn nghèo nàn, thiếu tính rõ ràng và chi tiết để hướng dẫn các chủ thể tham gia thị trường Các SGD hàng hóa ở Việt Nam hiện nay đều chưa đạt chuẩn, lỏng lẻo về cơ sở pháp lý
và thể lệ hoạt động nên nguy cơ bất ổn và xảy ra tranh chấp là khó tránh khỏi Trong khi thị trường PSHH tại các nước khác đều nhận được sự hỗ trợ phát triển của Chính phủ thì tại Việt Nam chưa có một hành lang pháp lý đầy đủ để khuyến khích và hỗ trợ các SGD/ngân hàng phát triển thị trường cũng như bảo vệ nhà đầu tư thông qua các quy định về ký quỹ, bảo lãnh, hỗ trợ thanh toán hoặc các biện pháp quả lý rủi ro khác
+) Quan niệm chưa phù hợp về “lỗ” trên thị trường PSHH
Khi tham gia giao dịch trên thị trường PSHH, người bán và người mua dựa vào dự đoán về xu hướng giá hàng hóa trong tương lai để cố định giá trước tại thời điểm hiện tại Trong khi đó việc dự đoán xu hướng giá trong tương lai có sác xuất đúng/sai nên việc tham gia vào thị trường PSHH có thể rơi vào trạng thái lãi hoặc lỗ Với các tổng công ty lớn thuộc khối DN Nhà nước, việc lỗ từ hoạt động giao dịch hợp đồng tương lai có thể bị kết luận là lỗ do “đánh bạc” trên thị trường Quan niệm này khiến việc thuyết phục các tổng công ty lớn thuộc khối DN Nhà nước – đối tượng khách hàng có nhu cầu quản lý rủi ro giá cả hàng hóa lớn tham gia vào thị trường PSHH có khả năng gặp khó khăn
+) Thị trường non trẻ, thiếu nhà đầu tư kinh nghiệm
Từ những bước phát triển đầu tiên của SGD hàng hóa tại Việt Nam vào năm
2002 (SGD điều của Hiệp hội điều Việt Nam ở TP.HCM và SGD thủy sản Cần Giờ của Công ty chế biến thủy sản Cholimex), đến nay với bề dày gần 10 năm phát triển, so với thế giới, thị trường PSHH Việt Nam vẫn là một thị trường non trẻ và thiếu những nhà đầu tư kinh nghiệm
+) Thị trường hàng hóa cơ sở chưa phát triển
Thị trường hàng hóa cơ sở phát triển là nền tảng cho thị trường PSHH Tuy nhiên, dù là một nước có sản lượng nông nghiệp dồi dào, nhưng thị trường hàng hóa cơ sở Việt Nam chưa thực sự phát triển Về phía cung: sản xuất nông nghiệp còn tự phát; về phía cầu: sản phẩm nông nghiệp phần lớn được xuất khẩu và phụ thuộc rất nhiều vào giá trên thị trường thế giới
Trang 9+) Thói quen, tập quán kinh doanh chưa phù hợp với thông lệ giao dịch tập trung trên sàn
Thói quen và tập quán kinh doanh là những cản trở lớn đối với việc phát triển thị trường PSHH tại Việt Nam Việc triển khai chưa thực sự thành công của SGD thủy sản Cần Giờ và SGD cà phê Buôn Mê Thuột có nguyên nhân chính do nông dân quen với việc mua bán trực tiếp với thương lái hơn là qua sàn, chưa tiếp cận được với máy tính, công nghệ thông tin
• Kết luận: Tuy vẫn còn khá nhiều yếu tố cản trở sự phát triển của thị trường PSHH tại Việt Nam, nhưng sự phát triển của thị trường PSHH tại Việt Nam được hậu thuẫn bởi nhu cầu quản lý rủi ro biến động giá hàng hóa cao và bởi việc phát triển thị trường PSHH là bước phát triển tất yếu khi Việt Nam học hỏi các thông lệ quốc tế và thực hành tốt nhất trong quá trình hội nhập với nền kinh tế toàn cầu
Với mục tiêu góp sức vào việc tháo gỡ những khó khăn và đẩy mạnh các mặt thuận lợi trong quá trình phát triển thị trường PSHH tại Việt Nam, tác giả bài viết đề xuất một số kiến nghị để Nhà nước, các nhà cung cấp sản phẩm PSHH (các ngân hàng, SGD) và người sử dụng sản phẩm PSHH (các DN xuất khẩu) cùng suy nghĩ và triển khai./
III.Những đánh giá và biện pháp để giải quyết những khó khăn hiện nay của chứng khoán phái sinh tại việt nam
Việc xây dựng và phát triển TTCK phái sinh là một yêu cầu tất yếu trong quá trình phát triển của thị trường tài chính Hiện nay, TTCK Việt Nam cũng đã manh nha hình thành những sản phẩm phái sinh như quyền mua cổ phần, quyền chọn, margin (trong đó, chỉ có sản phẩm margin được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước - UBCKNN lưu hành)
Tuy nhiên, để có thể xây dựng một TTCK phái sinh được chuẩn hóa, đòi hỏi phải mất nhiều thời gian từ khâu xây dựng khung pháp lý, thể chế, hệ thống cho đến công nghệ và đặc biệt là quản trị, vì đây là một thị trường phức tạp và rủi ro đối với cả nhà quản lý lẫn người tham gia thị trường Do vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu các giải pháp là việc làm cần thiết Cụ thể như sau:
Trang 10Một là, hoàn thiện hệ thống pháp lý song song với việc ban hành một số chính sách khuyến khích phát triển thị trường
Đối với hầu hết các TTCK cơ sở, sự hình thành và phát triển của chúng là do nhu cầu của xã hội và thông thường sự ra đời của chúng được hình thành trước khi có
sự ra đời của một hệ thống khung pháp lý hoàn thiện Tuy nhiên, do TTCK phái sinh là TTCK bậc cao và vận hành dựa trên nền tảng các công cụ phòng vệ mang tính đòn bẩy, tỷ lệ ký quỹ thấp, các hoạt động đầu cơ, làm giá có thể gây lũng đoạn thị trường cũng như tạo ra nhiều rủi ro tiềm ẩn cho hệ thống tài chính Do đó, để xây dựng một TTCK phái sinh phát triển bền vững, an toàn, lành mạnh, nhất thiết phải tạo lập một khung pháp lý cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành một cách
rõ ràng, chặt chẽ, toàn diện Đây là một yêu cầu thiết yếu cho việc hình thành và phát triển thị trường này
VD: Một trong những quốc gia đã xây dựng TTCK phái sinh thành công là Singapore TTCK phái sinh tại Singapore đã được hình thành và phát triển từ năm
1984 với việc thành lập thị trường trao đổi tiền tệ quốc tế Singapore Ngay từ khi mới thành lập, các nhà quản lý thị trường đã có một quyết định hợp lý khi cho phép TTCK phái sinh Singapore được liên thông với thị trường Chicago – TTCK phái sinh có lịch sử lâu đời nhất và phát triển nhất trên thế giới Theo đó, nhà đầu tư được cho phép giao dịch giữa 2 thị trường mà không tốn chi phí nào Quy định này
đã thu hút nhiều nhà đầu tư tham gia thị trường trong thời gian đầu thành lập, tạo lập nền tảng giúp TTCK phái sinh tại Singapore phát triển nhanh và bền vững Bên cạnh đó, điều kiện tham gia thị trường cũng được quy định cụ thể cho từng nhóm đối tượng, chẳng hạn:
+ Đối với thành viên giao dịch là cá nhân: phải là một nhà kinh doanh phái sinh chuyên nghiệp, có đầy đủ kiến thức, hiểu biết về chứng khoán phái sinh, không yêu cầu vốn tối thiểu
+ Đối với thành viên thanh toán: phải có mức vốn tối thiểu 5 triệu đô la
Singapore, có giấy phép cung cấp dịch vụ thị trường vốn và đáp ứng những chuẩn mực tài chính cao nhất
Từ năm 2004, Singapore bắt đầu đưa thêm quyền chọn cổ phiếu vào giao dịch
và tiếp tục gặt hái nhiều thành công Nguyên nhân là bởi Singapore đã đưa ra nhiều
cơ chế chính sách nhằm tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư như: (i) Thay thế hệ thống khớp lệnh tại sàn bằng hệ thống giao dịch điện tử trực tuyến, (ii) Miễn yêu cầu về cáo bạch, (iii) Giảm bớt các tiêu chuẩn niêm yết quyền chọn …